Eventfulday's Blog

Kỳ 9 – Năm năm nối tiếp (3)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 9

HỒI HAI – Hà nội

II Năm năm nối tiếp (3)

Chúng tôi sắp về thì chị Trần thuý Hạnh cũng đến. Chị Hạnh cùng làm tổ hợp tác, rất thân với chị Bích Hằng. Năm ấy, chị đã ngoài ba mươi tuổi, mảnh đời xuân của chị Hạnh như một bông hoa để dần tàn héo, không dành cho ai. Nhân thể chị cũng ôn lại những diễn biến của cuộc đời và gia đình chị:

Chị đang sống hạnh phúc trong mái ấm tình thương thì năm 1951, mẹ chị mắc bệnh qua đời. Năm 1953, thân phụ chị lấy một người vợ kế, chị không dám phản đối người nhưng than phiền về cái đạo đức bất hảo của người dì ghẻ. Cô ta là gái đã có chồng, năm 1948 bộ đội đóng quân ở làng, nhân ngày chồng đi vắng, cô ta mời một anh bộ đội trẻ tuổi hơn mình về nhà và nói:

– Hôm nay, chồng em đi vắng, em coi anh như chồng anh. Vậy đêm nay, anh ngủ với em để thể hiện tình quân dân cá nước.

Nghe nói, anh bộ đội sợ, bỏ chạy. Từ đó, có tiếng đồn, gái làng này bắt cóc bộ đội làm tình. Khi về nhà, người chồng biết chuyện đã li dị vợ.

Gia đình cô ta có một vườn mía rộng. Một buổi trưa, cô ta gọi cháu trai con người anh ruột ra vườn ăn mía. Năm ấy, cháu trai mới mười sáu tuổi. Sau khi ăn chán mía, cháu định về thì cô giữ lại, tự lột hết quần áo mình, ôm lấy cháu bắt làm tình. Lúc đầu cháu sợ nhưng sau ít giây lưỡng lự, cháu cũng ưng thuận chiều cô. Ăn vụng quen mồm, cứ đến buổi trưa hai cô cháu lại rủ nhau ra vườn mía. Người chị dâu biết tính em gái chồng, tiến hành theo dõi đã bắt được quả tang cuộc bướm hoa. Đó là hai hiện tượng đặc biệt, còn những chuyện dâm ô khác thì nhiều lắm. Dân làng đặt cho cô cái tên là con quỷ cái. Chẳng hiểu sao, thân phụ chị quyết định lấy cô ta, bỏ qua những lời khuyên can của chị và dư luận bên ngoài. Khi về nhà chị, cô ta tìm mọi cách để hành hạ con chồng, nhất là hai em trai của chị còn ít tuổi: đứa lên chín, đứa lên mười.

Không chịu đựng nổi cuộc sống dì ghẻ, con chồng, chị bỏ quê hương lên Hà nội buôn bán và có ý định đưa cả hai em nhỏ đi theo.

Mùa hè năm 1955, chị định về quê thì gặp người làng lên chơi, nói:

– Chị đừng nói nữa, hiện nay bác trai bị quy lên địa chủ và phản động. Còn dì ghẻ đã bỏ nhà và trở thành cốt cán. Chị về, nếu họ bắt được không thoát nạn đâu…

Chị vừa đau khổ, vừa thắc mắc gia đình chị lên địa chủ ở chỗ nào? Chỉ có một mẫu tư điền ông bà để lại, nhà tự làm lấy, không thuê mướn người làm, không phát canh, thu tô. Mặt khác, thân phụ chị hiền lành, ngoài họ hàng thân thích, không quan hệ với ai, đêm ngày chỉ vùi đầu vào công việc thì phản động ở đâu?

Hơn một tháng sau, chị được tin sét đánh ngang tai, thân phụ chị bị bắn, nhà cửa bị tịch thu toàn bộ. Cái chết của người chủ yếu do mụ dì ghẻ vu oan giá hoạ. Trước cảnh đau thương đó, chị phải về quê tìm hai em nhỏ. Tuy nhiên đến chín mười giờ đêm chị mới dám vào làng. Chị đến nhà ông bác ruột, tức khắc bác đuổi đi:

– Nhà tao không quan hệ gì với con tên phản động.

Dưới ánh trăng mờ, chị lặng lẽ khóc, thất thểu đi trên đường làng và thầm nhủ:

– Các em ơi, chị đang đi tìm, bây giờ các em ở nơi đâu?

Đường ra cánh đồng, có một cây đa to, theo linh tính chị đến gốc đa này, thấy hai đứa trẻ quần đùi, áo may ô rách bươm, ôm nhau dựa vào gốc cây đang ngủ. Chị ghé sát vào mặt chúng mới nhận ra hai đứa em mình. Chị đập vào người chúng và gọi:

– Các em ơi, chị Hạnh đây.

Đứa lớn bừng tỉnh, hoảng hốt kêu lên:

– Con lạy bà, lạy bà cho chúng con ngủ nhờ.

Xót xa và xúc cảm quá, chị ôm lấy hai em khóc:

– Các em ơi, chị Hạnh của các em đây, có bà nào đâu?

Nhận ra chị, hai đứa khóc thảm thiết nhưng chúng chẳng dám khóc to. Chị nói với chúng:

– Các em ơi, đừng khóc nữa, hãy theo chị đi ngay khỏi nơi này, không thì nguy hiểm.

Cả đêm, ba chị em đi miết đến thị xã mới dám nghỉ chân, trời cũng vừa sáng. Sau khi vào cửa hàng ăn uống, hai em vừa khóc vừa kể lại:

– Dì đi theo một ông cốt cán mấy ngày thì gia đình ta bị quy lên địa chủ và phản động. Ngày bắt bố dì cũng đến lục soát, tìm kiếm mọi thứ đưa vào buồng khoá lại, niêm phong. Còn giành khoai ở góc hè, chúng em xin dì để luộc ăn thay cơm thì dì quát:

– Ai cho con tên phản động, phải cho chúng mày chết theo thằng Cẩn. Dì còn nói thêm:

– Từ nay, tao không dì con gì với chúng mày, phải gọi tao là bà, nghe chưa?

Không có gì ăn, chúng em bảo nhau ra đồng móc cua, mò ốc đem ra chợ bán để mua khoai, có hôm mua được bảy tám lạng, hôm được hơn cân. hôm họ bắn bố, tịch thu tài sản và đuổi chúng em ra khỏi nhà, chúng em đang mặc bộ quần áo mới chị cho dịp tết, dì bắt phải cởi ra rồi quẳng cho mỗi đứa cái quần đùi, chiếc áo may ô rách. Chúng em rủ nhau đến nhà bác, nhà cô đều bị đuổi. Bác và cô còn bảo, không ai dám chứa con tên phản động. Chúng em đành phải đến gốc đa ngủ ban đêm. Có lần dì đi qua, nhìn thấy dì quát:

– Gốc đa của ông bà nông dân, ai cho chúng mày được ngủ ở đây?

Chúng em khóc lóc van xin mãi dì mới bỏ qua. Hằng ngày chúng em tiếp tục móc cua, mò ốc bán được trăm nào phải mua khoai luộc vì gốc đa có gì đâu mà nấu nướng? Chúng em cơ cực lắm chị ơi.

Bố bị bắn sau một tuần, có một bà già ở chợ, chúng em không quen, nói nhỏ:

– Các cháu phải mua hương thắp và đắp mộ cho bố chứ!

Hôm ấy chúng em bán cua và ốc đáng nhẽ mua được hơn một cân khoai nhưng bảo nhau mua hương đem đến mộ bố. Vài ngày trước mưa to, mộ bố lún xuống thành một hố nước hình chữ nhật. Mai cuốc chẳng có, chúng em ra bờ ruộng móc đất đắp vào mộ bố, nhưng mới được mấy hòn thì dì và một ông cốt cán đến, quát:

– Chúng mày to gan thật, ai cho đắp mộ cho tên phản động?

Dì ném bó hương xuống ruộng rồi cùng ông cốt cán bắt chúng em về điếm trói lại, giam đến tối mới tha.

Cuộc sống dưới gốc đa, ăn khoai luộc, uống nước lã được hai tuần bình an vô sự. Đến một hôm, chúng em bắt được đầy giỏ cua, lưng rổ ốc, hai đứa bảo nhau, hôm nay sẽ bán được nhiều tiền hơn, phải mua bánh tẻ ăn cho đỡ nóng ruột thì lại gặp dì. Dì nói:

– Cua ốc ngoài đồng là của
ông bà nông dân, ai cho phép chúng mày được bắt?

Nói xong, dì đổ cua ốc xuống sông, giẫm nát cái giỏ và cái rổ. Dì còn doạ:

– Từ rày còn bắt cua ốc nữa, tao sẽ trói vào cột điếm cho đến chết.

Từ hôm đó, hai anh em bàn nhau đi ăn xin ở thật xa, vì có xin ở gần cũng chẳng ai dám cho. Xin được cơm hay cái gì chín thì ăn ngay. Ai cho gạo, chúng em cởi áo may ô dúm lại mang đi, được nhiều, mang ra chợ bán hoặc đổi khoai luộc, bánh.. Hôm nay, chúng em xin được nhiều cơm ăn no, còn gạo mang theo về gốc đa. Buổi tối, dì xách đèn đi qua, lục soát thấy gạo, dì tuyên bố tịch thu. Dì còn bảo:

– Ông bà nông dân làm ra thóc gạo, ai cho phép chúng mày được ăn. Em xin mãi, dì mới trả cái áo may ô gói gạo…

Trước hoàn cảnh ấy, chị quyết định sống cô đơn để trông nom, chăm sóc hai em nhỏ. Điều khó xử là khi ấy chị đã có người yêu. Buổi chia tay đã diễn ra nhiều nước mắt. Chị nói:

– Hiện nay, em phải chịu tang thân phụ em và lâu dài em phải nuôi hai em nhỏ. Không còn con đường nào khác, anh cho phép em được cắt đứt quan hệ với anh.

– Anh sẽ đợi em đến ngày đoạn tang thân phụ – anh ấy nói – còn hai em nhỏ, anh sẽ coi chúng như các em mình. Anh không thể xa em.

– Cảm ơn anh, em biết hiện tại vì tình yêu, anh có ý nghĩ vô cùng cao thượng. Nếu chúng ta thành vợ chồng phải có con mà cuộc sống đầy những khó khăn. Đến lúc đó, anh sẽ oán trách em là người vợ đoảng. Đối với các con, em là người mẹ thiếu tình thương, đối với các em dại, em là người chị thiếu trách nhiệm. Tình yêu thương của chúng ta dù có rộng bao la nhưng đời sống của xã hội lại chật hẹp, bon chen không cho phép. Anh hãy quên em đi, đừng thương yêu em nữa, cánh cửa tương lai đang mở rộng trước cuộc đời anh.

– Anh coi em như một người bạn được không?

– Cả điều đó cũng không nên anh ạ. Mỗi lần thấy anh là hình ảnh quá khứ đắng cay sống lại. Do vậy, anh cứ coi em như người xa lạ, chưa gặp bao giờ. Lưu luyến đứa con gái quê mùa, bất hạnh này làm gì nữa để cả hai đều vấn vương, đau khổ?…

Mỗi lần nghĩ đến chị Hạnh, tôi lại thấy tủi hổ về người chị ruột của mình. Tôi đã gặp hai người đàn bà có tên là Hạnh và đều có hạnh. Chị Trần thuý Hạnh đã hy sinh hạnh phúc của đời mình để cứu vớt hai em nhỏ, chị là tấm gương về tình thương cao cả. Tuy nhiên, chị không được xã hội công nhận là người có hạnh. Còn cô Hạnh đấu tố bố hồi cải cách như Phan Lung, bạn học tôi đã tường thuật lại, là tấm gương sáng chói về đạo đức cách mạng.

* *
*

Năm ấy, bác Vũ thị Hiền bốn mươi nhăm tuổi dáng người thanh nhã, lịch thiệp. Xưa kia, bác là cô gái bán hoa Ngọc Hà. Chồng bác Hiền, bác Lê ngọc Văn là thày dạy Anh ngữ trường Bưởi.

Sau năm 1954, bác Văn là giáo viên lưu dung vẫn dạy ở trường cũ. Đến năm 1960, nhà nước ra chính sách lương thống nhất. Vài lần bác Văn làm đơn xin hạ thấp lương như trí thức cách mạng chưa được chấp nhận, bác làm đơn xin nghỉ việc. Năm 1961, bác Hiền cũng phải bỏ nghề buôn bán, vào làm tổ hợp tác này, kinh tế mỗi ngày một sa sút, thiếu thốn.

Vợ chồng bác Hiền có hai đứa con: một trai – Hưng hai mươi tuổi, học hết lớp bảy thì bỏ để học nghề tại nhà máy cơ khí Hà nội; một gái – Nga mười lăm tuổi, đang học lớp tám cũng phải bỏ để học nghề vì hoàn cảnh khó khăn. Cả tổ hợp tác, ai cũng gán ghép tôi là con rể tương lai của bác Hiền. Bác Hiền cũng nửa đùa, nửa thật hỏi:

– Cháu muốn làm rể bác không?

– Cảm ơn bác, cháu không dám.

– Tầng lớp cùng đinh cả, tại sao lại không dám?

– Thưa bác, cháu không được ở vị trí phó thường dân mà là kẻ khốn cùng của xã hội.

Cuối mùa xuân năm 1962, tôi đến nhà bác Hiền ở trước vườn hoa hàng Đậu, trên gác. Nhìn tấm hình chụp cả người Nga treo trên tường, tuy thân thể chưa phát triển nhưng Nga là một thiếu nữ xinh đẹp: cặp mắt bồ câu, cổ cao, khuôn mặt trái xoan duyên dáng. Bác Văn có dáng người cao lớn như Tây, tuổi chưa đầy năm chục, mái tóc đã hoa râm, trên trán hằn lên những nếp nhăn sâu và đậm, cặp mắt tinh nhanh, vẻ mặt phảng phất một nỗi buồn man mác.

– Đây là cháu Tâm cùng làm với tôi, ông ạ – Bác Hiền giới thiệu với chồng.

– Cháu ngồi chơi – Bác Văn nói – bác được nghe bác gái nói nhiều về cháu. Là một giáo viên, bác biết những người thông minh như cháu thì hiếm lắm, rất tiếc là chẳng hợp thời.

Như chợt nhớ ra, bác Văn hỏi:

– À, việc làm ở tổ hợp tác đang ổn định, liệu có được lâu dài không, cháu?

– Thưa bác, cháu cho là xã hội này chỉ có khó khăn, thiếu thốn mới lâu dài, còn việc làm ổn định là tạm thời thôi.

– Gia đình bác hiện nay, bác gái là lao động chính. Nếu việc làm lại thất thường, lương không có như trước thì gay go lắm.

– Bác là một trí thức, không hiểu thời thế hay sao mà năm 1954 không đi Nam?

– Bọn trí thức chúng tôi như bầy cừu non về chính trị. Cứ tưởng… thế mới khổ. Chiếc bánh vẽ thơm ngon đang được quảng cáo rùm beng ở miền Nam, đến thời gian nào đó người Sài Gòn cũng nói cứ tưởng… như chúng tôi. Con người mắc nhiều sai lầm đều có thể sửa được nhưng mắc bệnh ngây thơ về chính trị thì chỉ một lần thôi, nếu chữa khỏi bệnh này phải chờ ngày về cõi. Tôi còn nhớ trí thức Hà nội nghe ông Đồng nói chuyện tại nhà hát nhân dân sau ngày tiếp quản:“Tôi thay mặt đảng và chính phủ hoan nghênh các đồng chí có tinh thần yêu nước, không đi Nam. Các đồng chí ở lại xây dựng đất nước, ai làm việc gì vẫn giữ nguyên cương vị đó. Hiện nay, các đồng chí tạm hưởng mức lương của đế quốc trả. Tôi khẳng định rằng, đây là đồng lương mạt hạng của đế quốc. Đất nước ta hiện nay còn nhiều khó khăn, các đồng chí tạm thời hưởng mức lương mạt hạng đó. Sau này, khi kinh tế đất nước phát triển, lương của các đồng chí phải tăng gấp hai ba lần hiện nay…”

Nói xong, ngài phó thủ tướng lấy khăn mùi xoa lau nước mắt cá sấu tỏ tình thương… Tưởng thật lòng, bọn trí thức chúng tôi thi nhau rơi lệ.

Cũng trong buổi nói chuyện đó, giờ giải lao, ngài tổng bí thư Trường Chinh rẽ đám đông đến ôm hôn cụ đồ nho đã dạy ngài học tiểu học ở làng Hành thiện. Ngài nói:“Thày tha lỗi cho con, vì bận việc nước lâu nay con không đến kính thăm thày…”

Một lần nữa, chúng tôi lại thi nhau rơi lệ vì cảm động. Rồi năm sau. chinh cái nhân vật tỏ vẻ đầy nhân nghĩa ấy, dưới quyền quyết định của ông Hồ, là đạo diễn tấn thảm kịch thời kỳ cải cách. Và là tấm gương chói lọi để cấp dưới noi theo về lập trường cách mạng, ngài đã ra lệnh bắn chú ruột mình.

Thời kỳ họ điều chỉnh lại lương cho công chức lưu dung xuống như lương của cán bộ cách mạng. Có người viết hàng chục lá đơn vẫn không được chấp nhận. Bác viết hai lần, họ trả lời phải để nghiên cứu, bác viết tiếp lá đơn xin thôi việc. Thế là xong. Nhiều người bảo bác không thức thời. Nhưng đến lúc này mới thức thời thì đã muộn, cái bất hạnh đến vẫn không thể tránh. Nhiều công chức ngoan ngoãn phục tùng, có người cúc cung tận tuỵ, cũng đã lên đường vào trại tập trung.

Cách đây ba năm, bác đọc quyển chuyên chính vô sản của Lenine. Đây là lần đầu bác đọc sách chính trị. Sách có đoạn viết với nội dung sau:“Sau khi giai cấp vô sản nắm được chính quyền, chúng ta chưa quen biết việc quản lý nhà nước nên tạm thời thuê những trí thức tư sản với tiền lương rất hậu. Sau đó, chúng ta tống cổ chúng ra khỏi bộ máy nhà nước. Nếu chúng có hành vi chống lại, chúng ta sẽ cắt điện, cắt nước, cắt bánh mỳ, thậm chí đưa chúng vào nhà giam..”

* *
*

Nói chung những người trong tổ hợp tác này đều rơi vào cảnh bị xã hội cướp mất kế sinh nhai nên họ yêu thương và thông cảm với tôi. Đang lúc việc làm ổn định, tiền công tăng dần thì ông tổ trưởng đi họp ở ban liên hợp tác xã khu về phổ biến:

– Chủ trương của trên, tổ hợp tác này phải sáp nhập với bốn tổ hợp tác nữa để thành lập hợp tác xã cấp cao. Ông cho biết thêm:

– Làm và hưởng theo sản phẩm của tổ hợp tác ta là không đúng với đường lối của đảng. Cách làm ăn ấy chạy theo lợi nhuận là nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sắp tới, xã viên được quy định lương hàng tháng theo tay nghề. Người làm tốt, cuối năm được bình bầu là lao động tiên tiến.

– Làm ra nhiều sản phẩm không được thêm, nhưng được ít sản phẩm thì sao? – Tôi hỏi:

– Nếu ít sản phẩm không đủ lương phải trừ theo tỉ lệ phần trăm.

– Sách báo thường tuyên truyền, chủ nghĩa xã hội, làm tuỳ sức, hưởng tuỳ tài, tại sao làm ra nhiều sản phẩm không được hưởng nhiều?

– Cái mâu thuẫn ấy tôi cũng chịu, cậu lên khu mà hỏi.

– Làm nhiều, làm tốt không được hưởng thêm – Khoa nói – Cuối năm, lấy mảnh giấy công nhân lao động tiên tiến gặm ra mà ăn thêm. Hay quá, chủ nghĩa duy vật mà bắt con người ăn những món ăn tinh thần: lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua rồi anh hùng lao động để cải thiện đời sống. Thưa các bác, các chị chúng ta tiến lên hợp tác xã cấp cao, rồi xí nghiệp địa phương để mức sống của mình tăng dần theo cấp số cộng với công sai là một số âm. Như các nhà máy, công nông trường, chúng ta sẽ làm theo cái khẩu hiệu ai cũng thuộc lòng, hàng ngày phải nghe trên đài, loa phóng thanh làm cái tai nhức nhối như bị tra tấn:“Để lấy thành tích chào mừng ngày…”.

Ngoài ông tổ trưởng, không ai có nghề nghiệp gì gọi là kim khí hay cơ khí nếu quy định lương theo tay nghề thì sống sao được? Cả tổ, ngoài tôi và Khoa đều lần lượt bỏ trước khi sáp nhập.

Hợp tác xã mới có văn phòng ở hàng Mã. Tôi và Khoa chuyển sang phân xưởng làm long đen và móc cáp cho bưu điện. Sau vài tháng sáp nhập, ban quản trị hợp tác xã mâu thuẫn, chia rẽ, bè phái. Họ cần sự liên minh của xã viên để đấu đá lẫn nhau do vậy tôi và Khoa được xếp vào mức lương sáu mươi đồng một tháng. Nói cho đúng, bậc lương không phải chỉ trả theo tay nghề mà có cả công thuê những tên lính xung trận trong cuộc đấu tranh nội bộ vì quyền lợi riêng tư của từng thành viên trong ban quản trị. Họ không biết rằng, tôi không bao giờ a dua, theo đóm ăn tàn mà chỉ hành động theo lẽ phải và đấu tranh để bảo vệ chân lý.

Tổ hợp tác làm hợp đồng cho tổng cục bưu điện trước ngày sáp nhập, tiền lương cao gấp hai ba lần theo quy định. Họ làm theo sản phẩm đúng với câu“làm tuỳ sức, hưởng tuỳ tài”. Trong thời gian đó được gọi là thời kỳ hoàng kim của hợp tác xã, các cô, các cậu xã viên tiền xúng xính. Sau khi thành một phân xưởng của hợp tác xã cấp cao, lương của họ tụt xuống nhiều lần, mặc dù còn thừa tiền phải nhập vào quỹ của hợp tác xã gửi ngân hàng để nhà nước quản lý.

Để đối phó với sự thiệt thòi đó, ông Dần – phân xưởng trưởng bàn với tôi:

– Mồ hôi, công sức đổ xuống sông, xuống biển thì phí quá, tôi nhờ anh mỗi tháng làm một bản lương giả đưa lên ban quản trị.

Nhờ vào việc giả mạo này mà hàng tháng rút ra được hàng nghìn đồng. Ông Dần cho phân xưởng ăn liên hoan một phần, còn lại bao nhiêu ông ta có ý định chiếm đoạt. Sáu tháng cuối năm 1962, số tiền ước tính khoảng sáu nghìn đồng trong túi ông Dần. Không chấp nhận sự bất công, tôi yêu cầu phải chia cho mọi xã viên trong phân xưởng. Ông ta phản đối:

– Việc này, tôi làm, tôi hưởng, nếu bị phát hiện tôi chịu tội. Riêng anh có quyền lợi xứng đáng, còn lại là của tôi.

– Đây là công sức chung, do cơ chế của nhà nước mà họ bị thiệt thòi. Bác đề ra sáng kiến này, riêng bác có quyền lợi cao hơn, còn lại bác nên chia đều.

Ông Dần khăng khăng từ chối. Do vậy, tôi và Khoa làm đơn đề nghị khu giải quyết. Một cuộc họp phân xưởng hơn bốn chục người tham gia để tranh cãi về việc đó. Tôi không ngờ đấu tranh chống lại bất công mà hai đứa chúng tôi bị cô lập. Đại bộ phận đều im lặng hoặc bênh vực ông Dần. Và cuối cùng là sự bất công đã chiến thắng.

Họp xong, một bác già ở Cầu Diễn nói với tôi:

– Tôi tưởng cậu có học sao mà ngu thế?

– Đấu tranh chống lại bất công mà ngu à bác?

– Có phải cậu chống lại bất công đâu, cậu thay đổi từ một sự bất công này bằng một sự bất công khác mà thôi. Nếu cậu thắng ông Dần thì số tiền trong túi ông Dần sẽ chuyển lên khu, vào ngân hàng nhà nước, chẳng ai được gì cả.Vì vậy tôi đã vận động mọi người trong phân xưởng không đồng tình với cậu.

Bác già tiếp:

– Bất công, vô lý là bản chất của chế độ này, tại sao cậu dám đấu tranh cho lẽ công bằng, có khác gì múc nước đổ ra sông, hơn nữa mua vạ vào thân? Hôm thao diễn kỹ thuật và năng suất, nhiều người làm như điên như dại để lấy tiếng khen, lấy thành tích hão, tôi cho là một lũ ngu, mắc lừa sự ph
ỉnh phờ của họ. Các cơ quan ký hợp đồng với hợp tác xã mình lấy đó làm mốc để hạ giá thành sản phẩm. Tôi hỏi cậu, cái máy cơ khí còn hỏng hóc huống chi con người, có thể làm điên dại hết ngày này qua tháng khác được không?

Phải nói thật là nhà nước họ chỉ muốn vắt kiệt sức lao động chứ chẳng bao giờ quan tâm đến đời sống người dân. Con người phải ăn để sống chứ không thể nhịn đói mà ngắm bằng khen lao động xuất sắc hay tiên tiến. Quả thực họ muốn năng suất lao động cao, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao mức sống người dân thì họ phải ưu tiên sử dụng và đào tạo những nhân tài để khoa học và kỹ thuật phát triển, thay sức lao động của con người. Ngược lại, họ sử dụng những kẻ ngu trong cấp lãnh đạo – những kẻ ngu có quyền, có chức mới một lòng, một dạ đi theo đảng mới đội ơn cách mạng. Bất công vàvô lý là mảnh đất mầu mỡ cho cái ngu nảy mầm và phát triển, cậu là cái thá gì mà dám chống lại bản chất của chế độ hiện nay?

– Thưa bác – Tôi nói – bác đã dạy cho cháu một bài học nhớ đời, cháu chân thành cảm ơn bác.

Nửa tháng sau, khi hết giờ làm việc, ông Dần đang đóng cửa, tôi đi qua bị ông Dần làm rơi thanh sắt cài then cửa vào đầu, máu chảy ra xối xả. Ông Dần vội cõng tôi ra bệnh xá phố hàng Lược. Băng bó xong, tôi lên xích lô về nhà. Tối hôm đó nhiều người cùng làm đến thăm, tôi không ngồi dậy được vì máu ra nhiều, chóng mặt. Ai cũng khuyên tôi kiện ông Dần cố ý trả thù, bắt bồi thường. Tôi từ chối vì cho rằng đây là sự vô ý của cả hai người. Tôi nói:

– Một hiệp sĩ không bao giờ chém kẻ thù ngã ngựa, một kẻ có lương tâm không thể vu oan cho người vì sự cố bất ngờ.

Vài ngày sau, ông Dần cũng đến thăm tôi và hỏi:

– Anh không kiện tôi cố ý trả thù anh chứ?

– Không bao giờ!

– Nếu thế, tôi bồi dưỡng anh hai trăm đồng.

– Việc này không nên thanh toán với nhau bằng tài chính hãy để cho mỗi tâm hồn nuôi dưỡng và phát huy tính trung thực và lòng độ lượng.

Ông Dần siết chặt tay tôi và cảm tạ.

* *
*

Sang năm 1963, giá thành các mặt hàng hợp tác xã làm gia công cho nhà nước hạ xuống nhiều lần, tiền lương của xã viên thấp quá không sống nổi. Song song với việc đó, chính sách vận động người đi kinh tế miền núi bắt đầu, việc làm trong các hợp tác xã bị cắt xén còn rất ít. Những người thuộc diện ra khỏi thành phố là không làm trong cơ quan nhà nước, việc làm không ổn định, riêng các gia đình nguỵ quân, nguỵ quyền phải về quê hương cũ. Tháng ba năm 1964, trong báo cáo chính trị của ông Hồ có câu:“phải làm Hà nội trong sáng như pha lê”. Chính sách này gây ra bầu không khí lo lắng, sợ hãi bao trùm cả thành phố trong hai năm 1963 – 1964. Câu nói của ông Hồ làm cuộc vận động trở thành một chiến dịch cưỡng bức di dân. Nếu không có cuộc chiến tranh bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc thì hậu quả “mang con bỏ chợ” đi đến đâu không ai lường được? Tuy nhiên đã có hàng vạn gia đình phải bỏ thành phố ra đi sống vất vưởng trong các miền rừng núi. Năm 1969, họ liều lĩnh trở về may cho họ đang trong thời buổi chiến tranh, để giảm bớt mâu thuẫn nội bộ nên đảng đã khoan nhượng.

Giữa năm 1963, do mâu thuẫn, đấu đá lẫn nhau, ban quản trị của hợp tác xã bị xoá sổ, người bị đuổi, người bị cách chức. Cấp trên cử về một chủ nhiệm mới là đảng viên – ông Lưu đĩnh Chi ngoài năm mươi tuổi – một con người nhiều mưu mô, thủ đoạn nham hiểm. Về sau tài sản của hợp tác xã trị giá hàng trăm lạng vàng rơi vào tay ông và con cháu của ông. Trước đại hội xã viên ông tuyên bố:

– Hiện nay, việc làm chỉ dành cho bố mẹ, con em những gia đình là cán bộ, công nhân viên và những gia đình có công với cách mạng. Còn lại thuộc diện đi kinh tế miền núi, ban quản trị không xếp việc.

Đục nước béo cò, nhờ chính sách này, đại gia đình ông Chi trở nên giàu có do chiếm đoạt. Hàng trăm người mất cả việc làm và mất cả tiền vốn góp cổ phần. Tôi và Khoa bước vào những tháng năm thất nghiệp. Để kiếm sống, chúng tôi làm mọi việc, buôn bán vặt vãnh: bánh mỳ, quần áo cũ, pháo dịp tết, kể cả việc lao động đào đất, dọn vệ sinh. Nhưng buôn bán thì thường bị bắt giữ và tịch thu hàng, còn lao động thì thất thường với tiền công rẻ mạt. Giữa năm 1963 đến hết năm 1964 chúng tôi cứ long đong, lật đật kiếm ăn từng bữa. Còn tinh thần thì lo âu, thắc thỏm từng ngày vì chính sách đi vùng kinh tế mới. Đành rằng ở nơi thị thành này, chúng tôi đang phải chịu trăm đắng, ngàn cay nhưng còn có sách, có thư viện, có bạn bè. Nếu phải đi miền núi có khác chi vào nơi cầm cố chung thân – một cuộc đời đầy đoạ, tuyệt vọng.

Cuối tháng 3 – 1964, ông chủ nhiệm gọi tôi đến văn phòng, ông nói:

– Chính sách đi vùng kinh tế mới đã tiến hành gần một năm nay. Biện pháp vận động của hợp tác xã đối với anh mới chỉ có cắt việc làm. Một người thông minh như anh chắc cũng hiểu rằng, mọi chính sách của đảng muốn thực hiện được phải kèm theo biện pháp chính quyền cưỡng bức, cao hơn nữa là toà án, nhà tù. Tôi cho rằng không ai muốn bỏ thành phố để đi miền núi vì chẳng khác gì từ chỗ quang đâm đầu vào bụi rậm, nhưng chính sách của đảng bắt mọi người dù không muốn cũng phải chấp hành. Nói như thế, có thể anh hỏi: đã cưỡng bức đâu mà có hàng vạn gia đình tình nguyện đi miền núi? Xin trả lời, số đó chẳng gia đình nào muốn tình nguyện cả. Họ biết, trước sau cũng phải đi nên hành trình sớm sẽ có lợi hơn, tìm được nơi tốt hơn, tránh được cảnh trâu chậm uống nước đục. Đến nay, chắc anh đã rõ Hồ chủ tịch tuyên bố:“phải làm Hà nội trong sáng như pha lê”, nghĩa là cuộc vận động ra khỏi thành phố đã biến đổi về chất – áp dụng những biện pháp cứng rắn buộc những người không thuộc thành phần cơ bản phải ra đi. Về lý lịch của anh, tôi không rõ lắm nhưng có nhận xét rằng, anh có văn hoá nếu thuộc thành phần tốt sao không vào đại học hay chuyên nghiệp? Vì vậy, anh đã có tên trong danh sách bị cưỡng bức đi lần này. Hôm nay tôi báo cho anh biết trước để chuẩn bị.

Nghe ông chủ nhiệm nói, tôi liền nghĩ ra một kế:

– Thưa bác, từ hôm nay cháu xin bác xoá tên cháu trong danh sách xã viên.

– Việc đó dễ thôi nhưng để làm gì? Anh muốn trốn tránh đi miền núi thì không ổn. Nếu anh xin xoá tên, chúng tôi phải gửi anh về khối phố quản lý và
giải quyết. Hơn nữa, cổ phần chỉ được rút ra khi có giấy di chuyển khỏi thành phố.

– Bác thông cảm giúp đỡ cháu với điều kiện sau, cổ phần của cháu có ba trăm đồng, bác toàn quyền sử dụng nhưng bác không gửi giấy về khối phố, coi như cháu vẫn làm ở hợp tác xã.

Mắt ông chủ nhiệm sáng lên vì được lợi, sau vài giây tỏ vẻ lưỡng lự, ông nói:

– Thôi được rồi, tôi đồng ý giúp anh, nếu khối phố nơi anh cư trú hỏi tôi, buộc tôi phải trả lời anh đã bỏ hợp tác xã, chúng tôi quên chưa gửi giấy về để địa phương quản lý. Và nếu xảy ra hiện tượng ấy, anh cũng không nên tố cáo tôi ăn hối lộ của anh để không đưa anh đi miền núi. Chắc anh biết câu chuyện ngụ ngôn của La fontaine“Con chó sói và con cừu”.

Ông chủ nhiệm cũng hỏi Khoa, anh trả lời:

– Bác cứ yên tâm, cháu sắp về với bố cháu ở Bắc giang. Bác cứ chuẩn bị sẵn tiền cổ phần của cháu.

* *
*

Đầu tháng 4 – 1964, tôi và Khoa lấy vé ở rạp Đại đồng xem bộ phim Người cá. Buổi tối, gần đến giờ đi xem thì anh Cương bảo tôi phải ở nhà họp để nghe phổ biến bầu cử quốc hội. Cũng may, Khoa giữ vé nên tôi nghe lời anh Cương.

Cuộc họp của khối phố ở sân chùa, bảy giờ bắt đầu, mọi người đã đến đông, chật ních. Có một ông cán bộ trên khu về dự, ông ta phát biểu:

– Khu Ba đình có vinh dự lớn được đón bác và các vị lãnh đạo cấp cao ứng cử đại biểu quốc hội. Theo chỉ thị của trên, mọi cử tri phải bỏ phiếu theo sự hướng dẫn. Nếu ai làm sai là hành động chống đối, tuỳ theo lỗi nặng nhẹ, thái độ chính trị mà xử lý. Mỗi cử tri được thực hiện quyền công dân là bỏ phiếu song phải làm nghĩa vụ theo sự lãnh đạo của đảng. Tôi đề nghị bà con đi bỏ phiếu trăm phần trăm và nhất thiết theo sự chỉ đạo…

Kế đó, ông trưởng ban đại biểu nói:

– Hôm nay bà con đến họp tương đối đầy đủ, chỉ thiếu ba người có lý do. Tôi đọc giấy xin phép của từng người: 1 – Tôi là Ngô văn Hảo, tối nay tôi phải đi trực ở bệnh viện. Vậy xin phép ban đại biểu được vắng mặt trong cuộc họp cực kỳ quan trọng này. Tôi nhất trí theo sự chỉ đạo của cấp trên là gạch tên hai vị ứng cử tự do ở cuối danh sách; 2 – Tôi là Lê thị Ngọ, tối nay tôi bị sốt nặng không đi họp được, vậy xin phép ban đại biểu. Tôi xin hứa ngày bầu cử nhất thiết sẽ làm theo chủ trương của đảng, nếu sai tôi xin chịu tội; 3 – Con tôi là Vũ văn Hưng đi công tác chưa về. Do vậy, tôi xin phép ban đại biểu cho cháu vắng mặt trong cuộc họp tối nay. Tôi hứa với quý ban, khi cháu về tôi sẽ thông báo lại để ngày bầu cử, cháu phải bỏ phiếu theo sự hướng dẫn của cấp trên.

Ông trưởng ban đại biểu tiếp:

– Sau đây, tôi xin đọc tiểu sử các vị ứng cử. Riêng tiểu sử của bác không đọc. Khi đọc đến tên người, tôi đề nghị bà con đứng dậy vỗ tay hoan hô…

Một bà đứng lên phát biểu:

– Nói đến bác thì cháu nhỏ lên ba cũng biết và kính trọng nhưng tiểu sử của người, có một số người ít học như tôi không nhớ rõ, tôi đề nghị cứ đọc.

Nhiều người đứng dậy nhao nhao phản đối:

– Người là cha già của dân tộc, ai không nhớ rõ tiểu sử của người là thái độ chính trị không tốt, biểu hiện một quan điểm không nhiệt tình cách mạng.

– Không cần đọc nữa, đọc tiểu sử của bác là vô lễ, chúng tôi ai cũng nhớ rồi…

Tôi thoáng nghĩ, ngoài cái tên bác Hồ hoặc Hồ chủ tịch sinh ngày 19 – 5, thực ra mấy ai nhớ lai lịch của ông ta, lai lịch đó đã được thêm bớt, hư cấu cho đượm màu sắc và tính cách anh hùng nhất trong lịch sử của dân tộc bốn nghìn năm văn hiến. Họ tự lừa lẫn nhau đến thế là cùng.

Ông trưởng ban đại biểu bắt đầu đọc:

– Tiểu sử Hồ chủ tịch.

Ông đọc chưa dứt lời, mọi người đã đứng dậy, tiếng vỗ tay và lời hoan hô ầm ầm như vỡ chợ:

Hồ chủ tịch muôn năm! muôn năm! muôn năm! Tiếng hô lặp lại nhiều lần giống như một lũ loạn thần kinh. Có người cố gào lên sau bị khản cổ.

Bốn năm sống ở đây, tôi biết, một số là cán bộ, công nhân viên chức với tiền lương rẻ mạt, phải chia ra ăn từng bữa. Còn lại phần đông là thợ thủ công làm trong các hợp tác xã và những người buôn thúng, bán mẹt. Cuộc sống của họ gieo neo, thiếu thốn trăm bề. Chẳng những thế, họ luôn trong tâm trạng lo âu vì chính sách đi vùng kinh tế mới, nhất là lời tuyên bố gần đây của ông Hồ “làm Hà nội trong sáng như pha lê” làm nhiều người sợ mất ăn, mất ngủ.

Tôi đã từng xếp hàng mua lương thực cùng với họ, mua phải gạo hẩm và mục, người nào chẳng bùi ngùi kêu khổ. Thế thì vì lẽ gì trong cuộc họp để chuẩn bị bầu cử quốc hội, họ lại tỏ ra kính yêu ông Hồ đến thế? Sự kiện này làm tôi nhớ lại truyện ngắn Bộ quần mới của Hoàng đế của Andersen, nhà văn Đan mạch, chỉ vì sợ tiếng ngu, người trần mắt thịt mà từ vua quan đến dân chúng trong thành không ai dám nói“Ông vua đang để trần truồng được đón rước”. Ở thời đại Cộng sản không đơn giản thế. Cậu tôi nói:“Đảng bảo hoan hô phải vỗ tay.. Ai không hưởng ứng là kẻ thù của đảng…”Cánh cửa nhà tù đang mở rộng để đón chờ những ai dám bầy tỏ ý nghĩ chân thực của mình về xã hội. Ngoài những kẻ cuồng tín, để thích nghi với môi trường sống mỗi người phải đóng thành đạt một diễn viên, một con người giả: phát lại âm thanh của đảng, làm theo ý đảng. Còn con người của trái tim khối óc – con người thật phải âm thầm, lặng lẽ, chồng cảnh giác vợ, cha chắng dám tin con…

Tan cuộc họp, khi ra về một bà nói:

– Đảng bảo sao, dân phải nghe vậy nhưng danh sách ứng cử viên do đảng chọn, mà đều là người của đảng, bỏ phiếu cho ai mà chẳng được.

Tên công an hộ tịch nghe thấy, gọi lại doạ:

– Bỏ phiếu cho ai cũng được là thế nào? Bác muốn tuyên truyền không công cho bọn phản cách mạng phải không?

– Trót lỡ lời, tôi xin anh tha lỗi.

Cũng may bà này là công nhân vệ sinh, không biết chữ nên được ân xá tội nói càn.

Anh Cương nói vụng với tôi, những người được lựa chọn đa số xuất thân từ nghề cầm cuốc thành tổ chức“cái cuốc hội”, một chiêu bài để tuyên truyền nền dân chủ giả hiệu của đảng.

Sáng sớm ngày bầu cử (chủ nhật) cả khu phố như nước sôi lên sùng sục: cha dặn con, chồng bảo vợ, anh chị em nhắc nhở nhau làm sao đừng nhầm lẫn. Xảy chân xuống hố còn chữa khỏi, nếu xảy tay gạch nhầm tên người ứng cử quốc hội thì cuộc đời bị cuốn trôi như nước sông Hồng. Do họ nghĩ rằng, đảng có phép nhiệm màu như phật tổ Như lai, thấu suốt mọi hành vi của mọi con người.

Tôi và Khoa không bảo nhau nhưng đều đặt một dấu nhân to, đậm vào lá phiếu bầu.

Cuối tháng tư có một cuộc họp của khối phố để tuyên bố kết quả bầu cử. Ông trưởng ban đại biểu nói:

– Tôi thông báo cho bà con biết, cuộc bầu cử quốc hội lần này khu Ba đình đã thành công rực rỡ. Bác Hồ được 99,92 phần trăm số phiếu. Từ con số phần trăm trên đã chứng tỏ lòng tin tuyệt đối của nhân dân đối với đảng. Tuy nhiên cũng từ con số đó cho ta thấy, khu Ba đình mới xuất hiện một số tên phản động.

Một bà phát biểu:

– Theo tôi, chỉ những đối tượng cũ thôi.

– Không phải – ông trưởng ban tiếp – những đối tượng xấu như nguỵ quân, nguỵ quyền, công chức lưu dung, những gia đình đi đạo, tư sản…đều có dấu mật trong lá phiếu bầu, không thấy chúng có hành động chống lại. Trong khu Ba đình có tám phiếu gạch chữ nhân và một số lá phiếu gạch tên Hồ chủ tịch, cơ quan an ninh đang điều tra nhưng chưa có kết quả. Bọn này nếu bị phát hiện ra chắc chắn chúng phải nhận hình phạt thích đáng của đảng.

Một ông phát biểu:

– Tôi chỉ thấy cơ quan an ninh bắt bọn phản động đi tập trung cải tạo, hình như chưa có phiên toà nào xét xử bọn chúng.

– Có rất nhiều – công an hộ tịch nói – chỉ xử kín thôi. Bà con khỏi lo, trị tội bọn phản động, đảng có hàng nghìn biện pháp.

* *
*

Nhiều lần tôi đến thăm chị Bích Hằng nhưng chị đều đi vắng thành ra hơn hai năm trôi qua tôi không gặp chị. Chiều ngày mười tháng mười năm 1964, tôi lại đến thăm chị. Đến nơi, tôi thấy gian nhà của chị khoá cửa. Tôi hỏi ông Hiệp người đỡ đầu chị, ông buồn bã trả lời:

– Sau khi không làm ở hợp tác, chị Hằng đi buôn rau. Kiếm được miếng ăn trong thời buổi này sao mà khổ thế? Nhiều phen chị vừa gánh rau, vừa chạy trốn sự truy bắt của công an trên đường phố, có lẽ còn lật đật hơn chạy giặc. Công an hộ tịch và khối phố mấy lần đến vận động chị đi miền núi, còn đang khất dần, nấn nấ thì cách đây mươi ngày chị gánh rau qua đồn, có một công an ra hỏi giấy tờ. Chị xuất trình chứng minh thư, anh ta mang vào đồn vài phút rồi trả lại.

Đồng thời một trung uý trong đồn đi ra, chị nhận ra người cùng quê, trước kia là đội trưởng cải cách ruộng đất. Sau ngày đó, chị ở nhà buồn bã, lo lắng. Tối hôm qua, công an khu và hộ tịch đến nhà thu sổ hộ tịch, chứng minh thư của chị và tuyên bố: Chị man khai lý lịch, cư trú bất hợp pháp. Theo lời tuyên bố của Hồ chủ tịch “phải làm Hà nội trong sáng như pha lê”, khu quyết định đuổi chị khỏi thành phố. Nếu từ nay còn ở lại, chúng tôi sẽ bắt giam. Sáng nay, chị Hằng chào tạm biệt tôi và gia đình, chị đã dắt con đi.

– Thưa bác, chị Hằng đi đâu ạ? – Tôi hỏi.

– Tôi ngậm ngùi hỏi chị như thế nhưng chị nghẹn ngào trả lời: Đi đâu cháu còn chưa biết nữa? Cháu cảm tạ công ơn như trời biển của bác và gia đình. Cháu thường cầu mong có ngày trả được công ơn bác nhưng có lẽ không thể. Cháu xin từ biệt. Chị oà lên khóc rồi ra đi.

Bão táp lại trút xuống đầu người lương thiện – Tôi trĩu nặng nỗi u buồn, thầm nhủ. Chào bác Hiệp, tôi đi bộ đến vườn hoa hàng Đậu để thăm bác Vũ thị Hiền.

Hôm ấy, ngày kỷ niệm mười năm giải phóng thủ đô, vườn hoa được trang trí hàng nghìn bóng điện màu rực rỡ. Bác Hiền ngồi ở ban công lơ đãng nhìn cảnh đẹp của vườn hoa, bác đang mong mỏi và chờ đợi Hưng về nhà. Vậy con trai bác đi đâu? Sau khi không thể sống nổi ở hợp tác xã, bác lại đi buôn bán nhỏ nhặt để kiếm ăn. Hưng nhiều lần phản đối mẹ không chấp hành chính sách cải tạo tiểu thương là sai với chính sách của đảng nhưng nếu không đi chợ kiếm tiền thì bố mẹ và em lấy gì ăn để sống? Mẹ xin con. Sợ gia đình cản bước tiến của mình. mặt khác Hưng cũng biết rằng, anh xin học nghề ở nhà máy cuối năm 1959 là một điều may, nếu đến năm 1960, bắt đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa, thì không thể. Do vậy, Hưng xin vào tập thể nhà máy đã hơn một năm nay, rất ít khi về thăm bố mẹ. Bác Văn đang ốm nặng trên giường. Nga bỏ nhà đi đâu gần một tháng. Bác Hiền chờ mong con trai về để nói hoàn cảnh gia đình hiện tại, may ra nó thương bố mẹ chăng?

Tôi đến, bác Hiền buồn bã tiếp. Sau nửa giờ Hưng về nhà. Không chào hỏi ai, Hưng khoe với mẹ:

– Mẹ ơi, ngày mai con lên đường nhập ngũ.

– Bố con đang ốm, con hãy vào thăm bố – Bác Hiền vừa khóc, vừa nói.

Hưng bước vào nhà, bác Văn đang ngủ, nói mê lung tung:

– Hưng ơi, con bỏ bố mẹ à? Nga ơi, con đi đâu không về với bố?

Nghe lời nói mê của bố, Hưng hỏi mẹ:

– Mẹ ơi, Nga đi đâu?

– Không biết em con đi đâu từ tháng trước?

Hưng gọi bố:

Bố ơi, con đã về đây, ngày mai con đi bộ đội – Gọi ba, bốn lần, bác Văn không tỉnh, Hưng ra chào mẹ rồi đi, mặc cho bác Hiền hết lời van xin con ở nhà đêm hôm ấy. Chưa hết cơn hờn giận với đứa con bội bạc thì sở công an đến bắt bác Văn và khám nhà. Trong lệnh bắt có đoạn viết:“…tập trung cải tạo phần tử có nguy hại cho cách mạng…”. Cũng may, khi ô tô đến trước cửa, tôi đã kịp xuống cầu thang và chuồn ra ngoài phố, nếu chậm thì rắc rối to.

Tháng Bảy 22, 2009 - Posted by | Cải cách ruộng đất, Hồi ký: Một ngày giông tố

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: