Eventfulday's Blog

Kỳ 14 – Nhà tù – Trại cải tạo An thịnh (2)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 14

HỒI BA – Nhà tù

II – Trại cải tạo An thịnh

Ngày chủ nhật đầu tháng mười cả trại tập trung ở sân để nghe quyết định ân giảm, ân xá nhân ngày kỷ niệm quốc khánh. Đối tượng là những người phạm tội tham ô, hiếp dâm, giết người vì tình ái. Nhờ ngày ấy, mỗi thằng tù cũng được mấy miếng thịt trâu, một bát rau muống nấu với lòng và tiết. Do bữa ăn tươi đặc biệt này, nhiều người cả đêm không ngủ, nằm chờ sáng vì sung sướng. Tù bàn cách chia làm sao cho thật công bằng, sau khi cân bằng cân tiểu ly còn bốc thăm nhờ vào may rủi được miếng thịt ngon hay không.

Trong buổi công bố quyết định, ông giám thị nhắc đi, nhắc lại nhiều lần lời biểu dương thái độ cải tạo của Phi Lân trật tự trại. Ông ta coi Phi Lân là tấm gương sáng để mọi tù nhân học tập mà cải tạo. Vậy Phi Lân là người có lai lịch thế nào? Hắn con một gia đình cách mạng. Mẹ hắn con nhà nghèo, trước cách mạng tháng tám chuyên đi ở. Bố hắn nhiều hơn mẹ hắn mười ba tuổi, sau ngày toàn quốc kháng chiến, đi bộ đội. Còn mẹ hắn tham gia du kích, hồi cải cách là cốt cán và chánh án toà án nhân dân đặc biệt, sau đó làm cán bộ phụ nữ xã. Bố Lân mắc bệnh sốt rét kinh niên phải về phục viên. Lân được sự ưu đãi của chính quyền địa phương, mười chín tuổi hắn đánh chết mẹ ngoài đồng. Sự kiện diễn ra bất ngờ làm rung chuyển dư luận cả một vùng.

Sau đây là lời khai của hắn trước toà:

Cách đây hơn một năm, lúc đó tôi vừa tròn mười tám tuổi, một hôm mẹ tôi bảo:

– Bố con ốm đau, con ngủ chung, bố không yên giấc. Tối nay vào buồng ngủ trên giường của mẹ. Tôi nghe theo, bởi vì chuyện thường mẹ con mà lị. Tối hôm đó, khi nằm bên, mẹ tôi hỏi:

– Mày muốn lấy vợ chưa?

– Còn trẻ, nay mai đi bộ đội, vợ con gì – Tôi thật thà trả lời.

Sau đó bà ấy sờ từ mặt tôi xuống người tôi, sau cùng là cái ấy của tôi, bà ấy nắn và hỏi:

– Thế này mà chưa thích vợ à?

Hôm ấy trời nóng, tôi chỉ mặc cái quần đùi. Đột ngột bà ấy kéo quần tôi xuống và nói nhỏ:

– Anh cứ thử tôi xem có thích không?

Bà ấy vừa nói, vừa cởi quần mình rồi ôm chặt lấy tôi. Quả thực lúc đó, tình dục bốc lên, tôi cũng không chịu nổi, nhưng tôi nói:

– Thích thì đi tìm chỗ khác có được không?

Bà ấy thì thầm:

– Bố anh yếu lắm, chẳng còn yêu tôi được nữa. Trong nhà bảo nhau được mới hay. Ở ngoài, nếu tôi bị lộ sẽ ảnh hưởng đến lý lịch của anh.

Lần đầu mẹ tôi ngủ với tôi diễn ra như thế. Bà ấy còn nói thêm:

– Tuổi mới gần bốn mươi, tình dục của tôi còn mạnh lắm, anh thông cảm vì anh cũng chẳng thiệt gì.

Trải qua hơn một năm, mẹ con tôi ăn nằm với nhau như một cặp vợ chồng nhưng đều do mẹ tôi chủ động. Đến khi tôi nhận giấy báo đi bộ đội, bà ấy nói:

– Còn mấy ngày nữa phải xa anh rồi, anh cố sức chiều tôi đấy nhé.

Từ hôm ấy, mẹ tôi hình như không ngủ nữa, mỗi đêm khua tôi dậy đến bốn năm lần mà không biết chán. Vài ngày sau tôi không còn sức để chiều bà ấy nữa. Đêm cuối cùng tôi nằm ngủ mê mệt, bà ấy để trần truồng, lột quần tôi ra và cả đêm bà ấy xoay vần tôi. Bực quá tôi hất mạnh làm bà ấy ngã nhào xuống đất. Sau đó tôi sang giường bố tôi nằm ngủ.

Mẹ tôi không đi ngủ nữa và hằn học bảo tôi:

– Hôm nay anh ra đồng xới lúa với tôi buổi cuối cùng.

Ra đến ruộng, đứng đầu bờ, mẹ tôi nói:

– Mày hư lắm, tao phải mách bố mày.

– Bà bảo tôi hư cái gì?

– Cái ấy chứ còn gì nữa – Mẹ tôi trả lời rất thản nhiên.

– Do tôi hay do bà?

– Cứ cho là do cả hai, mày còn trẻ mới cần tiến bộ, tao chẳng cần gì nữa.

– Bà nói năng vô trách nhiệm thế à? – Tôi quát lên – Hiện nay bà là một cán bộ cơ mà.

– Không cần, tao sẽ nói hết.

Tức không chịu nổi, tôi đập cho mẹ tôi một đầu cuốc vào đầu, mẹ tôi ngã xuống chết ngay.

Toà tuyên phạt Phi Lân giết người do ngộ sát, mười hai năm tù. Hắn bị bắt từ năm 1960. Năm 1961 hắn đi trại, sáu tháng sau hắn được làm trật tự trại và mới chuyển về trại này hồi đầu năm. Năm ngoái hắn được giảm án một năm và năm nay giảm hai năm. Hắn cao to, béo húp híp, mắt lươn. Hắn được làm trật tự vì tính hung hãn. Một sai phạm nhỏ của tù là hắn đánh rất dã man. Hắn góp sức cùng bọn cai ngục làm nhiều người bỏ mạng hoặc thành thương tật. Đây là một tấm gương trong trại cải tạo của một chế độ tự xưng là ưu việt.

Cải tạo theo phương pháp của chế độ là phải cắn xé lẫn nhau, mất hết tính người mới thực hiện được cái gọi là đấu tranh giai cấp trong nhà tù. Điều nham hiểm là chúng nhốt chung tù chính trị với tù hình sự và xúi giục, gây mâu thuẫn để tù hình sự đánh đập, hành hung tù chính trị.

Chúng thường nói với tù hình sự, các an
h là con em tầng lớp lao động chỉ sai phạm nhất thời, khác với bọn phản cách mạng, chúng đã tiêm nhiễm những tư tưởng xấu để các anh phạm pháp. Lưu manh, đĩ điếm, giết người, cướp của và các tệ nạn xã hội khác là tàn dư của chế độ cũ. Các anh là sản phẩm, còn bọn phản cách mạng là thủ phạm.

* *

*

Đầu cầu Long biên có một người chữa xe đạp, anh ta còn trẻ, tuổi ngoài ba mươi, thích làm nghề tự do – một nghề không phù hợp với xã hội đương thời. Anh vui tính, hay nói chuyện và cũng là người hiểu biết.

Mùa hè năm 1966, một người khách đến nhờ anh chữa chiếc xe đạp thống nhất. Xe bị vỡ côn, chờn răng trục bánh sau. Người khách cũng trạc tuổi anh, anh vừa chữa xe, vừa nói chuyện vui với khách:

– Cứ có cái Peugeot là yên tâm hơn cả. Một chiếc xe này phải bền bằng năm lần xe thống nhất. Khẩu hiệu nhanh nhiều tốt rẻ nên thay đổi lại là chậm ít xấu đắt…

Người khách cứ thản nhiên nghe anh thợ nói chuyện, đến khi chữa xong, khách thử lại thấy trơn tru, lập tức anh ta hỏi anh thợ:

– Anh ca ngợi xe Peugeot của đế quốc à?

– Sự thật là thế – Anh thợ ngạc nhiên trả lời.

– Anh tuyên truyền không công cho đế quốc – Nói xong người khách giơ thẻ đỏ, bắt anh thợ chữa xe về đồn. Hôm sau giải anh thợ lên khu vài ngày và đưa vào Hoả lò giam cứu. Toà án phạt anh thợ năm năm tù và ba năm mất quyền công dân vì tội tuyên truyền không công cho đế quốc.

Cai ngục giải anh đến trại này hồi đầu tháng mười một. Anh gặp lại thày giáo cũ là bác Lê ngọc Văn. Thày trò ôm nhau thương cảm trong cảnh tái ngộ đắng cay, trò mở hết bầu tâm sự với thày, trong đó có sự kiện đau thương tan nát của gia đình thày. Như sét đánh ngang tai, bác Văn ngất đi một hồi lâu không tỉnh. Từ đó, thể xác và tinh thần bác vốn đã héo mòn lại càng sa sút nghiêm trọng hơn. Gánh nặng của hai năm tù cơ cực, tủi nhục và sự đau thương, tan vỡ của gia đình đè lên đôi vai gầy guộc của bác, uốn cái lưng còng lại như một cánh cung, mái tóc bạc phơ, xơ xác, cặp mắt sâu hoắm thâm quầng dấu ấn của nhiều đêm mất ngủ.

Những nếp nhăn trên trán bác hằn lên từng vết đậm và sâu. Bác phải chống gậy dò dẫm từng bước. Yếu quá, bác được chuyển sang toán chẻ tăm hương, một toán gồm những người già yếu, đại bộ phận phải chống gậy. Một buổi sáng bác Văn sốt xin nghỉ. Tên quản giáo còn trẻ, có cặp mắt sắc như dao, hắn bảo y tá trại:

– Anh Thân khám cho anh Văn xem có thể đi làm được không?

Tên y tá muốn duy trì địa vị, được ăn no, lao động nhàn, hăn phải hiểu ý của từng tên cai ngục, khám cho bác Văn xong, hắn nói:

– Thưa ông, anh Văn có thể đi làm được.

Tên quản giáo quát:

– Anh Văn phải đi làm.

– Tôi bị sốt và rất mệt, xin ông cho tôi nghỉ.

– Phi Lân đâu làm nhiệm vụ –tên quản giáo gọi.

Trật tự trại từ xa chạy lại chỗ bác Văn, hắn hỏi:

– Lệnh của ông cán bộ, anh có chấp hành không?

– Tôi đang sốt rất nặng, xin anh tha cho.

Bốp, bốp – Hắn đấm vào mặt và đá vào sườn bác Văn. Bác ngã sõng soài ra đất. Hắn nắm lấy tay bác Văn kéo quệt lê ra ngoài cổng trại. Sau đó, tên quản giáo sai tù khiêng bác ấy ra nơi làm việc.

Đến chiều, tên quản giáo cho bác Văn nghỉ. Bác chống gậy dò dẫm mãi mới đến được trạm xá xin thuốc. Tên y tá trại nói:

– Lệnh của cán bộ không cho, mà thực tế cũng không có thuốc.

Lúc đó tù đi làm về trại, gặp tôi, bác nói nhỏ:

– Tôi không thể sống được nữa, Cộng sản đã hãm hại cả nhà tôi.

Bác Văn đã biết định mệnh của mình. Nhìn bác thương tâm quá tôi ngậm ngùi không giữ nổi dòng nước mắt.

Sáng hôm sau, giờ điểm danh, tù ngồi xếp hàng đợi trong phòng để trật tự điểm trước và cai ngục điểm sau. Thấy cái màn vẫn buông, tên trật tự giật đứt dây màn nhưng người nằm trong màn vẫn im lặng. Hắn cầm chân người ấy giật mạnh mới biết người ấy đã chết ban đêm, Người ấy chính là bác Văn. Trước giờ đi làm tôi lẻn đến chỗ để thi hài bác và thầm gửi bác lời chào vĩnh biệt. Bác Văn không còn nữa nhưng hình ảnh thày giáo trường Bưởi đường bệ xa xưa và hình ảnh món súp nhái ngoé, quả găng luộc bằng chiếc gáo dừa mà bọn trật tự, văn hóa bắt được bêu giếu thày trước cổng trại sẽ còn tồn tại mãi. Cuộc sống đau thương, cơ nhục và cái chết thê thảm của thày giáo danh tiếng một thời dưới chế độ xã hội chủ nghĩa như thế đó.

* *

*

Gần tết Nguyên đán, trước giờ đi làm, ông phó giám thị Vũ anh Cửu nói chuyện trước tù nhân toàn trại:

– Trại mới xây dựng, cơ sở vật chất còn thiếu. Do vậy kinh phí nhà nước cấp cho các anh dùng chưa hết. Chúng tôi muốn mua ngô, khoai, sắn cho các anh ăn thêm lại phạm vào chính sách lương thực. Muốn mua trâu lợn mổ để cải thiện bữa ăn của các anh lại phạm vào chính sách thực phẩm. Còn một biện pháp duy nhất là các anh phải tích cực lao động, trồng nhiều khoai sắn rau để tăng thêm mức sống.

Ông nói tiếp:

– Gần đây ban giám thị nhận được nhiều đơn của các anh
theo đơn vị toán, tổ hoặc cá nhân đề nghị: với chính sách nhân đạo của đảng, ngày tết bán cho mỗi anh một vài cân sắn ăn thêm cho no để đỡ nhớ gia đình.

Tôi thay mặt ban giám thị tuyên bố ngày tết ăn hương ăn hoa. Nếu bán sắn cho các anh, sẽ có kẻ bên tù phản cách mạng xuyên tạc ngày tết cho phạm ăn sắn thay cơm. Ông nói vẻ bông đùa:

– Đói mới không nhớ nhà chứ. Ăn thêm cho no để đỡ nhớ gia đình là không logique.

Tết năm ấy, đêm giao thừa, hầu như không ai ngủ được do quá nhớ nhà và cái đói vò xé theo cấp số.

Sáng mùng một tết, theo thường lệ tù nhân phải tập trung nghe ban giám thị chúc tết nhưng do đói quá, đại bộ phận nằm dài, lấy chăn trùm kín mặt. Ngày tết bọn trật tự, văn hoá trại chỉ thúc giục chứ không được cưỡng bức bằng cú đấm, cú đá.

Buổi trưa hôm đó, tôi may mắn được một bữa “đại tiệc”. Bác Phạm cao Tòng, quê ở Hải phòng, trong toán văn nghệ quản chế lỏng lẻo hơn nên trước tết bác nhổ rau má và giấu đi được một túi xách đầy. Rau để lâu nên đã úa, bác gọi tôi:

– Tâm mang cơm đến ăn “tiệc” với anh.

Hai người ăn hết túi rau má và cơm được một bữa no nê.

Đến tối trong phòng giam, số đông tù đang nằm, tiếng thở dài liên tiếp xì ra thì ban văn hoá trại gọi loa:

– Các anh chú ý nghe tin đặc biệt của ban giám thị. Xuất phát từ chính sách nhân đạo của đảng và chính phủ, cũng như sự quan tâm của giám thị và các ông cán bộ, bộ đội vũ trang đối với trại viên, nay quyết định bán cho mỗi anh một cân sắn vào ngày mùng hai tết.

Nghe xong tin đó, tiếng hò reo trong các buồng giam vang lên cả một vùng đồi núi. Bỗng chốc trong buồng giam vui như hội, nhiều người cả đêm không ngủ, ngồi bàn tán, trò chuyện chờ đến sáng. Bác Quách văn Đông nói:

– Tôi cứ tưởng nếu chết ở đây mình sẽ hoá thành con ma đói mãn tính nhưng ngày mùng hai tết được một bữa ấm bụng thì chưa đến nỗi thế. Tôi mừng quá chờ suốt đêm không chợp mắt.

Anh Phạm gia Ngoan cười nói:

– Số tôi son hơn các bác, các anh, hai mươi tám tết đến trại, bốn ngày sau được một bữa chắc dạ dầy.

Sáng hôm sau, bầu không khí trại giam sôi nổi hẳn lên, túm năm, tụm ba bàn tán. Chẳng những thế, sắn là mặt hàng quý hiếm có thể trao đổi lấy bất cứ thứ gì nên đột xuất nhà tù biến thành một phiên chợ lớn, người đi, kẻ lại xì xào mặc cả. Các con buôn gặp ai cũng hỏi để mua đi, bán lại, đổi chác kiểm lời. Một áo len dài tay giá bốn cân sắn, một quần orlon mới giá ba cân, năm điếu thuốc lào giá một cân, hai lạng đường trắng một cân và một thìa con cá muối trắng giá một cân…

May nhất là những người đang nằm trên giường bệnh không có gia đình trợ giúp, cân sắn tạo điều kiện cho họ có cốc nước đường hoặc cốc sữa. Mặt hàng quốc cấm ở đây là muối trắng. Không hiểu vì sao, ngoài cái đói giày vò, ai cũng thèm mặn, có thể uống được nước muối. Một cân đường chỉ đổi được vài lạng muối. Sắn luộc chấm muối trắng được coi là bữa siêu đại tiệc của những tù nghèo không có gia đình tiếp tế. Nhiều người phát biểu, ăn một khúc sắn bở còn ngon hơn bên ngoài ăn một khoanh giò.

Do vậy những tù có gia đình tiếp tế phải bỏ ra những thứ quý như quần áo mới, đường sữa, duốc để đổi lấy sắn và muối ăn thêm.

Toán bốn làm nông nghiệp và toán tám chẻ tăm hương ở cùng phòng, tổng số một trăm bốn chục người. Hai toán cử người đi lấy sắn và luộc, họ đề nghị luộc cả vỏ, sau đó họ chia nhau cả nước luộc. Còn sắn thì chia rất cẩn thận bằng cân tiểu ly rồi bốc thăm.

Một cân sắn, người to lớn như bác Đông và anh Ngoan cũng ấm dạ dầy, còn người khác được một bữa no nê, khoái chí. Sau khi ăn sắn cùng với bữa cơm chiều thì mặt trời sắp lặn, niềm vui kéo dài được khoảng một giờ. Bắt đầu điểm danh vào phòng giam, nhiều người bị nhức đầu, chóng mặt, sau đó cuộc say sắn diễn ra cả phòng, nhẹ thì nôn mửa, nặng thì đi ỉa chảy. Những thằng tù chống gậy vội vã đi đại tiện như trẩy hội. Nhà vệ sinh không chứa hết người cùng một thời điểm, thành ra nhiều người ỉa ra quần, sàn trên nôn mửa, ỉa xuống sàn dưới. Bỗng chốc phòng giam biến thành một nhà xí công cộng khổng lồ, kèm theo tiếng cãi cọ kêu khóc, rên rỉ đan xen tiếng chửi bới và uỳnh uỵch đánh nhau.

* *

*

Mùa xuân năm 1967, nhìn những dòng người thân tàn, quần áo sọc xanh, sọc đỏ đi làm, trong đó có tôi mà lòng tê tái. Cái đói đã vậy, lại thêm cái rét thấu vào da thịt trong cảnh mưa phùn, gió bấc. Do sức lao động của thằng tù, những đồi sắn mọc lên xanh tốt, những lô xu hào, bắp cải bạt ngàn. Bọn cai ngục bắt tù thu hoạch đưa lên ô tô ra thị trấn Hàm yên bán. Có những lô bán không kịp, rau thối ra. Lá xu hào, lá bắp cải già lợn ăn không hết chất thành đống ngoài đồng. Trong khi đó, mỗi bữa của một thằng tù chỉ được vài gắp rau, vẫn phải nhặt lá cây, rau rừng để ăn thêm cho đỡ đói.

Nhiều người hỏi xin cán bộ trại giam:

Các ông cho chúng tôi lá su hào, lá bắp cải vất ngoài đồng. Có tên lịch sự trả lời:

– Tiêu chuẩn của các anh cho ăn đủ rồi.

Có tên trả lời thẳng thắn:

– Rau thối làm đất thêm màu mỡ, cho các anh ăn nhiều để phản cách mạng à?

Trong toán của tôi có một anh là Dương hữu Lạc. Anh bị tù từ năm 1960, án phạt hai mươi
năm, tội đảng phái phản động ở Thái Nguyên. Anh đứng thứ hai trong vụ, người đứng đầu bị tử hình. Bảy năm tù thì sáu năm anh nằm xà lim vì liên tục phạm kỷ luật. Anh cho rằng, án tử hình còn dễ chịu hơn án hai mươi năm – một khoảng thời gian dài để chết dần mòn. Anh chống lại bọn cai ngục quyết liệt và tuyệt vọng để tìm cái chết sớm hơn.

Một hôm sau trận mưa, mọi tù nhân đã đi làm, riêng Lạc vần ngồi nghỉ. Tên thiếu uý quản giáo đến hỏi:

– Anh Lạc sao chưa đi làm?

– Còn nghỉ. – Lạc thản nhiên trả lời.

Biết Lạc liều lĩnh nên tên quản giáo nói lảng sang chuyện khác:

– Có lẽ anh căm thù chế độ lắm?

– Tất nhiên!

– Nếu bây giờ trong tay anh có súng thì anh sẽ làm gì?

– Tôi bắn chết ông trước, còn viên cuối cùng dành cho tôi.

Tên thiếu uý vỗ nhẹ vào vai Lạc, nói:

– Thôi, anh đi làm.

Lạc đứng dậy, liền đấm vào mặt tên thiếu uý. Tên vũ trang từ xa chạy lại dùng báng súng đánh Lạc túi bụi và định bắn Lạc ngay, nhưng tên trung uý vừa đi đến nhìn thấy, gọi:

– Đồng chí hãy chờ lệnh bắn nó làm gì cho phí đạn.

Ngay sau đó, đưa Lạc vào xà lim. Móng cùm chân Lạc sắc như cưa. Gần hai tháng trong nhà kỷ luật, mỗi bữa cho ăn hai quả bàng cơm, hai chân Lạc bị liệt, sắp chết thì được đưa ra bệnh xá. Trong lúc Lạc hấp hối, một tên trung uý khác nói:

– May cho anh được chết nguyên lành, nếu vào tay tôi dạo nọ, anh phải nát xác ngay. Tuy nhiên để anh chết dần dần cũng là điều cần thiết, có đủ thời gian để anh thấm thía, quằn quại với tội ngoan cố chống đối.

Cái chết của anh Lạc làm nhiều tù nhân quan tâm bàn tán. Kẻ hèn nhát nói Lạc là ngu ngốc, người có máu hảo hán nói Lạc là một anh hùng. Lạc mới ngoài ba mươi tuổi, vóc người to lớn, da trắng, khuôn mặt Lạc nhìn trong ảnh trước lúc đi tù đầy đặn dịu dàng như con gái. Đối với đồng cảnh, Lạc hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ như người xấu hổ. Nhiều lần tâm sự với Lạc, tôi hiểu, anh nhìn cuộc đời, xã hội hiện tại và tương lai như một bức tranh xám xịt. Lạc không tin một thế lực nào có thể chống lại sức mạnh và sự tàn bạo của kẻ thù ở thời kỳ lịch sử dân tộc cái ác chiến thắng cái thiện. Phải nói Lạc là người dũng cảm, bất khuất nhưng thiếu lòng nhẫn nại, anh thường hành động theo cảm tính và liều lĩnh.

Do vậy, cái chết của anh thật là uổng phí, lẽ ra phải tính toán sự hy sinh của mình để đổi lấy một sự kiện vinh quang.

Cũng vào thời gian này, tử thần bước vào mùa gặt hái. Một vụ bội thu, có ngày không đủ gỗ làm quan tài mặc dù có sáu cặp xẻ liên tục. Cuộc tàn sát thầm lặng bằng cách cho chết dần mòn ở trại này có nguy cơ bị tiết lộ ra ngoài nên để đối phó với tình hình đó, một mặt cục quản lý nhà giam cho tù ăn thêm ngô để hạn chế chết đói, mặt khác cho chuyển trại giam đến một khu rừng mới.

Trên quả đồi A1, hàng trăm ngôi mộ bia gỗ viết bằng sơn đen họ, tên và địa chỉ người xấu số, nằm lặng lẽ dưới rừng cây, không hương hoa, không người phúng viếng. Lẽ dĩ nhiên thời gian sẽ xoá đi tất cả. Và thể xác họ bón cho rừng cây thêm xanh tốt. Quả đồi này có một cây cổ thụ, ai đó đã vạch lên thân cây mấy vần thơ:

Ở đây yên nghỉ những người,

Nhà tù tàn bạo, số trời gian nan,

Đói ăn nên phải chết oan,

Một đồi lửa hận, khói lan khắp trời.

* *

*

Một chậu cơm ở toán chẻ tăm hương ở mức thấp nhất có sáu người: thày giáo trường Tây sơn, nhà thơ kịch, nhà văn kiếm hiệp, nhạc sĩ, ông tham tá và một bác đi tù từ năm 1949. Bữa chia cơm nào cũng cãi chửi nhau. Hồi tháng mười năm ngoái, nhân ngày công bố quyết định ân giảm, ân xá, bữa trưa hôm ấy có món rau muống xào lòng trâu và tiết. Một miếng tiết to nhất bằng nửa bao diêm, nhà văn kiếm hiệp chia cả vào một bát, sau đó bốc thăm. Vận đỏ đến với nhà văn, nhưng khi cắn miếng tiết thấy đắng và có mùi thum thủm, nhà văn nhè ra xem té ra miếng tiết là một cục phân trâu. Nhà văn nhổ phì phì, vội lấy nước súc miệng, sau đó tuôn ra hàng tràng chửi tục:

– Đ… mẹ bọn nhà bếp làm cẩu thả!

– Tổ sư kiếp! Có bao giờ nấu lẫn cứt mà ăn không?

Một thằng tù nhà bếp là tù lưu manh nghe thấy, đến tặng cho nhà văn dăm quả đấm vào mặt, nhà văn ngã sõng soài ra đất, van xin, rên rỉ, mấy phút sau mới lóp ngóp bò dậy được. Vận đỏ của nhà văn tức thì biến thành vận hẩm.

Nguyên nhân cũng dễ hiểu thôi, tên cai ngục phụ trách toán rau xanh, khi thu hoạch, hắn bắt tù cắt sát đất để tăng trọng lượng. Mặt khác tù phải làm theo mức khoán cưỡng bức, súng kề bên, do đói và mệt mỏi một thằng tù nào đó cắt rau quơ cả cục phân vào, bó lại. Bọn nhà bếp với số người rất ít so với tỷ lệ số người tù, muốn bảo đảm được thời gian, mang rau ra suối để cả bó rửa qua loa rồi bỏ vào chảo. Rau muống trong trại giam lẫn nhiều cỏ, rác, phân trâu và lá cây…

Mùa xuân năm ấy, một buổi tối lại được nghe ban văn hoá trại phát thanh một tin đặc biệt: “Ngày mai, quyết định của ban giám thị cho toán nhà bếp thu lá su hào, lá bắp cải thừa ngoài đồng để cải thiện cho toàn trại”.

Niềm vui được một bữa no l
ại đến với mọi thằng tù. Tuy nhiên lần này không sôi động như cân sắn dịp tết vì mới được ăn thêm ngô hàng ngày nên bệnh đói kinh niên đã giảm một phần. Bữa trưa hôm sau, rau nhiều, tù chỉ cân cẩn thận chứ không bốc thăm. Bác Khanh hẩm hiu bị nhiều lá su hào úa, bác thắc mắc phần rau của nhà văn kiếm hiệp ngon hơn. Máu nóng được hâm sẵn trong đầu, hai người giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực. Thật nực cười, hai người vừa mới xô vào nhau thì cả hai đều ngã. Yếu quá, chẳng ai dậy được để tiếp tục cuộc chiến, cả hai nằm sấp xuống sân mà rên rỉ. Nơi chia cơm, dưới một cây to gần cổng trại. Đứng trên chòi gác, một lính vũ trang mới đến, mặt còn non choẹt khoảng mười bảy tuổi. Có lẽ lần đầu thấy cảnh này, không chịu nổi, chú lính quát:

– Các anh là loài vật hay sao mà chia ăn cũng đánh nhau?

Cố hết sức, bác Khanh bò dậy được, trả lời:

– Ông nói đúng! Ai vào đây một vài năm là hoá ra con vật.

– Tên anh là gì? – Chú lính trẻ quát to hơn.

– Tôi là Khanh, Phạm bá Khanh.

Chú lính sửng sốt hỏi:

– Có phải đi tù từ năm 1949 không?

– Vâng!

– Quê ở Thanh hoá phải không?

– Vâng, sao ông biết?

– Bố ơi, con của bố đây – Chú lính trẻ vừa gọi vừa khóc.

Bác Khanh ngơ ngác, chẳng hiểu gì? Trong khi đó, tên cán bộ trực trại ngồi phòng dưới chòi gác, nghe thấy, hăn chạy ra hỏi:

– Đồng chí vừa nói gì?

– Kia là bố tôi, xin đồng chí cho gặp.

– Phải có lệnh của cấp trên, đồng chí về ngay doanh trại.

Bác Phạm bá Khanh đi buôn gạo bằng thuyền từ Thanh hoá ra Nam định trong thời kỳ chống Pháp. Năm 1949 bác bị bắt về tội tiếp tế lương thực cho địch tại vùng tạm bị chiếm. Không cần xét xử, họ giam bác đến nay. Sau ngày hoà bình năm 1954, bác được gửi hai lá thư nhưng không thấy vợ trả lời.

Khi bác Khanh bị bắt thì vợ bác có mang hai tháng. Từ khi bặt tin chồng, lại phải nghe nhiều lời đồn đại, sự tra tấn của dư luận:

– Tên Khanh là gián điệp!

– Tên Khanh đã theo địch!

– Tên Khanh đã bị cách mạng xử trí!

– Loại đàn bà vô phúc là vợ của tên bán nước!

– Là vợ của tên tay sai cho đế quốc nên đâm đầu xuống sông mà chết…

Sau khi sinh đứa con trai ba tháng, vợ bác bế con bỏ quê hương ra thành phố Nam định làm thuê để nuôi con. Đợi tin chồng ba năm không thấy tăm hơi, vợ bác đi bước nữa. Đứa con trai bác lấy họ và địa chỉ của chú dượng. Người chồng kế nghiện hút, bất nhân đánh đập con của vợ nhiều lần tàn ác. Tưởng chú dượng là bố mình, thằng con trai bác Khanh oán trách bố vô đạo đức, không có tình thương con. Đến ngày chuẩn bị lên đường nhập ngũ, vợ bác Khanh mới nói thật họ, tên và lai lịch của bác cho đứa con trai biết. Chú lính trẻ vô cùng đau xót nhưng cũng cho rằng, bố mình đã chết. Nào ngờ đâu được gặp bố trong hoàn cảnh thê thảm này. Nhưng ban giám thi không cho chú lính trẻ gặp lại bố, ngay chiều hôm ấy điều chú đi phân trại khác. Uất ức và đau lòng quá, chú tự bắn vào đầu. Khi bác Khanh biết người lính ấy là đứa con duy nhất của mình thì con bác đã về nơi yên nghỉ.

Sức khoẻ của bác Khanh thật kỳ diệu mới tồn tại được mười tám năm trong nhà tù Cộng sản. Tuy nhiên cơ thể bác đã bước vào giai đoạn gần đất xa trời.

* *

*

Mùa hè năm 1967, phần lớn tù đã chuyển đến trại mới, cách trại cũ khoảng bảy cây số. Bác Quách văn Đông, tôi và một số người nữa chuyển sang toán xây dựng. Một hôm bác Đông được làm việc tự giác đi vác mía. Trên đường, bác thấy bên bờ suối gần nơi ở của bọn cai ngục, một rổ lòng trâu không có ai trông coi, bác liền quẳng mía bên đường, lần xuống lấy một ít cho vào ống nứa. Khi lên, bác phát hiện một lính vũ trang đang trên đường đi xuống. Bác luống cuống vất ống nứa đựng lòng trâu xuống suối và tìm chỗ ẩn nấp. Cạnh đó có một nhà tắm, bác vội vã đẩy cửa chạy vào. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, mụ cấp dưỡng của cơ quan béo như con lợn ỷ, ngoại tứ tuần vẫn chưa chồng gọi là Tam táo quân đang trần truồng tắm. Thấy bác Đông chạy vào, mụ hô hoán om xòm. Lính vũ trang đến bắt và khoá tay bác đưa về phòng giáo dục. Trong lúc chờ đợi hỏi tội, bác Đông có đủ thời gian chọn cái giá phải trả rẻ nhất. Nếu bác nhận ăn cắp lòng trâu thì phải cùm hàng tháng, nên bác đã khai:

– Tôi vác nứa đi qua, nghe thấy trong nhà tắm nữ có tiếng nước dội vì xa nhà nhớ vợ nên tôi đã…

– Đã gì? Anh định hiếp dâm à?

– Tôi không dám, mà đẩy cửa vào để nhìn cho đỡ nhớ thôi.

– Chúng tôi có thể quy anh vào tội hiếp dâm.

– Thưa ông, thằng tù sống được về với vợ con là may rồi, lấy đâu ra sinh lực mà làm điều đó. Vả lại, bà Tam táo quân khỏe gấp mười lần tôi, bà chỉ gẩy tay là tôi ngã không dậy được.

Lời khai của bác Đông có tình, có lý nên tội này, bác chỉ bị cùm trong xà lim một tuần.

* *

*

Cách cổng trại một trăm mét, có một cây lâu năm, thân cây to đường
kính bảy, tám mươi phân, cành lá sum sê tán rộng hàng trăm mét vuông, quả sai díu dít, ăn ngọt hơn vải đồng bằng. Đặc biệt, hạt rang ăn bùi và ngon như lạc, có tên là cây vải guốc. Trong lúc lính vũ trang quản chế lỏng lẻo, tù trèo lên hái quả vừa ăn cùi, vừa nướng ăn hạt. Bệnh đói kinh niên mà được ăn loại quả này còn gì thích thú hơn? Tù thi nhau hái ăn không biết chán, người không trèo được thì đổi chác hoặc mua để có ăn. Cuộc vui vẻ diễn ra tấp nập như buổi tiệc tùng. Tên lính vũ trang đi đâu về nhìn thấy cũng lờ đi như không biết, mặc dù mọi ngày cũng tên lính này có tiếng là hung ác, tù sai phạm là hắn đánh liền. Hôm ấy, hắn bỗng dưng hiền như bụt. Thấy thế tù được đà trèo lên hái ăn cho thoả thích khen ông vũ trang tốt. Có người hô to:

– Ông bộ đội muôn năm!

Đến tối, trong phòng giam, tấn thảm kịch bắt đầu. Người ăn nhiều quằn quại, vật vã chết ngay hôm ấy. Người ăn ít hơn bị đầu độc, hành hạ một tuần mới qua đời. Đau thương hơn cả là những người ăn số lượng vừa đủ ngộ độc, mắc bệnh tâm thần hoảng loạn, tự xé quần áo mình, nói nhảm nhí. Cứ thế chết dần, có người kéo dài hàng năm tử thần mới cho về cõi. Bác Quách văn Đông cũng là người bị nạn. Trong khi đó, vợ bác Đông đã bị mù lần mò đến thăm chồng.

Một buổi chiều tà, một người đàn bà mù cùng đi với hai đứa trẻ: một trai, một gái dắt tay người đàn bà đến nhà tiếp đón. Lúc đầu ai cũng tưởng đó là ba mẹ con, thực ra hai đứa trẻ kia là con anh Lê hữu Cát người Phú thọ. Xưa kia, anh Cát cộng tác với đối phương sáu tháng, đeo lon binh nhì. Biết thân phận mình có vết đen với chế độ, anh ngoan ngoãn nhịn nhục để cầu mong một cuộc sống bình an. Anh đẹp trai nên lấy được người vợ xinh xắn nhất làng. Năm 1964, anh lên đường vào trại. Anh đã vậy, vợ anh còn đáng thương hơn. Ngoài những lời mỉa mai, nguyền rủa của dân làng và sự đe doạ, khủng bố của chính quyền địa phương, vợ anh làm công điểm trong hợp tác xã nông nghiệp chỉ được mấy lạng thóc một ngày, không đủ nuôi con. Anh em, họ hàng xa lánh chẳng nhờ được ai, buộc vợ anh phải làm trò giải trí cho bọn lãnh chúa miền quê để có thêm tiền sinh sống. Vợ anh trở thành con mồi hấp dẫn, mấy tên mặt người dạ thú tranh nhau để hậu quả vợ anh phải gánh. Họ đã bắt vợ anh về tội gái làm tiền. Nhục quá, vợ anh thắt cổ tự tử. Có ai đó đã xui hai đứa con anh nên chúng đến trại giam xin bọn cai ngục tha anh về để nuôi dạy chúng.

Đi ô tô đến thị trấn Hàm yên, vợ bác Đông và hai đứa con anh Cát làm quen nhau và cùng trên đường vào trại, vừa đi vừa hỏi thăm đường, trèo đồi, lội suối từ sáng sớm đến chiều họ mới tới khu vực trại giam.

Cách trại giam khoảng ba trăm mét, có một khu nhà rất đẹp, làm bằng gỗ, sơn các màu bóng lộn, trên mái lợp ngói. Trong nhà kê những bộ bàn ghế bằng gỗ lát, đánh véc ni bóng như gương và những chiếc giường hộp kiểu Đức, trải chiếu hoa mới. Xung quanh vách bằng gỗ dán nhiều tranh ảnh đẹp. Ngoài sân, có một vườn hoa hình bán nguyệt trồng nhiều loại: cúc, thược dược, hoa hồng, glaieulle…

Ngoài ra, còn các chậu hoa, cây cảnh, một bể to chứa nước trong vắt, thả cá cảnh, giữa bể có non bộ. Bên cạnh khu nhà, một dòng suối chảy qua, nước trong veo, chảy xiết bốn mùa. Tiếng chim hót líu lo xa gần tôn thêm vẻ trữ tình, thơ mộng của khu nhà. Nơi đây có người trông nom thường xuyên quét dọn nhà cửa, biết chăm sóc, tỉa tót vườn hoa. Khu nhà thông ra đường bằng một ngõ rộng, sửa sang sạch đẹp. Đầu ngõ có biển đề: nơi tiếp đón gia đình các trại viên. Nơi đây chúng tôi gọi là phòng tuyên truyền của địa ngục trần gian. Đứng đầu phòng này là một sĩ quan công an – cán bộ giáo dục. Chắc ông cán bộ này được đào tạo rất công phu nên mới có tài uyên bác về đổi trắng thay đen. Tuy nhiên ông ta chỉ là cái đinh vít nhỏ trong guồng máy tuyên truyền khổng lồ của chế độ. “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo… ” đã, đang được cái guồng máy này khai thác triệt để và sử dụng tuyệt vời nhất từ xưa đến nay.

Nơi đây đã diễn ra bao cảnh chia ly vĩnh viễn của những cặp vợ chồng còn trẻ, con cái không tin cha, vợ chẳng hiểu chồng, anh chị oán trách em. Trong cái địa ngục trần gian kia hàng trăm người bỏ mạng vì ốm đau không có thuốc, không được cứu chữa, vì đói hoặc vì những cực hình khác thì tại phòng tuyên truyền này được giải thích: với chính sách nhân đạo của đảng và chính phủ, chúng tôi đã hết lòng cứu chữa và chăm sóc nhưng do bệnh tật hiểm nghèo không qua khỏi…

Trước khi vợ bác Đông được gặp chồng và hai đứa con anh Cát được gặp bố, ông cán bộ giáo dục cho nấu cơm gạo ngon, thức ăn có thịt lợn và canh ngọt mời. Ông nói chuyện với vợ bác Đông là bác Hoà, trước hết ông hỏi thăm sức khoẻ và tình hình kinh tế của gia đình. Bác Hoà nói:

– Nhà tôi đi cải tạo một thời gian thì con trai tôi đi bộ đội, mới hy sinh ở miền Nam năm ngoái. Con gái tôi làm việc và lấy chồng ở xa, chẳng giúp được gì bố mẹ. Đầu năm nay tôi ốm nặng, không có điều kiện vào bệnh viện, bệnh khỏi thì mắt bị mù, kinh tế gia đình rất khó khăn. Đây là lần đầu tiên tôi đi thăm ông ấy sau ba năm cải tạo.

Ông cán bộ bắt đầu giải thích:

– Chủ trương nhà nước đưa chồng bác đi cải tạo là mong muốn anh Đông gột rửa những tư tưởng xấu đi trở thành người lương thiện cùng đóng góp xây dựng xã hội chủ nghĩa, mức án chỉ là cái mốc để anh Đông phấn đấu. Rất nhiều người cải tạo tốt được về trước án hoặc được giảm án, ngay án chung thân cũng chỉ ở tù trên dưới mười năm. Hiện nay toàn đảng, toàn dân và toàn quân, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Trai trẻ trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu ngoài chiến trường, còn lại đang chiến đấu trên mặt trận sản xuất ở hậu phương.

Anh Đông cải tạo tốt, sớm được đoàn tụ với gia đình là xã hội thêm một thành viên, đất nước thêm một người lính
chiến đấu trên mặt trận sản xuất góp phần chống Mỹ.

Mặc dù kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, chúng tôi thường xuyên quan tâm đến những người đi cải tạo, bao giờ cũng đầy đủ. Nếu có thiếu chăng là về mặt tình cảm gia đình. Thế mà anh Đông nay vi phạm cái này, mai cái khác, gần đây lại ăn bậy bạ quả vải guốc, tự đầu độc mình, tự phá hoại thể xác mình. Chúng tôi đã hết lòng cứu chữa mà bệnh vẫn chưa khỏi. Tôi sơ qua thái độ cải tạo của anh Đông để bác biết và khẳng định rằng, sở dĩ anh Đông chưa được giảm án, gần đây mắc bệnh là lỗi của chính mình. Bác nên khuyên nhủ, động viên anh ấy.

Nghe ông cán bộ nói, bác Hoà than khóc và oán trách chồng không biết thương vợ, thương con.

Sau đó, ông cán bộ giáo dục gặp hai đứa con anh Cát. Ông chưa kịp nói gì thì hai đứa trẻ vừa khóc, vừa van lạy:

– Bác ơi, chúng cháu xin bác, tha cho bố chúng cháu về để nuôi dạy chúng cháu. Mẹ chúng cháu vừa chết rồi, chúng cháu không biết trông cậy vào ai, phải đi xin ăn từng bữa, từng ngày. Bác thương chúng cháu với, chúng cháu chắp tay lạy bác.

Ông cán bộ tỏ lòng thương cảm, ông an ủi dỗ dành hai đứa:

– Các cháu nín đi, đừng khóc nữa nghe chú nói. Chú sẽ đề nghị trên tha bố cháu ngay. Nếu bố các cháu cải tạo tốt thì được về lâu rồi, khốn nỗi bố các cháu chưa chịu cải tạo nên chưa được tha về thôi. Các cháu phải khuyên bố nghiêm chỉnh chấp hành nội quy của trại, ăn năn hối lỗi, mau cải tà quy chính để sớm được về. Chú rất thương các cháu, ước mong của các cháu cũng là ước mong của chú và của đảng, ước mong bố các cháu cải tạo tốt sớm về đoàn tụ với gia đình cùng toàn dân chống Mỹ và xây dựng quê hương, đất nước…

Lời của ông cán bộ giáo dục tỏ vẻ thiết tha, trìu mến.

Sau đó bác Đông được gặp vợ. Bác Hoà thay đổi nhiều, mắt lại mù, bác Đông ngơ ngác nhìn vợ thì ông cán bộ bảo:

– Vợ anh đấy, quên rồi à?

Bỗng bác Đông nhảy chồm lên rồi ngã lăn ra đất, hai tay xé quần áo tả tơi, chân đạp không khí, kêu:

– Đói lắm, có vải guốc không?

Ông cán bộ phải ra lệnh cho người trông coi nhà tiếp đón giữ bác Đông lại và dìu về trại. Bác Hoà khóc nức nở, hai tay chới với trong không khí:

– Ông ơi, ông không thương vợ con à? Ông tự gây nên và bây giờ ông tự hành hạ mình để cả nhà đều khổ.

– Bác cứ yên tâm, chúng tôi tiếp tục cố gắng chạy chữa cho anh Đông khỏi bệnh và đề nghị trên tha – Ông cán bộ dỗ dành.

– Bác có quà cho anh ấy đưa tôi gửi về trại?

– Nghèo quá, tôi chỉ mua cho nhà tôi hai gói thuốc lào – Bác Hoà trả lời nghẹn ngào trong tiếng khóc.

Đến lượt anh Lê hữu Cát được gặp con. Chúng khóc oán trách bố không chịu cải tạo, không thương con. Anh Cát thầm hiểu hai đứa con thơ dại của anh đã ăn phải bả lừa bịp của tên cai ngục, nhưng hắn ngồi đó, anh biết nói với chúng thế nào? Chính vì thương vợ, thương con, khi chưa đi tù anh đã cố nhịn nhục và phục tùng mọi sự bất công, vô lý. Trong ba năm cải tạo, anh cam chịu đói khổ đoạ đầy, kiếp sống không bằng con vật, ngoan ngoãn chấp hành tất cả để mong chờ ngày đoàn tụ với vợ con. Vợ anh ngày nay không còn nữa, cô ta tự giết mình vì nhục. Trong thâm tâm anh, nếu bỏ mạng vì hạnh phúc của hai con nhỏ anh cũng sẵn sàng. Chua xót chưa những đứa trẻ thơ ngây, người ta cướp đi tình thương yêu, chăm sóc của cha mẹ đối với chúng. Rồi người ta lại lừa chúng trút hết tội lỗi lên đầu người cha bất hạnh.

Anh ôm hai con vào lòng vừa khóc vừa nói:

– Các con ơi, hãy biết cho lòng bố, bố thương mẹ và thương các con hơn cả cuộc đời mình.

Hai đứa trẻ càng khóc to hơn như bắt vạ người bố thiếu tình thương:

– Bố ơi, bố hãy thương chúng con mà cải tạo tốt để sớm được về. Chúng con hiện nay khổ lắm. Sau khi mẹ chết, nhà chẳng còn gì ăn, chúng con sang xin cô chú, mỗi người chỉ cho một bơ gạo và dặn từ nay không được đến nữa, nếu không sẽ ảnh hưởng xấu đến gia đình cô chú. Đói quá, chúng con đi xin ăn, xin ở làng không ai cho, họ bảo không liên quan với con tên bán nước, Chúng con phải đi từ sớm, xin ở thật xa mới được về. Có ngày trời mưa to quá, không đi được đành nhịn đói. Chẳng những thế, bọn trẻ trong làng, chúng chế giễu chúng con là con tên bán nước, chúng đánh chúng con nhục nhã lắm, bố ơi! …

– Thời gian các cháu gặp bố đã hết – ông cán bộ ra lệnh – Các cháu có cái gì cho bố không?

– Chúng cháu có vài đồng mua cho bố cháu mấy cái bánh nếp – Thằng con trai nói – nhưng trên đường đi đói quá, chúng cháu ăn hết rồi.

– Anh Cát chào hai con rồi về trại – ông cán bộ nói.

Anh Cát đứng lên bịn rịn nhìn chằm chằm vào mặt hai đứa con tội nghiệp một lần nữa rồi về trại giam.

Hai đứa trẻ vừa khóc, vừa nói theo:

– Bố phải cố gắng cải tạo tốt để sớm về với chúng con, bố nhé!

Trên đường về trại, anh Cát vừa đi, vừa khóc.

Hôm sau, bác Hoà và hai đứa con anh Cát được đi nhờ ô tô tải của trại ra thị xã Tuyên quang, ông cán bộ cho tiền ăn đường và tiền vé ô tô về nhà.

Đến cuối năm ấy, bác Đông qua đời. Nơi yên nghỉ của bác đã có hàng trăm bạn bè nhưng chưa đông đú
c như trên đồi A1. Còn anh Lê hữu Cát đến giữa năm 1973 mới được tha. Năm 1969, một số lớn sĩ quan được về, anh Cát hỏi Hồ sĩ Tưởng, cán bộ giáo dục:

– Thưa ông, nay sĩ quan đã được sự khoan hồng của đảng, chúng tôi là những lính quèn thì đến bao giờ… ?

– Các anh ấy à? – Hồ sĩ Tưởng nhếch mép cười – Nay mai tha ra thì có lợi gì cho cách mạng?

Năm 1975, tôi thấy anh Cát lại đến trại Vĩnh quang tiếp tế cho đứa con trai, con anh mắc tội trộm cắp phải đi tập trung cải tạo. Nghe nói, hồi cải cách bố anh cũng phải đi tù về tội đảng phái phản động. Thế là ba thế hệ nối tiếp nhau đi cải tạo.

Mời các bạn đón đọc phần tiếp theo: Trại cải tạo An thịnh (3)

Tháng Bảy 22, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Nhà tù CỘNG SẢN

1 Phản hồi »

  1. […] Kỳ 14 – Nhà tù – Trại cải tạo An thịnh (2) […]

    Pingback bởi Tham quan nhà tù NNXHCNVN: về chính sách đãi ngộ “tù nhân chính trị”. « Welcome to BEAR’s BLOG!!! | Tháng Chín 7, 2009 | Trả lời


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: