Eventfulday's Blog

Kỳ 7 – Năm năm nối tiếp (1)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 7

HỒI HAI – Hà nội

II Năm năm nối tiếp


Lúc đó, tôi đến nơi làm việc. Gần nửa đêm, cổng chùa đã đóng, bên trong mọi người đã tắt đèn đi ngủ, tôi đứng bên ngoài gọi:

– Anh Cương ơi, mở cổng cho em.

Gọi lần thứ hai, anh Cương ra mở cổng và hỏi:

– Chắc chú không ở được hàng Bạc nữa phải không?

– Vâng, sao anh biết?

– Nghe ông Thanh nói, bà hàng Bạc ghét chú lắm. Bà bảo một đứa ngang ngược không chịu ngoan ngoãn theo thời thế.

– Còn anh?

– Qua tám tháng làm việc ở đây, tôi thấy chú thông minh, trung thực, có một cuộc sống nội tâm mãnh liệt.

– Em đến để nhờ anh!

– Không phải nhờ, anh coi chú như em, cầu Chúa ban phước lành cho chú.

Nghe câu nói ân tình ấy, cảm động quá tôi không ngăn cản nổi dòng nước mắt. Tình thương của người dưng nước lã này hơn hẳn anh chị, cô, bá tôi.

– Tại sao chú khóc? – Anh Cương hỏi.

– Em khóc vì lòng nhân ái của anh.

– Thế thì chú hãy khóc nữa đi, khóc sẽ giải thoát được một phần đau khổ.

– Em không bao giờ khóc hoặc van xin trước uy quyền và bạo lực, còn với tình thương và lòng nhân ái thì… – Tôi nghẹn ngào nói.

Anh Cương người nhỏ nhắn, cuộc đời ly hương từ thời trai trẻ. Quê anh ở Vĩnh bảo, Kiến an. Hồi cải cách, thân phụ anh bị đi tù, tài sản gia đình bị cướp sạch. Khi đó, thật may mắn, anh không có mặt ở quê hương nên thoát nạn. Anh có lòng thương người và độ lượng. Thời gian trước, anh buôn thuốc lào ở Thường tín, có một ông hàng xóm thường xuyên đến chơi, một hôm anh đi vắng, gửi nhà ông ta trông giúp.

Khi về thấy ông hàng xóm đang mở tráp lấy trộm tiền, anh lặng lẽ đi chỗ khác để ông ta tự do hành động. Tối hôm đó, anh giết gà làm cơm, mua rượu mời ông hàng xóm. Cuộc vui sắp tàn anh nói, sống bên cạnh mà tôi không biết khó khăn của bác thì thật là không tốt, tôi xin lỗi bác. Nay tôi biếu bác một số tiền nhỏ mọn. Nói xong, anh đưa cho ông ta năm chục. Ông hàng xóm sực hiểu ra, khóc và nói, tôi mới là kẻ xấu, đã làm một việc bỉ ổi. Ông không dám cầm tiền nhưng với lòng độ lượng, anh Cương đã thuyết phục ông phải nhận. Hình ảnh ngài giám mục Mirielle xuất hiện ở Việt nam trong thời đại mà sự hận thù và thú tính đang ngự trị xã hội. Tuy nhiên, trước roi vọt của pháp luật rừng, anh không có gan chịu đựng.

Anh dẫn tôi đến giường nằm. Gọi là giường cho hay là thế, thực ra là những tấm ván ghép lại trên nền nhà. Anh lại nói:

– Người công giáo chúng tôi có đức tin vào Chúa nên tư tưởng đấu tranh giai cấp của đảng khó tiêm nhiễm vào tâm hồn những con chiên ngoan đạo. Trái tim họ vẫn rung cảm trước chân lý, thương yêu, cứu vớt những người hoạn nạn.

Bốn đối tượng của cách mạng hiện nay thì đối tượng thứ hai:“chống bọn phản động đội lốt thiên chúa giáo”, thực chất nhằm vào những ngài linh mục, những tu sĩ và những giáo dân ngoan đạo.

* *
*

Tổ hợp tác làm thùng nước mắm có tên gọi 19–5 do ông Thanh làm tổ trưởng, sau khi ổn định sản xuất thì ông ta có hành động xoay xở, lấy cắp sơn, gian lận giấy tờ để tham ô dẫn đến mâu thuẫn, lủng củng.

Tổ ngừng sản xuất để thanh lý và giải tán. Trong chùa, tổ hợp tác chỉ còn lại anh Cương và tôi. Anh cư xử với tôi thân tình. Trong khối phố, kể cả ban đại biểu và bảo vệ, nếu không xem sổ hộ tịch, tưởng tôi là em ruột của anh Cương.

Anh chuyển sang nghề buôn giang ở chợ Bắc qua. Còn tôi, sau khi tìm kiếm nhiều nơi, anh xin cho tôi làm trong tổ hợp tác kim khí phố hàng Buồm, đóng cổ phần ba trăm đồng. Tổ hợp tác này, ông tổ trưởng hiền lành, nhu nhược, cách quản lý ông chẳng hiểu gì, mặc cho xã viên làm được chăng hay chớ. Còn lại, đại bộ phận là các bà, các chị, các cô không nghề nghiệp. Trước đây họ buôn thùng, bán mẹt, bán hàng rong. Theo chính sách cải tạo tiểu thương của đảng, bắt họ phải bỏ nghề buôn bán tự kiếm việc làm để sinh sống. Tổ sản xuất đồ chơi trẻ em cho công ty ngũ Kim cấp một thường bán tại cửa hàng mậu dịch thiếu nhi bờ hồ Hoàm kiếm.

Buổi đầu tôi đến làm, một bầu không khí buồn tẻ trùm lên phòng làm việc, ngoài những tiếng búa, tiếng đập xen lẫn tiếng máy đột dập bằng tay xình xình mệt mỏi, thỉnh thoảng lại xuất hiện tiếng thở dài não ruột. Hình như chẳng ai muốn nói với ai một lời nào. Tôi được phân công cùng làm với một thanh niên, ít hơn tôi một tuổi – Khoa có nước da trắng, dáng người khoẻ mạnh nhưng yểu điệu như con gái. Cặp mắt một mí của anh lúc nào cũng như mơ màng, trĩu nặng nỗi ưu tư. Tôi hỏi:

– Bạn vào làm ở đây lâu chưa?

– Mới được vài tháng – Khoa lạnh lùng trả lời.

– Tình hình làm ăn thế nào mà có vẻ không vui?

– Làm không ra sản phẩm, không có lương, mỗi công tạm ứng năm hào ăn cầm hơi.

Tôi nảy ra ý nghĩ, sản phẩm đồ chơi này đơn giản, ngoài khuôn mẫu, chẳng cần chuyên môn, nghề nghiệp gì cao, chỉ cần khéo tay và biết xếp đặt hợp lý là có hiệu quả. Tôi nói.

– Tay nghề công việc này không quan trọng lắm, chủ yếu là khâu phân công việc cho từng người và quản lý, chống cách làm việc nước chảy, bèo trôi.

– Ông Khuê tổ trưởng bất lực lắm, rồi đến mất cả vốn góp cổ phần và giải tán.

Tôi nghĩ phải bàn cách làm ăn với ông tổ trưởng. Nếu cứ thế này, tôi xin rút vốn. Ngay tối hôm đó, tôi đến nhà ông Khuê ở phố Đồng xuân. Tôi yêu cầu ông phải làm và hưởng lương theo sản phẩm. Một sản phẩm chia ra nhiều chi tiết, tính giá khoán cho từng chi tiết. Tiền lương hàng tháng tính theo khối lượng và chất lượng sản phẩm cho từng người.

Ông Khuê nói:

– Làm như vậy tính toán rất phức tạp. Mỗi lần làm lương phải tính hàng nghìn phép nhân và cộng, kế toán không chịu nghe đâu.

– Tổ phải trả cho ông kế toán bao nhiêu một tháng?

– Bốn mươi nhăm đồng.

– Nếu bác đồng ý, cho ông kế toán nghỉ việc, cháu sẽ làm tất cả, chỉ xin của tổ mười lăm đồng một tháng.

– Số tiền ấy cậu sống thế nào?

– Một tháng cháu chỉ làm sổ sách, tiền lương ba ngày, còn lại trực tiếp sản xuất.

– Tính theo sản phẩm, cậu có làm cả tháng chưa chắc đã xuôi, cậu nói ba ngày sao cho được?

– Bác cứ yên tâm, ba ngày đối với cháu là còn thời gian ngồi chơi, xơi nước chứ chẳng vội gì. Cháu tin rằng, cách thức làm việc này sẽ có hiệu quả, mau ổn định và lương sẽ tăng dần.

Ông Khuê đồng ý, cách làm và hưởng theo sản phẩm được tiến hành ngay. Ngày đầu, hết giờ làm việc, hơn hai chục người khai số lượng chi tiết sản phẩm với tôi, không thấy tôi ghi chép, họ thắc mắc:

– Anh không ghi vào sổ theo dõi sản phẩm là thế nào?

– Các bác, các chị không lo, cháu đã ghi vào đầu còn chắc hơn ghi vào sổ.

Nhiều người không tin:

– Của người nào người ấy nhớ còn khó, anh làm sao nhớ nổi sản phẩm của mấy chục người ngày này qua ngày khác.

– Nếu cháu nhầm của ai cứ xin của bụt mất một đền mười.

Đến kỳ giao hàng, tính lương, tôi nói số lượng sản phẩm của từng người làm trong ngày và tổng số. Lúc đó họ mới tần ngần hỏi tại sao tôi có trí nhớ kỳ diệu thế? Điều đó tôi cũng không hiểu nổi, chỉ đơn giản là những gì cần nhớ hay học thì nhớ mãi.

Sau hai tháng, từ chỗ không lương đã đạt tới mức lương trung bình bảy mươi đồng một tháng. Không khí làm việc đã thay đổi, mọi người vừa làm, vừa nói chuyện râm ran, vui vẻ. Họ cởi mở, mỗi buổi đến chỗ làm tay bắt, mặt mừng, không còn cảnh đưa đám như trước nữa. Từ đó, tôi chiếm được sự ưu ái của nhiều người.

– Tôi không ngờ cậu có khả năng như vậy – Ông Khuê nói.

– Thưa bác, công việc đó cũng bình thường thôi. Rất tiếc cháu là loại người cùng đinh không được làm những công việc lớn.

– Nếu không có cậu, có lẽ tổ phải giải tán.

* *
*

Người thân với tôi sớm nhất là Khoa. Bà ngoại anh là tư sản, hàng chục ngôi nhà bị nhà nước quản lý. Sau này kinh doanh thua lỗ vì thuế cao nên cửa hàng nhà anh đóng cửa, kinh tế sa sút mau chóng. Bố mẹ Khoa không hoà thuận.

Do nhạy cảm, thức thời, ông chán ghét chế độ mới, còn bà lại tin tưởng hão huyền. Như mặt trăng với mặt trời không thể tồn tại cùng một nơi, thân phụ Khoa về quê ở Bắc giang sống một mình. Khoa hợp tính bố, thông minh nên sớm nhận biết những bất công, tội ác của chế độ. Từ đó anh và thân mẫu cũng trở nên xung khắc. Thân mẫu Khoa, một người đàn bà lắm điều hay chấp vặt. Chị Khoa hiền lành nhưng em gái sát Khoa nghe theo mẹ, Mai phấn đấu trở thành đoàn viên thanh niên lao động. Do vậy, gia đình Khoa chẳng mấy lúc yên vui. Anh học hết cấp hai, do kinh tế gia đình khó khăn phải bỏ học để đi kiếm sống. Khoa có tâm hồn thơ từ thuở nhỏ, năm mười hai tuổi.

Lần đầu, rủ tôi ra cửa hàng Thuỷ tạ uống cà phê, Khoa hỏi:

– Mày có nhận xét gì về tao?

– Lạnh lùng với mọi người, có lẽ mày nhìn cuộc đời u ám lắm?

– Mày nhầm rồi! Không phải thị lực tao kém nhìn màu hồng hoá màu đen mà sự thực cái xã hội này là u ám. Tsernưsheski nói:“Cái đẹp là cuộc sống”, xưa kia tao tán thành quan điểm ấy, nếu không có cuộc sống thì còn gì là cái đẹp?

Tao yêu cuộc đời hơn ai hết, yêu mọi người, yêu thiên nhiên: bầu trời, trăng, gió và hoa.

Tao thường vào làng Ngọc hà để ngắm hoa và mơ ước cuộc đời cũng đẹp như những bông hoa đang nở. Có một lần, tao mua được mấy bông hoa đẹp nhất trong một vườn, mang về cắm vào bình đặt trên bàn để chiêm ngưỡng. Bố tao ra phố về nhìn thấy, người quay mặt đi và thở dài. Lạ lùng chưa, người nhìn hoa không thấy vui mà buồn? Tao hỏi:

– Bố không yêu hoa à?

– Có chứ, hoa là sản phẩm của thiên nhiên bao giờ cũng đẹp luôn quyến rũ lòng người.

– Thế thì tại sao thấy hoa, bố lại thở dài?

– Nhìn hoa đẹp, bố lại chạnh thương đến các con. Bố linh cảm thấy tương lai của các con không đẹp mà xấu lắm.

– Tại sao vậy bố?

– Con còn non dại, rồi sẽ biết. Bố không muốn con biết sớm. Biết nhiều, biết sớm là buồn trước tuổi đấy con ạ!

– Con chỉ muốn biết qua loa thôi?

– Ngày nay, người ta yêu máu và nước mắt hơn yêu hoa. Thậm chí có những kẻ sung sướng trên máu và nước mắt của con người. Thôi nhé, con đừng hỏi thêm bố nữa. – Người ra lệnh.

Tao đành im lặng, nhưng cũng từ đó tao băn khoăn lo lắng. Mùa xuân năm 1956, người đưa tao về quê bằng xe đạp. Hôm ấy là ngày mười rằm tháng giêng âm lịch. Bóng chiều ngả dài mới đến đầu làng, tao thấy một biển người trên một bãi rộng đang hò hét, hoan nghênh và đả đảo ầm ầm. Bố tao bảo, họ đang đấu tố và sắp hành hình“địa chủ cường hào gian ác”. Một cô gái trẻ đẹp để gánh hoa bên đường, toàn là hoa đẹp: những bông hồng đỏ tươi rực rỡ, glaieulle trắng muốt, cúc vàng…không ai thèm ngó tới. Bố tao hỏi cô hàng hoa:

– Cháu không bán được à?

– Nay là tết Nguyên tiêu, cháu tưởng…, không ngờ, người ta đi xem bắn người nên hoa cháu ế. Cô hàng hoa buồn thỉu trả lời.

– Thế đấy cháu ạ, xem máu chảy, nước mắt rơi còn thích hơn ngắm hoa chứ – Nói rồi người mua mở hàng mỗi thứ một bông.

Thời gian sau đó, cửa hàng nhà tao đóng cửa. Bố mẹ tao thường xuyên nặng lời: một mặt vì kinh tế gia đình sa sút, mặt khác vì quan điểm xã hội đối lập. Ngày về quê ở, người bảo tao: – Xa các con, bố thương nhớ lắm nhưng ở đây không chịu nổi. Con nhớ thỉnh thoảng về thăm bố. Mỗi năm người cũng ra chơi vài lần nhưng chỉ một vài ngày lại về quê. Hoàn cảnh gia đình lại khó khăn, li tán thì vui sao được. Và cũng từ đó tao phải quan sát cái xã hội này thận trọng, rồi đi đến nhận xét: Hegel có lý khi cho rằng, cái đẹp chỉ tồn tại ở thế giới bên kia.

Đến nhà, Khoa cho tôi xem tập thơ đầu của anh, trang đầu tựa mấy vần:

Ta là thi sĩ hoài phong
Là người cùng khổ trong lòng Hugo
Đường đời gai góc gió mưa
Hoa tàn, lá rụng xác xơ tơi bời.
Chân vững bước, mắt sáng ngời
Tâm hồn thâu cả đất trời thành thơ.

Kế tiếp là những bài thơ yêu thiên nhiên, yêu cảnh đẹp của núi non hùng vĩ, yêu dòng sông Thương… Đến những bài thơ buồn da diết trong cảnh chia ly. Nỗi buồn không lối thoát của một chàng trai đầy mộng ước nhưng phải sống trong một xã hội như ngục tù. Cái đẹp của cuộc đời là máu hay hoa?

Cuối tập thơ là những bài về tình yêu và nước mắt, nổi bật nhất là bài đôi trai gái chia tay nhau vì giai cấp tính và sự ép buộc của xã hội để chàng trai bất hạnh mang trái tim chứa đầy máu nóng xuống tuyền đài.

Sau đây là những trang nhật ký của Khoa năm 1961.

Ngày 3 tháng 1. Tôi đọc Thép đã tôi thế đấy của Atrôpsky. Đọc xong, tôi ngẫm nghĩ, Pavel ơi, ngươi bị lừa rồi. Cuộc đời ngươi đã chiến đấu và làm việc hết mình, chẳng phải để giải phóng cho ai. Ngược lại, chỉ để bảo vệ ngai vàng của tên bạo chúa Stalin. Hàng triệu vật hy sinh như ngươi chỉ kéo dài thêm cái thảm hoạ cho nhân loại – thảm hoạ Cộng sản.

Ngày 8 tháng 1. Buổi tối tôi mượn được tập truyện Một anh hùng thời đại của Lermontov. Tôi ngấu nghiến cả đêm đến sáng thì hết tác phẩm này. Vì Pessorine có cách nhìn cuộc đời giống như tôi: đen tối, phũ phàng và tội ác. Tuy nhiên, anh sống ở xã hội Nga vào thế kỷ thứ 19 không đau thương, lừa lọc như xã hội Việt nam hiện nay. Anh chỉ giày vò về mặt tinh thần, khác với tôi, có khi phải lo ăn từng bữa. Sống giữa nơi đô thị mà tôi cảm thấy cô đơn như trên hòn đảo của Robinson. Một đêm khốn nạn nào đó đã sinh ra Pessorine. Và một ngày đen tối đã sinh ra tôi trên cõi đời này.

Ngày 3 tháng 2. Buổi chiều, tôi ra phố về, thấy Mai – em gái tôi đứng trước gương đang ngắm nghía huy hiệu đoàn đeo trước ngực. Thấy tôi, Mai khoe:

– Anh Khoa ơi, ngày kỷ niệm thành lập đảng, em được kết nạp đoàn.

Không tự chủ được, tôi nằm vật ra giường, khóc.

– Tại sao anh khóc thế? – Mai hỏi.

– Cái lý tưởng Cộng sản mà mày đang phấn đấu sẽ biến trái tim mày thành đá. Cái đầu mày bị lý thuyết vô thần ám ảnh, thú tính ngự trị tâm hồn mày. Những kẻ mê muội như mày chỉ kéo dài thêm sự tồn tại của một bức tranh xã hội xám xịt.

Từ đó Mai không đeo huy hiệu đoàn ở nhà nữa.

Ngày 11 tháng 4. Buổi chiều, bố tôi ra chơi, mẹ tôi hỏi:

– Ông có mang gạo ra không?

– Ở với con hai ngày, tôi mang theo năm cân gạo, bà yên tâm chứ?

– Tư tưởng ông lạc hậu, ở lâu sẽ có hại cho các con.

– Vâng, tôi biết bà tiến bộ. Thật khổ, người ta tuyên truyền thế nào mà đàn bà cũng sính dùng từ chính trị?

– Con xin mẹ để cho bố con yên – tôi nói – Đây là gia đình mẹ ạ, ăn cơm ngô và rau muống nói đến xã hội làm gì?

– Cả anh nữa cũng lạc hậu, chậm tiến như bố anh.

– Vâng, con cũng như bố con thôi, mẹ ạ. Con xin mẹ đừng nói nữa, đau lòng lắm.

Ngày 12 tháng 4. Buổi sáng, công an hộ tịch đến, hỏi:

– Gia đình này có người tạm trú, tại sao không ra trình đồn?

– Báo cáo anh, đây là bố em – Tôi trả lời.

– Bất cứ ai không phải là nhân khẩu thường trú cũng phải thông báo. Bây giờ anh phải làm ngay.

Tôi viết họ tên, quan hệ của bố tôi vào sổ tạm trú, mang ra đồn. Khổ nỗi bố tôi quên không mang chứng minh thư. Công an hộ tịch nói:

– Không có giấy tờ là bất hợp pháp, không cho tạm trú nữa. Nếu tối nay bố anh còn hiện diện chúng tôi sẽ bắt ra đồn.

Buổi chiều hôm ấy bố tôi phải về ngay. Thời Tần có ngũ gia liên bảo, thời Napoléon có danh bạ công nhân, còn thời đại Hồ chí minh, ngoài sổ hộ tịch, có sổ lương thực và tem thực phẩm để quản lý dạ dày tinh vi và độc ác vào bậc thày Tần thuỷ Hoàng thời cổ.

Ngày 15 tháng 4. Tôi đọc quyển văn học sử Pháp. Ông Balzac với Tấn trò đời, ông mệnh danh là thư ký của xã hội Pháp. Nếu ông sống lại ở trong thời đại Cộng sản của Việt nam hiện nay, xã hội điên đảo gấp nghìn lần, ông có dám mệnh danh là thư ký của xã hội Việt nam không?

Ngày 21 tháng 4. Em họ tôi từ Bắc giang ra Hà nội bị nhỡ tàu, chiều đến ga hàng Cỏ. Nó vào cửa hàng bách hoá tổng hợp mua một số đồ dùng, khi đến nhà tôi thì trời đã tối. Thật gay go, nó tưởng sáng đi, chiều về nên không mang chứng minh thư. Tôi giấu nó trong nhà, sợ mụ tổ trưởng biết. Có lẽ bị lộ nên đến quá đêm công an vào kiểm tra. Sau khi cảnh cáo gia đình, họ bắt nó ra đồn giam lại.

Ngày 22 tháng 4. Buổi sáng, tôi phải về quê, lấy chứng minh thư cho nó. Đến chiều ra, trình chứng minh thư của nó, nó mới được tha.

Ngày 25 tháng 4. Buổi chiều, tôi đến nhà bạn học cũ ở phố Chu văn An. Nhà nó hôm nay cỗ bàn bầy la liệt. Tôi hỏi lý do, bạn tôi trả lời:

– Bố tao là công chức lưu dung, nay được cơ quan chấp nhận lương như cán bộ cách mạng. Do vậy, gia đình tao mở tiệc ăn mừng.

– Lương cao lên à?

– Ngược lại. Lương của bố tao trước hơn ba trăm đồng một tháng, nay được chấp nhận khoảng bảy mươi đồng.

– Nếu thế, sao không buồn mà lại mở tiệc?

– Hàng chục lần lên đồn, xuống phủ mới được chấp nhận đấy. Lương ít nhưng được ngủ ngon, nếu không sẽ mắc bệnh tâm thần vì sợ.

Ngày 2 tháng 5. Hôm nay, tôi gặp thằng Hùng, bạn học cũ đi bán kem. Nó mới bị đuổi khỏi trường công nhân kỹ thuật vì họ phát hiện ra lý lịch của ông nó ở quê là địa chủ, cường hào.

Ngày 8 tháng 5. Tối nay, khối phố đấu tố anh Thung vì trước đây anh học ở trường sĩ quan Thủ đức. Học xong thì hiệp định Geneva ký kết, anh về nhà. Tôi đến xem người ta tố anh những gì? Anh Thung hiền lành, sao mà bị tố nhiều tội thế? Đặc biệt lời tố của ông trưởng ban đại biểu:

– Tối mùng hai, tháng chín năm ngoái, khi đài đang phát thanh chương trình ca nhạc, anh Thung ngồi ở ban công. Tôi nghe thấy anh Thung ngâm bài thơ nhớ rừng của Thế lữ. Đến câu:“Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu?”, anh gào lên thảm thiết. Sau đó, anh chơi đàn và hát bài Quê nghèo của Phạm Duy, một tên nhạc sĩ theo địch. Cuối cùng là bài Thiên thai của Văn Cao, một tên trong bọn nhân văn giai phẩm. Qua đó thấy rằng, anh Thung còn luyến tiếc chế độ cũ.

Nghe thằng cha này nói, tôi phát cuồng lên vì sự vu cáo trắng trợn. Tôi đứng lên phát biểu:

– Ngày mùng hai, tháng chín năm ngoái, cả buổi tối anh Thung ở nhà tôi. Chúng tôi ngồi uống chè và tôi nghe anh ấy kể chuyện Ba chàng ngự lâm của Dumas. Anh Thung có biết chơi đàn Guitare nhưng chẳng hát bao giờ vì giọng anh như tiếng kêu của vịt đực.

Thế là họ chõ mũi nhọn vào tôi ầm ầm như vỡ chợ.

– Thanh niên chậm tiến bao che cho tư tưởng xấu.

– Nó không chịu tham gia sinh hoạt thanh niên đường phố, đồng loã với nguỵ quân, đề nghị cấp trên đưa nó đi cải tạo.

Cuối cùng, công an hộ tịch cảnh cáo và đuổi tôi về.

Ngày 13 tháng 5. Sau sáu năm, tối qua bác họ tôi ra chơi. Sáng nay tôi dậy sớm đi xếp hàng mua phở. Người mua đông như hội. Đứng trước tôi, một bác già đang đọc lẩm nhẩm một khẩu hiệu kẻ trên tường: Toàn đảng, toàn dân quyết tâm xây dựng thành công CNXH, rồi bác nói nhỏ một mình, đã thành công rồi rồi, việc gì phải quyết tâm. Thấy lạ tôi hỏi:

– Cái gì thành công đấy bác?

– CNXH là cả ngày xếp hàng – Bác ta mỉm cười, hỏi:

– Anh thấy đã thành công chưa?

Tôi định mua ba bát nhưng vì đông quá nên họ chỉ bán cho mỗi người hai bát. Tôi mang về cho bác và mẹ tôi ăn. Còn tôi nói dối với bác đã ăn tại cửa hàng. Đến bữa, cơm gạo hẩm có nhiều hạt mục độn ngô xay, xem ra bác ăn ngon lắm.

Tôi nói, bác ạ, Hà nội ngày nay ăn như thế đấy. Bác trả lời, còn sướng chán, ở quê làm hợp tác xã, mỗi công được mấy lạng thóc, nếu mất mùa thì rau cũng chẳng có mà ăn. Tôi hỏi bác, nông nghiệp đã cơ khí hoá đến đâu rồi? Bác trả lời, trâu bò cũng ít dần, đà này tiến tới cơ khí hoá toàn cuốc.

Ngày 18 tháng 5. Tôi đọc Những con đường đói khát của Jorge Amado. Đến đoạn De thiên lôi định hiếp vợ viên trung uý, sau khi nghe người phụ nữ này nói đến mẹ mình, tên phó tướng cướp đã buông tha chị. Tôi nghĩ, hàng vạn cán bộ cải cách ruộng đất còn chút nhân tính như De thiên lôi, chắc rằng cuộc tàn sát đẫm máu sẽ giảm đi nhiều. Thực chất của lý thuyết đấu tranh giai cấp là dạy con người từ bỏ nhân tính, dập tắt ánh sáng lương tâm, kích thích thú tính để hành động theo đường lối, chủ trương của đảng. Bản chất của thứ lý thuyết này là mầm mống của tội ác, chiến tranh và tàn bạo. Quan niệm của ông Robertower: Đấu tranh giai cấp là kết quả sự ngu dốt của quần chúng.

Ngày 21 tháng 5. Một người ở quê đến thăm gia đình tôi, ông ta là Việt kiều từ Thái lan về nước năm ngoái. Xem ra chưa đầy một năm mà ông ta đã ngao ngán cảnh độc lập, tự do của tổ quốc. Ông ta nói:

– Nếu biết thế này, chẳng ai dám về.

Tôi tưởng tượng, điện tử càng xa hạt nhân thì sức hút của hạt nhân càng yếu. Ngược lại, người càng ở xa chế độ Cộng sản thì lực hấp dẫn càng mạnh. Ở phương xa người Việt kiều nhìn về tổ quốc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa như một con thuyền có cánh buồm nhiều màu rực rỡ, lại được nghe những âm thanh ngọt ngào từ con thuyền dội đến: có một ông thánh sống cứu nhân độ thế. Dường như hạnh phúc vẫy chào, chờ đón, những đứa con xa tổ quốc về với cội nguồn, người ta hân hoan bơi đến với con thuyền. Đến nơi, cánh buồm nhiều màu rực rỡ kia hoá ra các mảnh vải bẩn thỉu, nhem nhuốc, loang lổ thấm máu người được vá víu chằng đụp lại, còn ông thánh sống hoá ra tên lừa bịp, khát máu. Biết bị mắc lừa thì đã muộn, chúng mày có chạy lên mây cũng vẫn trong lồng sắt.

Buổi phát thanh đêm lại có tiếng thơ, ngâm những bài thơ của Tố Hữu ca ngợi lãnh tụ. Đến hai câu:

Bác ngồi đó lớn mênh mông,
Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng nước non.

Ông Việt kiều kêu, khổ vì những lời này qua làn sóng điện. Tôi hình dung, lòng tin của nhân dân đối với chế độ Cộng sản như phương trình hyperbol y = a/x (y là lòng tin, x là thời gian). Cộng sản chỉ chiếm được lòng tin của người dân trong giai đoạn đầu, sau đó lòng tin giảm dần và cuối cùng Cộng sản thống trị bằng bạo lực cùng với sự tuyên truyền bịp bợm.

Ngày 26 tháng 5. Tôi đọc quyển lý luận văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Có đoạn viết: “…Để tái tạo cuộc sống, tính cách của nhân vật là: người quen biết nhưng lạ…”. Qua đó thấy rằng, trong văn học đảng cũng dạy cách bịa đặt, tuyên truyền xuyên tạc. Như thế có thể suy ra ông Hồ là người quen biết của làng Sen, nhưng khi đọc cuộc đời hoạt động của ông ta, người làng Sen thấy lạ như ông thánh ở trên trời rơi xuống.

Ngày 2 tháng 6. Gần ba mươi tuổi, tối nay anh Thung mới cưới vợ. Khi cưới xong, khách vừa về hết, hai người sắp sửa động phòng thì công an đến bắt anh đi tập trung cải tạo. Khi lên xe tù, anh bắt tay tôi. Thế là công an hộ tịch đưa tôi ra đồn giam cả đêm, ghép vào tội quan hệ với nguỵ quân.

Ngày 8 tháng 6. Thằng Hàn mười sáu tuổi, người cùng phố, sáng nay cụng xe bị bắt đi cải tạo làm cả phố xôn xao. Thằng này hiền lành lắm, chẳng quan hệ với ai trong phố. Nó là người công giáo, buổi tối hay đọc kinh và chủ nhật thường đi nhà thờ. Người ta ghép nó vào tội phản động“đội lốt thiên chúa giáo”.

Ngày 14 tháng 6. Tôi ngồi chơi ở bờ hồ Hoàn kiếm, phố Đinh tiên hoàng gần cửa hàng tổng hợp, thấy một ông già ngoài bảy mươi tuổi, mặc đồ bà ba vải nhuộm nâu, chân đất. Có lẽ ở nhà quê lần đầu ra thành phố, ông già đứng bên Hồ ngắm hai lá cờ của Ấn độ và Canada ở phố Đinh lễ. Thấy lạ mắt, ông già sang đường đến gần hai quả cầu ngắm tiếp. Thật thương tâm, ông già bị hai công an đến khoá tay đưa lên xe, có thể giải vào Hoả lò giam cứu?

Ngày 29 tháng 6. Bên cạnh nhà tôi, có một bác già gần sáu mươi tuổi, cả đời đạp xích lô. Bác ta dành dụm mấy năm mới đủ tiền mua chiếc radio Trung quốc. Tối nay bác già dò được sóng của đài phát thanh Sài gòn đúng vào chương trình ca nhạc. Thích quá, bác mở to để nghe nhạc vàng. Tội nghiệp, bác bị công an chộp bắt quả tang, tóm cổ và thu luôn đài. Nghe đâu, nhẹ nhất bác cũng bị hai năm tù và một năm mất quyền công dân. Thực ra ở chế độ Cộng sản không có quyền con người, vậy quyền công dân có ý nghĩa gì?

Ngày 8 tháng 7. Buổi sáng, đến vườn hoa Giám, tôi gặp lại người bạn gái (chưa yêu thì chia tay), Hồng thản nhiên nói:

– Chắc anh không ngạc nhiên vì hàng năm nay tôi không quan hệ với anh. Tôi đã nhầm vì có ý nghĩ yêu anh – một thanh niên chậm tiến và lạc hậu.

Không nhìn lại em, tôi cúi đầu đi thẳng. Thật nực cười, trong tình yêu cũng trộn lẫn mùi chính trị. Tôi không dám, không thể yêu ai và tự an ủi mình khi nhớ tới lời của Pessorine:“Tôi khinh phụ nữ để khỏi phải yêu, nếu không đời sẽ trở thành một tấn bi kịch thật là lố bịch”.

Buổi tối, khuya tôi mới đi ngủ, đến với tôi một giấc mơ kỳ diệu. Vào buổi ban mai, trên ngọn núi F
uji hoa anh đào tươi mát khoe sắc rực rỡ dưới ánh dương, một thiếu nữ diễm lệ đến với tôi và hứa yêu tôi – một tình yêu chung thuỷ. Em nói, trên tổ quốc em, tình yêu phi chính trị và không có giai cấp tính. Tôi sung sướng đón nhận tình yêu trong sáng đó và đặt lên môi em một nụ hôn nóng bỏng. Tỉnh dậy, tôi vẽ chân dung em và khẳng định một ngàn lần em yêu tôi mãi mãi. Chao ôi, nụ hôn đầu tôi dành cho người trong mộng biết đâu cũng là nụ hôn cuối cùng của cuộc đời mình?

Ngày 12 tháng 8. Tôi đến Cửa nam, thấy công an giải một thanh niên bị khoá tay. Người ta nói, gã mắc tội hát nhạc vàng, ít nhất là bốn năm tù. Nếu lý lịch gia đình không tốt với chế độ thì mức án tăng theo cấp số.

Ngày 1 tháng 9. Buổi tối, mụ tổ trưởng bảo, sáng mai hộ này cho một người đi dự mít tinh ở quảng trường ba đình. Tôi nhận lời nhưng dự định cứ trình diện xong đến chỗ nào thuận lợi sẽ chuồn.

Ngày 2 tháng 9. Sáng nay, tôi dậy từ hai giờ, ra điểm tập trung đã đông người. Họ điểm danh và bắt xếp hàng theo thứ tự số nhà, tổ rồi đến khối phố. Cách quản lý người như thế trốn sao được? Tôi nghĩ, thôi cũng đành phải đi đến khi tan cuộc vậy.

Sáu giờ sáng đoàn người dự mít tinh của khối phố đến quảng trường. Và có lẽ đến chín giờ mới giải tán ra về. Quả thực, suốt mấy giờ tôi miên man suy nghĩ đâu đâu, chẳng hiểu cuộc mít tinh đã diễn ra như thế nào?

Ngày 3 tháng 9. Buổi sáng, mụ tổ trưởng và công an đến nhà. Mụ hỏi mẹ tôi, ngày đại lễ mà nhà này không treo cờ? Mẹ trả lời, tôi lo đã lâu nhưng lương ít quá chỉ đủ tiền đong gạo nên chưa sắm được. Mụ nói, tuy không bắt buộc nhưng qua đó khối phố biết được thái độ chính trị của gia đình.

Công an hỏi, buổi mít tinh sáng hôm qua, sao anh Khoa không hưởng ứng hô khẩu hiệu?

Mụ tổ trưởng thêm, anh ấy cứ lủi thủi đi như đưa đám vậy.

– Tôi cảnh cáo anh lần đầu – Công an tiếp – nếu lần sau còn tái diễn, sẽ đề nghị đưa anh đi cải tạo.

Ngày 10 tháng 9. Gặp thằng Hùng, nó cho biết thày Khánh dạy sử mới bị toà án xử phạt bốn năm tù về tội phản tuyên truyền: ca ngợi tổng thống Roosevelt và vai trò của Hoa kỳ trong đại chiến thế giới thứ hai.

Ngày 11 tháng 10. Chị Bích, vợ của anh Thung hôm nay đi với một thanh niên khác. Nhìn thấy tôi, chị ấy coi như không quen biết mặc dù tôi đã nhiều lần gặp và nói chuyện ở nhà anh Thung. Đáng thương cho anh Thung hiền lành, lương thiện, tai hoạ đến vừa đi tù, vừa mất vợ.

Ngày 13 tháng 11. Sáng nay, tôi bắt đầu đi làm ở tổ hợp tác đồ chơi trẻ em phố hàng Buồm. Ngoài tôi và ông tổ trưởng, còn lại đều là phụ nữ bao gồm các bà, các chị bị cấm buôn bán nên đến đây làm việc kiếm ăn. Bầu không khí thầm lặng, buồn tẻ.

Ngày 19 tháng 12. Buổi chiều, công an hộ tịch và mụ tổ trưởng đến nhà bắt tôi đi dự mít tinh sáng ngày 20 – 12 để kỷ niệm một năm ngày thành lập mặt trận giải phóng nam Việt nam. Tôi từ chối với lý do sinh hoạt theo hợp tác. Mẹ tôi nói thêm vào và van xin họ mới buông tha, bảo Mai – em gái tôi đi thay. May quá, nếu tôi chưa làm hợp tác mà phải dự mít tinh lần này không khéo phải đi tù. Mụ tổ trưởng hỏi, bà sắm cờ chưa? Mẹ nhanh nhảu trả lời, dạ, tôi sắm rồi, sáng mai treo sớm. Thế mới đúng chứ – mụ cười nhe hàm răng hổ.

Vì mảnh vải nhuộm máu mà tôi bị mẹ chửi một hồi lâu. Chả là em trai tôi đang bị ốm, chẳng có gì bồi dưỡng. Chờ mãi đến kỳ lương, mẹ tôi đong gạo, còn lại mấy đồng đi mua cờ. Bực quá, tôi ca cẩm, mẹ lạ thật, con ốm đang cần miếng ngon để nuốt cho trôi thì mẹ lại sắm cờ. Có thái độ chính trị tốt, họ cũng chẳng thí cho xu nào đâu mẹ ạ.

Mẹ lồng lộn hét mắng tôi, tôi biết anh giống cái thằng bố anh rồi. Người ta liệt vào loại thái độ chính trị xấu bao giờ mới ngóc đầu lên được? Từ nay, anh phải khoá cái mồm lại, nếu không anh gây tai hoạ cho cả nhà chứ chẳng chơi đâu. Đồ theo đuôi phản động!…

Nhà Khoa ở phố Nguyễn thái học, gần Kim liên, một gian nhà trên gác rất đẹp, có ban công ngoài mặt phố. Trong nhà đơn sơ, không có đồ dùng gì quý. Trên tường treo nhiều tranh vẽ của Khoa. Đáng chú ý là bức tranh bằng bột màu chân dung cô gái với dáng vẻ yểu điệu thướt tha, vẻ mơ màng huyền ảo. Bên dưới bức tranh viết: Em yêu tôi đến trọn đời.

Tôi hỏi Khoa:

– Người yêu trong mộng đây chăng?

– Chắc chắn người đẹp không bao giờ phản bội – Khoa gật đầu và nói.

Tháng Bảy 22, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: