Eventfulday's Blog

Kỳ 16 – Nhà tù – Trại cải tạo An thịnh (4)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 16

HỒI BA – Nhà tù

II – Trại cải tạo An thịnh

Ngày 28 tết, trung uý Nguyễn văn Hồng gọi tôi lên văn phòng, hắn hỏi:

– Gần đây, anh đã vi phạm nội quy?

– Thưa ông, tôi vi phạm gì? – Tôi bình tĩnh hỏi lại.

– Tại sao gặp ông Tưởng anh không chào?

– Thưa ông, đúng thế. Nhưng các ông biết một mà chẳng xét hai. Nếu từ trước đến nay, gặp ông Tưởng tôi không chào là sai, nhưng gần đây mới thế là do ông Tưởng.

– Anh nói láo dám đổ tội cho cán bộ à?

– Tôi xin ông hãy bình tâm lại để tôi được trình bầy cho rõ. Tôi biết mình là một thằng tù, khi gặp các ông buộc tôi phải chào trước, nhưng chào phải được đáp lại.

Gần đây, tôi chào ông Tưởng, để đáp lại lời chào, ông ấy coi tôi như vật vô tri, vô giác nên im lặng đi qua. Vì lẽ đó, lần sau gặp ông Tưởng, tôi nhận thấy không phải chào ông ấy nữa. Thưa ông, như thế sai do ai?

Trung uý Hồng dịu giọng:

– Chào một câu chẳng mất gì, anh ngang bướng chỉ thiệt đến thân thôi.

– Thưa ông, tôi biết ông Tưởng có quyền đưa tôi vào xà lim cùm cho đến chết, còn điều hơn, lẽ thiệt là do suy nghĩ của từng người.

Trung uý Hồng xoay sang chuyện khác.

– Bề ngoài tưởng anh chấp hành tốt nội quy của trại nhưng bên trong, anh là phần tử nguy hiểm, hành động rất tinh vi để che đậy bản chất phản cách mạng.

– Nếu tôi sai phạm gì, xin ông cho biết, tôi phải chịu kỷ luật?

– Ý thức, tư tưởng là trừu tượng, rất tiếc chúng tôi chưa có chứng cớ về cử chỉ hoặc lời nói của anh.

– Các ông là những người duy vật, muốn biết bản chất của người hay sự vật phải suy diễn từ hiện tượng. Nếu không có hiện tượng mà suy luận theo cảm tính, tôi e rằng các ông không phải là người duy vật nữa…

– Anh im đi – Hồng nói cướp lời – Hôm nay tôi chỉ báo động cho anh biết thế thôi. Anh nên nhớ, từ anh đến nhà kỷ luật chỉ cách nhau trong gang tấc.

Đến chiều, khi tù sắp đi làm, trung uý Hồng thông báo:

– Ba anh ở toán xây dựng là Nguyễn Tâm, Trần khắc Tụ, Vũ Thiêu ở lại trại để gặp ban giám thị.

Nghe xong, bác Tụ hoảng hốt hỏi tôi:

– Anh có đoán ra được tin này dữ hay lành không?

– Tất nhiên là tin dữ, có thể họ đưa mình vào nhà kỷ luật nếu không thì họ chuyển mình vào trại B.

– Theo tôi, chỉ có thể mình phải chuyển trại, còn kỷ luật họ chẳng có chứng cớ gì?

– Vâng, mình phải chuyển trại có nhiều khả năng hơn, nhưng muốn đưa mình vào nhà kỷ luật, họ cứ làm, họ cần gì chứng cớ. Cũng như hàng vạn người dân lương thiện họ đưa vào tù đã có chứng cớ gì đâu?

Sau khi tù đi làm hết, trung uý Hồng gọi chúng tôi ra cổng trại tuyên bố:

– Các anh là những thành phần cải tạo xấu nên quyết định của ban giám thị chuyển các anh vào trại B.

Dẫn giải đi đường, có trung uý Hồng và hai lính vũ trang. Cuộc chuyển trại đặc biệt này làm bác Tụ hoang mang lo sợ, còn tôi thấy thản nhiên, đồng thời cũng là một niềm vui, vì ở phân trại mới có Khoa, anh đã xa tôi gần mười tám tháng.

Trời tối đen như mực, chúng tôi mới được vào phòng giam cùng toán rau xanh. Khoa ở toán lâm sản cùng phòng. Khoa gặp lại tôi tay bắt mặt mừng, Khoa nói:

– Mày vào toán rau xanh đáng sợ lắm đấy.

– Đáng sợ gì? – Tôi hỏi.

– Quản giáo toán rau xanh là thượng sĩ Lã văn Hạp chuyên đấm đá tù. Ai ngang bướng đều đưa về toán ấy để hắn trị.

– Mày phải biết nếu tao không khéo để mắc một sai phạm nhỏ, ngay ở trại A, bọn cai ngục cũng có cớ để cùm tao. Người dạy hổ phải hiểu tính hung hãn của từng con vật thường diễn ra trong hoàn cảnh nào. Còn chúng ta muốn tránh những đòn thừa phải nhanh chóng hiểu được bản chất của từng tên cai ngục đang quản lý mình. Ngoài định mệnh hoặc phải trả giá để bảo vệ danh dự, chúng ta nên xác định thời kỳ những anh hùng phong kiến, những hiệp sỹ đã qua. Ngày nay, con người muốn tồn tại bên kẻ thù – loại kẻ thù nham hiểm và tàn bạo nhất – phải khu xử với chúng bằng sự khôn khéo và thủ đoạn. Chúng ta không nên quên truyện nằm gai nếm mật và Tôn Tẫn giả cuồng.

Khoa hỏi tôi:

– Tao muốn theo đạo, đi tu, mày nghĩ thế nào?

– Nếu mày có đức tin, đồng thời là lối thoát của tâm hồn mày thì cứ việc. Đến nay có lẽ mày hoàn toàn nhất trí với cái đẹp của Hegel.

– Đúng thế, trong thế giới mình đang tồn tại làm gì còn cái đẹp. Còn mày?

– Tao coi cuộc đời như canh bạc mà mình đã thua cháy túi. Xét cho cùng, như xưa kia tao đã nói, canh bạc này đối với chúng ta cũng chỉ có hoà thôi. Tao tôn trọng những ý thức của mình. Nếu phải bỏ xác ở nơi này, tao cũng trung thành gói ghém ý nguyện về cõi.

– Vào đây, ch
úng ta khó vượt qua chặng đường gian nan phía trước. Cuộc chiến đấu của mình cô đơn không chỗ dựa, không gửi gắm được một niềm tin. Xung quanh ta, đa số là những người hèn nhát, sa đoạ, mệt mỏi vì cuộc sống khắc nghiệt hàng ngày. Xa hơn, chính quyền Sài gòn không thể là đối thủ ngang sức với Cộng sản, họ sẽ thất bại. Rốt cuộc, đời chúng ta hy sinh vì những mục đích quá xa vời.

– Nhầm rồi Khoa ạ! Chiến đấu chống lại bất công, tàn bạo bao giờ cũng là một chân lý. Điều đáng buồn là sức mạnh của cái ác đang chiến thắng trên mảnh đất này, Nếu chúng ta hy sinh đời mình cho chân lý thì ý thức của mình vô cùng đẹp. Mặt khác, không phải chúng ta cô đơn, ngoài tổ quốc mình và thế giới Cộng sản, chúng ta có hàng tỷ người là đồng minh trong thế giới tự do.

– Nghĩ cuộc đời mình sao mà mù mịt thế? – Khoa nói – Nếu thành kẻ tử tù có thể còn là điều may mắn. Năm bảy năm nữa, họ tha mình để tiếp tục cho trọn đời nhục nhã vì sự hắt hủi của xã hội, sự bài xích, chế giễu của những thằng mê muội.

Dù sao tao vẫn mang quan niệm nhân dân là đàn cừu hay công cụ vô ý thức của lịch sử, họ a dua, phục tùng kẻ có quyền hành, kẻ cầm vũ khí, số đông uý tử, cầu sinh. Mày thử ước tính xem, có tới chín nhăm phần trăm đảng viên Cộng sản là bọn theo đóm ăn tàn, có biết gì học thuyết Marx – Lénine. Chính vì vậy, tao chỉ còn một lòng tin nơi đất Chúa.

– Đúng là điều đau lòng cho một dân tộc muốn có tự do, hạnh phúc lại sợ mất mát, hy sinh, phục tùng chế độ tàn bạo và bịp bợm. Bằng những lời ru ngủ ngọt ngào, êm ái của sự tuyên truyền xảo trá đầy hoa gấm, đại đa số người dân vẫn say sưa trong giấc ngủ triền miên. Đó là điều đáng thương của dân tộc chứ không đáng trách. Hàng nghìn năm Bắc thuộc, gần một thế kỷ Pháp thuộc rồi nối tiếp chế độ Cộng sản không có nhân quyền, thử hỏi có bao nhiêu người Việt nam ý thức được các quyền tự do, dân chủ? Cam chịu hoặc bằng lòng với kiếp sống nô lệ trở thành bản năng của đại đa số người dân.

Tôi hỏi thêm Khoa:

– Đứng bên bờ vực thẳm, tâm hồn mày còn cảm hứng bay bổng nữa không?

– Vẫn còn nhưng chẳng đáng là bao. Cuộc sống tại địa ngục này, các văn nghệ sỹ cũng phải cạn hoặc khô ráo nguồn cảm hứng.

Cách đây mấy tháng, tao dịch đoạn thơ của Đỗ phủ:

Đạm đạm trường dạ vũ,

Khoan khoan điểu lạc đề

Song tiền quan lạc điệp

Cô vạn sầu thê thê.

Dịch:

Mưa rơi thánh thót canh dài

Vẳng đưa khoan nhặt một vài tiếng chim,

Ngoài song lá rụng đầy thềm

Riêng ai tê tái nỗi niềm trong lao.

Gần đây, trong một đêm mất ngủ, nhìn vầng trăng qua song cửa (mấy lỗ vuông mèo chui) tao ngẫu hứng mấy vần:

Trăng rừng bềnh bồng

Trôi quá nhà lao

Sương đông lạnh buốt

Qua song lọt vào

Đêm nằm thổn thức

Ôm sầu mênh mông

Về đâu trăng hỡi

Số kiếp lênh đênh.

– Cầu mong chúa sẽ ban phước lành cho mày, đau khổ là đường lên ánh sáng.

* *

*

Sáng hôm sau ngay đầu giờ làm việc, quản giáo Lã văn Hạp gọi tôi, hắn nói:

– Chắc anh biết việc chuyển trại của các anh là đặc biệt. Không phải do biên chế lao động mà do tư tưởng xấu của các anh ở trại ngoài.

– Thưa ông, tôi đã vi phạm gì về tư tưởng?

– Tất nhiên về phần tư tưởng là trừu tượng, không thể có chứng cớ gì nhưng cũng nói xa để anh hiểu. Chẳng hạn, ban giám thị và cán bộ chúng tôi giải thích chủ trương của đảng và nói về chiến thắng hai miền cho phạm hết ngày này, qua ngày khác, trong khi đó, các anh chỉ tuôn ra vài lời là vô hiệu hoá sự giáo dục của chúng tôi.

– Thưa ông, thật là một điều kỳ quặc khi các ông đang nắm trong tay số phận của mọi thằng tù, tại sao họ không tin các ông mà lại tin tôi? Thực ra, ngoài miếng ăn hàng ngày, đa số tù ở đây không thể quan tâm đến một việc gì.

– Nếu anh chưa biết, tôi cũng nói trước, các anh ở trại này thường xì xào bàn tán tôi hay đánh phạm. Đúng đấy! Tôi phải dùng vũ lực với những anh hay vi phạm. Tôi khuyên anh nên tránh.

– Thưa ông, lũ tù tội đã là cơ nhục, tôi hy vọng rằng, không phải chịu thêm một nỗi nhục khác. Tuy nhiên, tôi xin lỗi ông trước, các ông muốn đánh đập một thằng tù có khó khăn gì nhưng có lẽ cũng chẳng hay gì?

– Anh nói đúng một phần, nhưng muốn bắt phạm cải tạo thì biện pháp trừng phạt là quyết định.

– Thưa ông, biện pháp trừng phạt không phải để tù cải tạo, mà chỉ làm cho tù sợ mà thôi…

Đang nói chuyện với tôi, hắn bỏ dở để chạy ra ngoài bắt quả tang bác Vũ quang Nghĩa lấy sắn trên đồi. Sau khi bác Nghĩa bị Hạp đấm đá một hồi tàn nhẫn, bác Nghĩa đau quá vật vã van xin, Hạp ra lệnh:

– Mày phải luộc ăn hết, nếu còn bỏ lại, ông gang mồm mày ra mà tọng vào.

Bác Nghĩa lấy đến bốn cân sắn, nếu luộc ăn một bữa thì sao mà hết? Bác sợ quá run lẩy bẩy. Bác bị hành từ tám giờ sáng đến chiều, vừa đau, vừa nhục. Theo lời đề nghị của Hạp với ban giám thị, đáng nhẽ bác phải vào nhà kỷ luật hai tuần nhưng do cơ thể bác đang tàn tạ lại ăn cố sắn bị bội thực và say, ốm một phen thập tử nhất sinh. May mà đúng vào dịp gia đình lên tiếp tế, nếu không trận ốm ấy có lẽ bác phải về bên kia thế giới.

Ngẫm nghĩ, đây cũng là một mẩu chuyện cười ra nước mắt, Lã văn Hạp xuất thân là một nông dân, có thể mới qua lớp i tờ, được toàn quyền gọi thày giáo là mày và xưng ông, toàn quyền đánh đập và giáo dục thày. Ngôn ngữ giáo dục dưới chế độ Cộng sản cũng đầy kịch tính, thằng vô học răn dạy thày giáo, kẻ mất hết tính người được coi là tấm gương cho người có lòng bác ái.

Hàng ngày Hạp hành hung những người vi phạm: lấy cắp rau, sắn hoặc đun nấu trong giờ làm việc. Nhiều người bảo Hạp đánh đập tù như một thằng nghiện phiện cũng không ngoa. Ngày nào không được đánh người, hắn tỏ ra hằn học, tức tối. Ngày nào hành hung được nhiều phạm, mặt hắn có vẻ dịu dàng dễ thương hơn. Người bị đòn nhiều nhất là bác Phúc mù người Hải phòng, thường xuyên bị Hạp đấm đá, có ngày hai ba lần. Một hôm từ sáng đến chiều Hạp chưa được hành hung ai, hắn gọi bác Phúc mù đến nhà lô, hắn quát:

– Ngày mai, ông đi họp, chắc chắn vắng mặt ông, mày sẽ vi phạm, ông phải đánh mày trước.

Nói xong, Hạp thoi ngay một quả đấm mạnh vào mặt bác, nạn nhân loạng choạng ngã sòng soài, liên tiếp hắn bồi thêm dăm ba cú đá vào mạng sườn, đau quá bác Phúc mù van xin rối rít:

– Tôi xin ông tha, ngày mai tôi không dám vi phạm, tôi xin ông, tôi xin ông! …

Chung quy lại, Hạp thường xuyên đấm đá hơn một chục người. Người vi phạm và bị đòn nhiều lần cũng thành một thói quen chịu đựng. Có người nói, họ muốn giết dần mình bằng cách cho ăn đói, để giành lại cuộc sống, giành lại mồ hôi mình đổ xuống đồi sắn, ruộng rau, mình phải lấy cắp lại. Đó là cách tự vệ, nếu họ bắt được phải trả giá cũng là lẽ bình thường.

Tù mà phải chịu khổ nhục là lẽ đương nhiên. Nhưng cái đói đã làm cho nhiều người không cần lưu ý đến nỗi nhục, họ nghĩ và hành động miễn sao có ăn là được, bất chấp mọi sự có thể xảy ra.

Nhân ngày 10 –8, ngày tôi hết án, Hạp gọi tôi vào nhà lô, hắn nói:

– Hiện nay chúng tôi chưa nhận được gì quyết định về anh. Tuy nhiên, anh phải xác định nếu chưa được về cũng là do anh cải tạo chưa tốt.

– Thưa ông, tôi biết số phận mình có lẽ còn rõ hơn ông, hiện nay tôi chưa được tha cũng là điều dễ hiểu. Còn phần cải tạo, các ông cứ đổ lỗi cho tôi chưa tốt, xin ông cho một ví dụ!

– Các anh vi phạm hằng ngày bị tôi đấm đá, thực ra chỉ thuộc phạm vi sinh hoạt không có gì nguy hiểm. Còn anh, mặc dù không sai phạm nhưng thường xuyên quan hệ với những phần tử xấu. Nếu anh làm tốt các tiêu chuẩn cải tạo, tại sao không bao giờ anh tố cáo sai phạm của người khác. Ngay trong phạm vi sinh hoạt hàng ngày anh phải thấy không anh này thì anh khác vi phạm nội quy, ăn cắp tài sản của trại, có đúng không?

– Thưa ông, ai xấu với chế độ nên mới phải vào đây, tôi biết ai là người xấu hơn ai. Mặt khác, hàng ngày tôi được nghe tù kêu khổ, trong đó có tôi. Điều đó là tất nhiên, tôi tố cáo cái gì? Còn vi phạm nội quy, tôi cũng như anh em khác, nếu có điều kiện thuận lợi, tôi cũng làm. Thưa ông, trong trại giam, còn một điều duy nhất, mong các ông châm chước, đó là tình thương lẫn nhau của những người đồng cảnh.

– Tôi phải trình bày với ban giám thị, đã bất lực về phương pháp giáo dục anh. Anh đừng tỏ thái độ gì tiêu cực sẽ không có lợi gì cho anh đâu. Mặt khác, tôi cũng khuyên anh đừng để tôi phải dùng vũ lực.

* *

*

Sáng 4 – 9, trước giờ đi làm, Hồ sĩ Tưởng thông báo ông Hồ chết, hắn nói:

– Chắc các anh đã biết, bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc và cả thế giới đã từ trần. Hai ngày nay, chúng tôi đêm mất ngủ, ngày quên ăn, ai cũng khóc vì nhớ thương bác. Trong khi đó, đại bộ phận các anh thái độ nhởn nhơ, có một số anh tỏ vẻ vui mừng. Từ giờ phút này, tôi thay mặt ban giám thị ra lệnh, nếu anh nào tỏ thái độ hân hoan, cười đùa là hành động khiêu khích, chống đối, ngay tức khắc chúng tôi đưa vào nhà kỷ luật.

Một màn kịch được biểu diễn có hai loại diễn viên: một loại là cai ngục khoảng hơn hai chục tên, có mấy tên cuồng tín khóc thật, còn lại những dòng nước mắt cá sấu thi nhau chảy; một loại là tù gần năm trăm người mặt cúi xuống, lặng lẽ, nhiều người lấy tay che mặt để khỏi lộ vẻ vui mừng vì cái chết của tên bạo chúa. Thật kỳ quặc, những thân tàn héo vì đói khát, vì bị hành hạ phải đóng thành diễn viên thì làm sao cho thành đạt? Tất nhiên, để tránh tai vạ ai cũng phải cố gắng để khỏi bật ra tiếng cười.

Bên tù hình sự, có một thằng mắc bệnh tâm thần, tên là Hiệu. Nó bị tù đã bảy tám năm, nó phạm tội đi lang thang, nhặt nhạnh mọi thứ có thể ăn được cho vào mồm. Hiệu làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của xã hội chủ nghĩa bên ngoài nên người ta bắt Hiệu. Từ trại giáo dưỡng, Hải phòng, Hiệu được chuyển đến trại này giữa năm 1966. Quần áo, chăn màn, chiếu trại phát cho Hiệu, nó dùng đến khi nào rách không bao giờ giặt. Nó cũng chẳng bao giờ tắm, đi đại tiện không cần chùi hay rửa. Khi khát nước Hiệu bạ đâu uống đấy: nước cống, nước vũng đọng cũng được. Bắt được nhái, dế mèn hay các loài sâu bộ ăn được là Hiệu cho mồm nhai ngấu nghiến không
cần qua lửa. Do vậy, từ cơ thể nó bốc ra một mùi thối đặc biệt, khó chịu hơn các loại phân. Hiệu đi đến đâu là mọi người phải tránh xa. Buổi trưa hôm ấy Hiệu sang phòng giam chúng tôi, nhiều người sợ, lớn tiếng hò hét đuổi nhưng chẳng ai dám lại gần. Hiệu nói tiếng Nghệ –tĩnh khó nghe mà lại buồn cười. Một số người quên khuấy ngày phải tỏ thái độ buồn rầu để chịu tang ông Hồ nên trêu trọc Hiệu làm trò cười. Không may Phi Lân lên tóm được bốn người đưa ra bốt gác. Hồ sĩ Tưởng giữa trưa vào tuyên bố đưa bốn người này vào xà lim cùm một tháng. Trong số đó có một người bỏ mạng vì yếu quá. Một người là Phạm văn Được, sau khi được tha, anh nói nhỏ với tôi:

– Cha già dân tộc khi chết biến thành quỷ vương hay sao mà thiêng thế? Ông ấy tiếp tục giết người.

– Anh phải hiểu, hồn ma ông ấy còn ám ảnh dân tộc hết thế kỷ này và có thể lâu hơn nữa – Tôi trả lời.

Cùng trong thời gian đó, tôi được nghe mấy vần thơ không biết từ đâu bay tới:

Nghe nó chết toàn dân đều phấn khởi

Con cáo già tội lỗi đã thành ma,

Bao nhiêu năm miền Bắc sống rên la

Dưới nanh vuốt của tên bạo chúa…

Một buổi tối, bọn cai ngục cho tù xem bộ phim thời sự về tang lễ ông Hồ. Ai không muốn xem đều bị đấm đá, kéo cổ ra khỏi buồng giam. Tối hôm ấy, ngồi bên tôi, bác Phạm hải Cầm, bác bị tù vì mấy câu nói bất mãn với chế độ trong lúc say rượu. Nhìn lên màn ảnh, bác nhận ra con gái mình đi qua quan tài ông Hồ, đang khóc. Thế là bác Cầm cũng khóc. Tưởng bác khóc thương ông Hồ, tôi hỏi:

– Bác xót thương người đứng đầu chính quyền bỏ tù mình à?

– Anh nhầm, tôi khóc oán con tôi, không thương bố mà lại khóc thương người bỏ tù bố mình.

– Nếu thế không nên oán trách chị ấy bác ạ. Ngay đến thằng tù, họ còn muốn bắt phải khóc thương huống chi người ở ngoài, nếu không biết đóng kịch dễ thành tai hoạ.

Trong thời gian này, có bài bình luận đăng trên báo nhân dân phê phán bài viết của một nhà báo Mỹ với tiêu đề:

“Hồ Chí Minh Cộng sản hay là yêu nước? ”

Với sự hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi có nhận xét đôi điều về bậc siêu nhân của thời đại.

Nếu không có ông ta, không có đảng Cộng sản sẽ không có cách mạng tháng tám, chậm nhất đến thập kỷ sáu mươi đất nước cũng được trao trả độc lập như các nước Đông nam á khác theo xu thế chung của thời đại. Mặt khác, nếu ông ta đi theo chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết mọi lực lượng của dân tộc thì tình hình đã thay đổi hẳn, trước hết được Hoa kỳ ủng hộ để chống lại thực dân Pháp. Ngược lại, ông ta theo chủ nghĩa Cộng sản, tôn Marx –Lénine làm sư phụ đưa đất nước vào cuộc chiến tranh triền miên, cốt nhục tương tàn, nồi da nấu thịt. Lợi dụng ước mong của một dân tộc sau hàng nghìn năm nô lệ, ông ta đã thành công trong sự tuyên truyền xảo trá đầy sức thuyết phục. Đang sống trong đêm đen, người dân không quản ngại hy sinh xương máu và tài sản theo ông ta tìm đường ra ánh sáng. Họ không ngờ rằng, sau khi sự thống trị của thực dân bị đập tan, ông ta đặt một ách thống trị nham hiểm, xảo quyệt và tàn bạo gấp nhiều lần thực dân, phong kiến.

Đỏ đầu làm tội chửa qua

Trắng răng làm tội bằng ba đỏ đầu

Những chiến tích, những sự kiện anh hùng như Điện biên phủ, người dân được gì ngoài những chiếc khăn tang, ngoài cuộc sống quằn quại mất tự do như thân trâu ngựa? Phải chăng những chiến tích, những sự kiện anh hùng chỉ bồi đắp uy tín và xây dựng ngai vàng của ông ta thêm vững chắc?

Ai tự nhận mình là học trò trung thành, xuất sắc của Marx – Lénine? Ai thực hiện thứ học thuyết ngoại lai cực kỳ vô nhân đạo, dùng các biện pháp chém giết, hành hình, đầy đoạ con người là kim chỉ nam trong hành động, đi đôi với guồng máy tuyên truyền bịp bợm, phỉnh phờ?

Nội các năm 1945 là một màn kịch nhà nước toàn dân, các ông Nguyễn tường Tam, Vũ hồng Khang sớm cao chạy xa bay mới tránh được lên đoạn đầu đài. Ân nhân của ông Hồ là cụ Nguyễn hải Thần đã giúp ông ta thoát khỏi nhà tù của Tưởng giới Thạch, may mà cụ Nguyễn hải Thần cũng nhanh chân mới thoát khỏi cảnh ông ta cắt đầu để trả nghĩa. Cuộc chiến tranh chống Pháp về danh nghĩa là cuộc chiến ái quốc nhưng ông ta đã lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc để phục vụ cho mục đích Cộng sản của mình. Trong cuộc chiến tranh này, ông ta không từ bỏ mọi biện pháp tàn bạo nào để giết người. Hàng vạn người dân lương thiện bỏ mạng vì sự nghi ngờ liên quan với địch: bắn, chém, buộc vào đá quẳng xuống sông, chôn sống, róc thịt chân tay cho chết dần…

Ai là người chịu trách nhiệm về thảm hoạ cải cách ruộng đất? Ngoài hàng chục vạn người chết oan, hàng triệu gia đình tan nát, ai tạo dựng một thời kỳ loạn luân “ông con, bà con – thằng bố, thằng ông, bà vợ – thằng chồng”. Nếu cụ Nguyễn sinh Sắc còn sống, là một nhà nho, cụ nghĩ gì việc đứa con trai mình ra lệnh đào tận móng những nét tinh hoa của thành tựu đạo đức đã được đúc kết hàng nghìn năm lịch sử? Cũng từ đó, nếp sống đạo đức của dân tộc bị băng hoại dần và khủng hoảng ngày thêm trầm trọng, đến nỗi tình thương và lòng nhân ái bị huỷ hoại ngay trong mỗi gia đình: con cái bạc ác với cha mẹ, vợ chửi lại chồng, anh em trong cảnh huynh đệ tương tàn. Một xã hội, quan hệ giữa con người với nhau như dã thú.

Ai đã ra lệnh thành lập các trại tập trung để tù đầy hàng chục vạn người vô tội, trong đó có hàng chục nghìn người bỏ mạng vì những cực hình? Ai �
�ưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp để cuộc sống của họ cơ cực dưới nanh vuốt của những tên chủ nhiệm như lãnh chúa miền quê? Với chính sách đưa người đi vùng kinh tế mới – một chính sách mang con bỏ chợ và lời tuyên bố “làm Hà nội trong sáng như pha lê”, ai có mưu đồ giải toả đô thành, đưa hàng vạn người ra khỏi thành phố để họ sống khắc khoải trong các miền rừng núi?

Lời tuyên bố của ông ta “không có gì quý hơn độc lập, tự do” thực chất là một chiêu bài lừa bịp. Đã là Cộng sản thì làm gì còn lòng yêu nước. Hơn hai thập kỷ qua, chính quyền của ông ta đã và đang làm mọi cách để thủ tiêu phong tục, tập quán cũng như di sản văn hoá của dân tộc. Nền chuyên chính vô sản có khác chi nền quân chủ chuyên chế khi xưa? Phải chăng nó có cái hơn hẳn về mặt tàn bạo và guồng máy kìm kẹp tinh vi, xảo quyệt nhằm tước đoạt quyền tự do của người dân? Là tay sai trung thành của cái gọi là phong trào Cộng sản quốc tế, với mưu đồ Cộng sản hoá miền Nam thì cuộc chiến để thực hiện mưu đồ ấy không thể là cuộc chiến vì độc lập, tự do. Ai chịu trách nhiệm cái chết của hàng triệu sinh mạng và sự tàn phá của cuộc chiến hiện nay?

Đất nước đang trong bóng tối của sự hoảng loạn. Thật đau lòng, một dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm đen tối, bao nhiêu thập kỷ nữa mới xuất hiện ánh bình minh và trên bầu trời thần Apolon ngự trị?

* *

*

Cuối năm 1969, để xoá mờ những hành động khủng bố, tàn sát ở trại giam này, họ chuyển tù phản cách mạng đi các trại khác. Sáng ngày 27 – 12, bọn cai ngục chuyển hàng trăm tù ra trại chính (trại A). Đến chiều, một tu sĩ ở nhà thờ Phát diệm là Vũ ngọc Ánh cũng bị đưa ra trại chính. Ánh bị tù từ năm mười sáu tuổi, thân phụ Ánh bị hành quyết hồi cải cách. Ánh có khuôn mặt giống bức tranh vẽ mặt đức mẹ Maria của Léonard de Vinci. Lúc đó, Khoa còn ở trại cũ, tưởng mỗi người đi một phương nên làm bài thơ tặng Ánh:

Chiều nay nắng nhạt vương sườn núi,

Lặng lẽ em đi dưới nẻo rừng,

Gánh nặng đường xa em yếu quá,

Thương thương chẳng khóc lệ rưng rưng.

Ra đi không một lời ly biệt,

Ta lặng nhìn nhau phút chia phôi,

Anh chắc lòng anh em đã biết,

Sắt son một dạ dù đôi nơi.

Ngẩn ngơ đứng dưới chiều sương lạnh,

Ngắm bóng em dần khuất nẻo xa,

Quạnh quẽ đìu hiu buồn vươn cánh,

Gió ngàn vi vút ánh dương tà.

Anh muốn đưa em mấy độ đường,

Cùng nhau chia sẻ nỗi ly hương,

Nhưng làm sao được hàng song sắt,

Xa cách còn hơn vạn dặm trường.

Cho anh gói lại bao ngày khổ

Của kiếp phong trần ở thế gian

Em giúp anh về dâng kính Mẹ

Lòng anh yêu mến Mẹ vô vàn.

Ánh hỡi từ nay xa cách mãi

Để lòng da diết nhớ thương em.

Khổ đau từ thuở còn thơ dại,

Giữa chốn lao tù em lớn lên.

Sóng gió, biển trần em vẫn đẹp

Thơm như hương nhuỵ của nhành lan.

Cùng em hái những ngày xuân thắm,

Xin kính dâng người yêu chứa chan.

Trưa ngày 28 –12, không kịp xếp hàng lấy nước ở toán, được sự đồng ý của trật tự trại, tôi xuống nhà bếp xin nước uống. Khi đi qua một phòng giam của tù hình sự, tôi thấy một thằng khoảng mười hai, mười ba tuổi, gầy như que củi, mặt lưỡi cày, đôi má nhăn nheo hóp lại, hai tai bị cắt chỉ còn lại nham nhở. Đầu năm tôi được tin ở trại này có một thằng bé trốn bị cắt tai, có lẽ là thằng này.

Hình dáng thằng bé kỳ quặc mà hình như tôi đã gặp nên chăm chú nhìn. Thằng bé đưa mắt nhìn lại tôi, đột ngột nó chạy lại đấm tôi túi bụi vào mặt và chửi tục:

– Đ… mẹ mày nhìn gì tao? Đ… mẹ thằng Bun ùm!

Vì yếu quá, tôi bị ngã, thằng bé cưỡi lên lưng tôi vừa đấm, vừa chửi loạn xạ. May lúc đó có trật tự đến nên nó bỏ chạy vào phòng giam, chẳng hiểu sao mới hơn chục tuổi mà côn đồ, hung hãn thế?

Căm giận và tủi nhục, tôi thất thểu về toán, nước cũng chẳng xin được.

Đến chiều, một thằng cùng toán với thằng bé, đến chỗ tôi, nó hỏi:

– Chú còn nhớ cháu không?

Thằng này xin vỏ chuối ngày tôi mới đến trại nên trả lời:

– Nhớ chứ.

– Cháu cứ tưởng chú họ Lưu hoá ra Bun ùm à?

– Đúng.

– Trưa nay, thằng con mú đánh chú có đau không?

– Bình thường thôi, nhưng sao gọi là con mú?

– Chuyện về nó hay lắm, chú muốn nghe phải cho cháu bắn hai phát

– Nhưng tôi không có đạn.

– Nếu chú đồng ý chiều nay ép rệp thì… à mà này, chú nuốt chậm gù phải không?

– Phải.

– Một suất tẻ chậm gù được thêm phát đạn. Nếu chú nhất trí chiều nay ép rệp, cháu về gặp thằng Phúc sờ L hụt đổi đem sang đây bắn ngay rồi bắt đầu câu chuyện. Bắn vài khói thuốc nâng cao sĩ diện kể chuyện mới có hứng thú.

– Sao gọi là Phúc sờ L hụt?

– Cũng là mẩu chuyện hấp dẫn ra trò, còn lẻ một phát đạn, chú cho cháu xin nốt, xin hầu chuyện chú ngay.

– Kể đi – Tôi nói.

– Bọn họ lưu có một lũ Phúc đều là vô phúc cả. Để phân biệt, đặt thêm cho mỗi đứa một tên đệm theo tính tình hoặc đặc điểm ngoại hình của nó: Phúc lắp, Phúc ngọng, Phúc câm, Phúc méo mồm, Phúc vổ, Phúc bẹp tai, Phúc xoăn, Phúc trố, Phúc chột, Phúc mù, Phúc mường, Phúc điếc, Phúc Băng cốc, Phúc lừa và Phúc sờ L hụt là một thằng…

Thằng này ở quê, nó đi câu cá, bơi lặn rất tài, tính tình hay nghịch ngợm. Vào một buổi trưa hè, một đứa con gái xinh xắn, mười sáu tuổi ra sông tắm. Không ngờ thằng Phúc câu cá ở bụi cây gần đó nhìn thấy, nó nhẹ nhàng lặn xuống đến sờ ả. Tội nghiệp, mới sờ vào người và mông ả, ả chạy ra chỗ khác hô hoán. Dân làng kéo ra, có cả bố ả, vô phúc cho thằng Phúc, bố ả là xã đội trưởng vốn có hiềm khích với gia đình nó. Cơ hội trả thù đã đến, ông xã đội trưởng buộc cho Phúc có hành động hiếp dâm. Phúc bị bắt và toà án xử Phúc năm năm tù. Từ đó, Phúc có tên là Phúc sờ L hụt.

Vào tù một năm, Phúc thành yêu quái hơn cả các bậc đàn anh lão luyện về buôn gian bán lậu và lừa. Ngày lễ, ngày tết, trại có mều, nó mua mấy suất đem kho kỹ, lấy nước ăn rồi cho nước và muối kho lại bán lấy vốn. Lấy bã chè sao lại, trộn lẫn vào chè để bán. Có thời gian các bậc đàn anh đều phải bó tay, riêng Phúc vẫn mang hàng lậu về trại. Một hôm nó mua một chiếc chăn len giá bốn lạng chè, nó nhờ bọn lâm sản đổi cho dân được một kí. Nó đổi chác cái gì đó cho bọn gánh rau tự giác lấy một bó rau muống để vào một cái túi to. Nó nói với một thằng trong toán, nếu mang rau qua bốt gác không khám thì thằng ấy được ăn, nếu khám thì làm như thế, như thế. Thằng ấy đồng ý. Trưa hôm đó, về bốt gác bị xếp hàng khám. Trật tự lục soát đến hàng cách nó một người, nó quát:

– Tao bảo mày nghe không, đưa túi hàng lậu ra?

– Việc gì đến mày? – Thằng cầm túi rau trả lời.

Tức khắc nó đấm thật mạnh vào mặt thằng kia lảo đảo ngã. Nó cầm túi rau quẳng thật xa về phía trước. Trật tự, vũ trang, cán bộ trực trại nhìn theo túi rau, nhanh như chớp, Phúc chuyển gói chè lên hàng trên đã khám rồi. Chuyến hàng lậu này Phúc thoát mà còn được cai ngục quản giáo khen là có thái độ đấu tranh với hành vi xấu của đồng bọn.

Một hôm làm bên cạnh lán lò rèn, Phúc thấy bác thợ nguội có cái lược sừng, cán dura đẹp quá, nó gạ đổi chác, bác thợ nguội không nghe, nó tuyên bố sẽ lấy cắp. Bác thợ nguội vừa dũa con dao cho một ông vũ trang, vừa bảo:

– Tao đố mày đấy.

Nói xong bác cho cái lược vào hòm, ngồi lên trên nắp hòm làm việc. Một lúc sau, hai thằng tù đuổi nhau và chửi tục. Một thằng chạy vào lán lò rèn cướp chiếc dao găm trên tay bác thợ nguội, đuổi theo thằng kia quát:

– Tao đâm chết mày!

Bác thợ nguội hoảng hốt chạy theo một quãng xa mới lấy được con dao găm. Khi hoàn hồn, bác sực nhớ ra, mở hòm xem thì cái lược đã mất rồi. Nào ngờ đâu, đó chỉ là màn kịch của thằng Phúc để lấy cắp chiếc lược mà thôi.

Nó làm một cái cân tiểu ly để cân rệp, mều, khoẳm hoặc sứa. Mãi sau người cùng chậu cơm với nó mới phát hiện được, suất ăn của nó bao giờ cũng nhiều hơn người khác. Bẻ cái cán cân bằng gỗ thấy bên trong cán rỗng như một ống nứa, có một thỏi chì dài ba phân di chuyển nhẹ nhàng. Bị một trận đòn đau, nó khai làm cái cán cân công phu lắm. Nó kiếm một cái gọng ô nhờ thợ nguội dũa một đầu như mũi khoan, nhờ bọn thợ mộc cho một thanh gỗ mềm to bằng cái cán dao, dài khoảng ba mươi phân. Để giữ bí mật, buổi tối Phúc buông màn vừa nằm vừa khoan mấy hôm sau mới thủng. Nó cho thỏi chì vào rồi nút hai đầu lại, lấy hai đầu lỗ khoan làm chuẩn, nó đẽo và gọt dần để thành cái cán cân bằng cái đũa. Phần điều chỉnh cân để được ít hay nhiều thì dễ thôi, ai cũng biết.

Sơ qua vài ba mánh khoé của thằng Phúc sờ L hụt để nó có thêm tên là thằng Phúc lừa.

Bây giờ cháu kể chuyện thằng con mú đánh chú nhé. Họ và tên nó là Phạm sinh Giang.

– Phạm sinh Giang à? – Tôi sửng sốt hỏi.

Nó là đứa con khốn nạn của chị Phạm bích Hằng.

– Vâng, cháu là bạn nối khố với nó ở chợ Bắc qua, hai đứa cùng xin ăn ban ngày và ban đêm cùng ôm nhau ngủ trên hè phố. Hai đứa cùng bị lùa vào khu một tuần và cùng đi trại giáo dưỡng một chuyến xe.

Khi vào khu, một ông trung uý hỏi cung nó, giống nó như bố với con:

– Họ tên mày là gì?

– Thưa ông, cháu là Phạm sinh Giang.

– Họ, tên mẹ mày?

– Mẹ cháu là Nguyễn thị Hà.

– Nói láo, mẹ mày là Phạm bích Hằng. Còn bố mày?

– Thưa ông, cháu không biết, mẹ cháu bảo bố cháu là một con quỷ.

– Mày nói láo – Ông trung uý quát, mặt ông hơi tá
i đi.

Quả thật cháu không biết nó có duyên nợ gì với ông mú này không? Những ngày còn ở khu, có lần ông ta cho thằng Giang một cái bánh mì, một lần một năm xôi. Xuất xứ thằng Giang có tên là con Mú từ đó.

Thời gian đầu vào trại thằng Giang ngoan lắm. Ai nói gì với nó, cũng gọi dạ bảo vâng. Tính tình nó mỗi ngày một thay đổi, đến nay nó hung tợn như một con thú dữ. Chẳng riêng gì nó, con nhà tử tế vào đây một thời gian nếu không lưu hoá thì cũng trở thành một đứa côn đồ hay lừa đảo, bê tha. Vừa qua thằng Giang gặp một tai hoạ, diễn biến như sau như sau: Cách tết mười hai ngày, một thằng cho nó vay một suất khoẳm ăn buổi sáng. Đến ba mươi tết thằng kia đòi nợ với cách tính cứ hai ngày không trả thì số nợ tăng gấp hai.

Thằng cho vay khoẳm tính theo cấp số cấp siếc gì đấy, nó bảo thằng Giang phải trả thành sáu mươi tư suất. Nó bắt phải trả ngay bằng cách lấy tất cả tiêu chuẩn ba ngày tết trừ rau. Thằng Giang hung hãn nhưng làm gì được nó, nó lớn hơn, gần hai mươi tuổi lại thuộc hội họ lưu Hải phòng mạnh nhất Bắc kỳ. Thằng Giang ngậm tăm mà chịu đựng. Họ lưu không như bên Bun ùm các chú đâu, nếu nói lộ chuyện đến tai quản giáo, chúng dùng luật giang hồ cho thằng Giang về chầu Diêm vương sớm. Ngay mùng ba tết đi làm, thằng Giang đói và mệt quá, chui vào bụi ngủ. Khi hết giờ làm việc, điểm danh về trại thấy thiếu người, ông vũ trang bắn ba phát súng báo động và tìm kiếm mãi. Ông trung uý quản giáo toán vớ được thằng Giang còn đang ngủ, lập tức ông lôi dậy và rút dao găm cắt luôn hai tai trước khi đưa nó vào nhà kỷ luật.

Thằng Giang bị cùm gần chết thì được đưa ra bệnh xá cấp cứu. Nó mới về toán đi làm được vài tháng nay.

Nghe đâu, ngày mai bọn Bun ùm các chú chuyển đi trại khác. May mà hôm nay là ngày chủ nhật, cháu mới được gặp chú và nói chuyện được dài. Để đền ơn chú đã cho cháu quả chuối khi xưa, cháu kể thêm một chuyện về thằng Phúc nữa. Thằng này quê ở Nghệ an. Hồi cải cách gia đình nó là địa chủ, nhà cửa bị trưng thu, bố mẹ nó bị bức tử và tự tử cả, chú bác, họ hàng chẳng ai dám cưu mang nó. Mới lên bảy tuổi, nó phải đi lang thang xin ăn. Nó nhảy tàu đến thành phố Nam định, ở đây các bậc đàn anh là họ lưu bao, ăn no nê. Một hôm nó phải thực hiện một phi vụ, ban đêm cùng các đàn anh trèo lên mái nhà cửa hàng bách hoá, lật ngói. Sau đó nó bám vào một sợi dây để các đàn anh thả xuống lấy trộm vải. Nếu lấy được hàng, nó buộc vào một đầu dây để các anh kéo lên. Tất nhiên nó cũng ra khỏi cửa hàng bằng cách đó. Nhưng khi thả nó xuống lại đúng quầy hàng bằng gỗ, động mạnh làm gã bảo vệ thức dậy bắt ngay. Mấy ngày hỏi cung chẳng có kết quả gì, mú dùng biện pháp tra tấn, trói hai tay nó treo lên xà nhà. Hai giờ sau, mú cởi trói để tiếp tục bắt nó khai tội, nó tuyên bố, các chú muốn giết cháu hay làm gì cũng được, từ bây giờ cháu không nói thêm một lời nào nữa. Tám năm sau, nó mười lăm tuổi, vẫn bé như đứa trẻ lên chín, lên mười nên nó có tên là Phúc còi. Thằng này mới cực kỳ hung hãn. Khi mâu thuẫn với ai, nó nói:

– Mày lớn hơn nên đánh được tao nhưng tao lại có gan chém được mày.

Đa số tù đều sợ nó. Có một thằng khi chia ăn cãi nhau, đấm đá nó. Vài ngày sau, toán đào hầm cho đơn vị vũ trang. Nó lấy được cái xẻng của bộ đội, đến sau lưng thằng kia chém hết sức vào cánh tay phải, cánh tay thằng kia gần đứt. Lần khác, một thằng cậy trong hội họ lưu Hải phòng bạt tai nó, đến sáng chủ nhật, thằng ấy chơi ở nhà ăn. Phúc còi lẻn xuống nhà bếp lấy trộm một con dao phay, bất ngờ lẻn đến chém thằng ấy. May mà thằng ấy đứng dựa cột nên nhát dao vướng, chỉ làm nó mất một mảng da đầu bằng nửa bàn tay, máu phun ra xối xả. Cả hai lần gây thương tật cho người khác, Phúc còi phải nằm xà lim sáu tháng và chuyển đi phân trại khác. Nếu không, nó cũng bị hội họ lưu trả thù giết chết.

Phúc còi nghiện thuốc lào nặng, nó thường ép rệp đổi lấy đạn để bắn. Một hôm, một người nhận tiếp tế có nhiều đạn, nó mang rệp đến đổi, người ấy không đồng ý. Nó xin một phát người kia cũng không cho. Đến đêm, nó lẻn đến chỗ nằm người ấy đánh bốt. Thằng Phúc còi mới là thằng vô phúc nhất, ông vũ trang tuần tra bên ngoài thấy động, nhìn vào lơ mơ vì phòng giam chỉ có một ngọn đèn dầu vặn nhỏ. Ông vũ trang quát:

– Anh nào kia, định trốn à, ra trình diện? Nếu không ra tôi bắn.

Thằng Phúc còi đứng áp sát vào vách im phăng phắc. Ông vũ trang nổ súng, một viên đạn xuyên qua đầu nó. Đời thằng Phúc còi kết thúc thì câu chuyện cháu kể đền ơn chú đến đây là hết.

Tôi nhìn thằng này cao hơn dạo trước được mươi phân nhưng thể xác nó vẫn quắt queo như cũ, tôi nói:

– Anh cũng cao lên đấy.

– Trẻ con vào tù nếu không chết, cũng phải dài ra chứ chú.

– Tên anh là gì?

– Cháu tên là Thưởng nên vào đây chịu phạt. Thời buổi này cũng lắm chuyện ngược đời, trong nhà tù, thằng Phúc thì vô phúc, thằng Nhân thì bất nhân, thằng Nghĩa thì bất nghĩa, thằng Hùng thì hèn, thằng Dũng thì nhát. Ngoài xã hội cũng vậy, cơ quan nào có kèm theo hai chữ nhân dân đều phản lại nhân dân: Công an nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, uỷ ban nhân dân… đều là những công cụ đàn áp nhân dân cả.

– Ít tuổi mà anh có ý nghĩ đáo để nhỉ? – Tôi nói.

– Từ cải cách, cháu đã mười ba năm bị đầy đoạ, trong đó có năm năm bị tù oan cũng phải làm cho cháu khôn lên đôi chút chứ.

Nếu ngày mai, chú chưa đi, buổi trưa cháu lẻn sang kể cho chú nghe một mẩu chuyện li kỳ nhất. Chú phải trả công cho cháu cả một suất rệp tẻ chậm gù. Hai anh em ruột cùng bị tù, một đứa tên là Đồng, một đứa tên là Chí, ở ngoà
i còn là đồng chí với nhau nhưng trong trại giam cắn xé nhau khốc liệt hơn cả chó với mèo. Tóm tắt câu chuyện như thế, thôi để dành trưa mai. Nói xong, thằng Thưởng về phòng giam nó lấy bát sang đựng suất cơm chiều của tôi hôm ấy.

Mời các bạn đón đọc phần tiếp theo: Trại cải tạo Vĩnh quang

Tháng Bảy 22, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Nhà tù CỘNG SẢN

1 Phản hồi »

  1. […] Kỳ 16 – Nhà tù – Trại cải tạo An thịnh (4) […]

    Pingback bởi Tham quan nhà tù NNXHCNVN: về chính sách đãi ngộ “tù nhân chính trị”. « Welcome to BEAR’s BLOG!!! | Tháng Chín 7, 2009 | Trả lời


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: