Eventfulday's Blog

Kỳ 13 – Nhà tù – Trại cải tạo An thịnh (1)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 13

HỒI BA – Nhà tù

II – Trại cải tạo An thịnh

Đầu tháng sáu, họ đưa chúng tôi đi trại. Buổi chiều mỗi tù nhân được một nắm cơm ngô và một con cá mắm, khoá tay hai người một, đưa lên ô tô tải. Mặt trời sắp lặn, ô tô chạy một mạch từ Hoả lò qua thị xã Tuyên quang đến thị trấn Hàm yên. Từ đó đi thêm gần hai mươi cây số nữa đến phân trại phụ họ mới cho tù nghỉ và uống nước. Cả xe, tù đều khát, có nhiều người như sắp phát điên lên. Khi đến bến Bình ca, nhiều người khát quá không chịu nổi, chắp tay lạy van mấy tên cảnh sát áp giải nhưng chúng làm thinh. Tù tranh nhau bê cả chậu uống như trâu, rồi mồ hôi toát ra như tắm, có người mệt quá xỉu đi. Sau đó, tù bị khoá giằng với nhau thành một xâu dài, đi khoảng bốn cây số đường rừng nữa mới tới phân trại chính. Đúng vào lúc tù đi làm, những hàng người áo sọc trắng, sọc xanh nối tiếp nhau ra khỏi trại với những khuôn mặt hốc hác, nhăn nhúm, da xám xịt. Nhiều khuôn mặt có thể hình dung những bộ xương đầu người được bọc trong những túi bằng da: Lỗ mắt sâu hoắm, trắng dã, xương gò má và xương quai hàm lộ ra vì hai má đã teo gần hết thịt, tóp lại. Nhiều người đi không vững phải chống gậy. Cảnh này làm tôi nhớ lại những bức ảnh của Võ an Ninh chụp người chết đói năm ất Dậu, có lẽ liên tục một vài tuần không có ăn nên phải chết. Do vậy, thể xác họ không đáng sợ như những thằng tù ở nơi này.

Trưa hôm đó, tôi ăn bữa cơm đầu tiên trong trại cải tạo của một chế độ tự xưng là ưu việt: hai gạt bát cơm mục độn hai phần sắn và một thìa muối trắng lẫn riềng. Những bữa ăn ở đây thường xuyên là thế, nếu có mấy miếng chuối xanh hoặc bí đỏ nấu muối được coi là bữa ăn tươi. Bữa cơm chiều giống như bữa sáng, nhưng mỗi tù nhân được thêm một quả chuối chín, do trại mua lâu, thỉnh thoảng cho ăn nên chuối xanh hoá chín.

Tù cũ kháo nhau:

– Bọn mới đến gặp may rồi, bon chúng cũng được ăn chuối chín như mình.

Mỗi chậu cơm hàng chục người, ngoài những người mới đến, chia nhau bằng cân tiểu ly tự chế. Quả chuối buổi chiều hôm ấy cũng bốc thăm theo may rủi cho từng người. Tôi được một quả nửa xanh, nửa chín, chưa bóc ăn thì có hai ba người đến xin:

– Ăn xong, anh cho em nhé?

– Đã ăn thì còn gì để cho? – Tôi hỏi.

– Em xin cái vỏ thôi.

Nghe nói, tôi mới quan sát thấy, đa số tù đều ăn cả vỏ. Nếu ai không ăn vỏ, có người khác xin ngay. Đứa cuối cùng đến xin tôi là một thằng bé khoảng mười ba tuổi, chân tay khẳng khiu như que củi. Cái đầu to quá tải so với cặp giò, khuôn mặt hốc hác dài, da sạm, mắt sâu mờ mờ đục, cái cổ nó nhỏ nhăn nheo như cái tăm cắm vào quả táo là cái đầu. Một đứa trẻ hiện thân của nỗi cơ cực triền miên từ thuở nhỏ.

– Ăn xong chú cho cháu cái vỏ, chú mới đến chưa chắc đã dám ăn.

Tôi ái ngại hỏi:

– Tại sao em phải đi tù, tù đã lâu chưa?

– Hồi cải cách gia đình cháu là địa chủ, phản động, bố cháu phải đi tù rồi chết trong trại, mẹ cháu bị bức cung, bị đấu tố nên tự tử vì uất ức quá, gia đình cháu bị tịch thu toàn bộ. Cháu phải ở với bà nội. Sau đó bà cháu mắc bệnh cũng qua đời. Chú thím cháu vì đông em nên đuổi cháu đi không nuôi được. Năm 1962 cháu lên Hà nội xin ăn ở chợ Bắc qua. Cuối năm 1964 mú càn cháu về khu rồi đưa lên trại giáo dưỡng Hải phòng. Sợ máy bay Mỹ bắn phá, họ mới chuyển phần lớn trại giáo dưỡng đến trại này vài tháng.

– Anh cho em, cầm cả lấy mà ăn. – Tôi nói.

– Cảm ơn chú – Thằng bé cầm quả chuối ăn ngấu nghiến. Tôi thoáng nghĩ, đời thằng này còn cơ nhục hơn mình.

Buổi tối, trong buồng giam, chúng tôi mới đến không phải bình công, chấm điểm nhưng phải ngồi xếp hàng ngay ngắn để nghe ban văn hoá trại đọc báo. Buồng giam có mười gian, phên liếp bưng kín, bên ngoài lại ken thêm nứa cây sát vào nhau, mỗi gian để hở mấy lỗ vuông mèo chui lọt để vũ trang kiểm soát ban đêm. Hai bên trong buồng là sàn nằm cũng bằng phên nứa, hai tầng, giữa để đi lại. Gian cuối cùng là nhà vệ sinh cũng ngăn bằng phên nứa, không có cửa ngăn với phòng nằm. Gian đầu buồng có một cửa ra vào duy nhất. Chúng tôi mới đến phải nằm sát nhà vệ sinh. Khi đi ngủ phải nằm sát với nhau như nêm lại. Mùa hè nóng nực, mùi khai thối từ nhà vệ sinh bốc ra nồng nặc, quyện vào nhau. Bởi vì ban đêm không khí bị tù đọng trong phòng, không lối thoát. Như ở Hoả lò, đến chín giờ, sau kẻng cấm, tù phải đi ngủ, không ai được nói gì tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, im lìm…

Suốt đêm hôm trước phải ngồi ô tô mất ngủ, nên tù ai cũng mệt mỏi ngủ ngay.

– Báo cáo ông bộ đội, tôi xin đi tiểu.

Nghe câu nói ấy, tôi giật mình tỉnh dậy. Một lần, hai lần, ba lần… nhiều lần như thế. Hôm sau mới được bọn cai ngục phổ biến nội quy, trong đó có đoạn “Ban đêm, sau kẻng cấm, trong phòng giam, phạm đi đâu khỏi chỗ nằm phải hô to “Báo cáo ông bộ đội, tôi xin đi… ”. Nếu không, coi là hành động lén lút trốn trại. ” Tôi nghĩ, cả phòng hơn một trăm người, ít nhất có ba chục người dậy ban đêm với ba chục lời hô như thế rải rác suốt đêm thì ngủ sao cho yên giấc. Tuy nhiên, dần dần ai cũng quen cả, thì ra cuộc sống của con người bị dồn đến kiếp sống của loài gia súc rồi cũng thích nghi để tồn tại.

Chuyến xe tù đến đại đa số là lưu manh và phạm pháp về hình sự chỉ có ba chúng tôi là tù phản cách mạng.

Hai ngày sau, cai ngục g
iải ba đứa chúng tôi đi phân trại khác, sâu vào rừng thêm ba cây số và đưa vào toán làm nông nghiệp. Nơi đây, tôi gặp lại bác Lê ngọc Văn. Khi ấy, bác Văn đã khỏi bệnh nhưng thân thể không còn dáng bệ vệ như xưa mà gầy yếu tiều tụy.

Bác nói, gần đây nhận được thư của Hưng, con trai bác cho biết gia đình vẫn bình thường, Hưng yếu sức nên được về phục viên. Bác hỏi thêm tôi về gia đình bác, tôi cũng không dám nói thật. Vì nếu bác biết cảnh tan nát ở nhà, có lẽ bác không thể nào sống được. Tôi trả lời:

– Cháu chỉ biết tin bác phải đi cải tạo, còn gia đình bác, lâu nay cháu không đến nên không rõ.

Hôm sau, buổi đầu tiên tôi đi lao động làm cỏ. Đột nhiên năm bảy người xô nhau đuổi bắt một con nhái, bác Văn may mắn chộp được, tức khắc bác xâu vào một cái que hơ qua quít vào đống lửa rồi ăn ngay, bác ăn rất ngon miệng. Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, bác nói:

– Anh mới đến chưa quen cuộc sống ở đây. Cái đói vò xé không thể chịu được, không làm chủ được khi thấy cái gì ăn được là phải vồ lấy ăn liền, chẳng hạn, lá cây non, búp măng, rau rừng và mọi thứ khác. Bác nói thêm:

– Hôm nay, ông vũ trang quản chế dễ đấy, anh nhặt rau mà cải thiện.

Tôi không thể tưởng tượng thày giáo trường Bưởi xưa kia đường bệ mà nay lại khốn đốn đến nỗi này. Ngày lao động hôm ấy, sáng và chiều bác Văn kiếm được hai ống bơ rau rừng: rau dệu, bầu buy, rau má, rau sam… luộc ăn ngay ở ngoài đồng làm mặt mày bác rạng rỡ khác.

Tối đến vào phòng giam, sau khi bình điểm lao động, nghe đọc báo, bác Văn nói chuyện với tôi:

– Tối nay may mắn là tối thứ bảy nên được thoải mái hơn ngày thường. Về mặt tinh thần, các anh vào tù đúng vào thời kỳ hoàng kim của trại cải tạo. Mấy năm trước, ai cũng tin là hết lệnh tập trung cải tạo ba năm sẽ được về nên ngoài việc lao động như trâu, ngựa, còn cấu xé lẫn nhau để lập công, gây nên nỗi đồng cảnh tương tàn. Mỗi thằng tù vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân, phải chịu bốn vòng kìm kẹp: vòng ngoài là cai ngục, vòng thứ hai là trật tự, văn hoá trại, vòng thứ ba là toán trưởng, vòng cuối cùng là cảnh hành hạ lẫn nhau. Đành rằng thằng tù chỉ tạo ra vòng kìm kẹp cuối cùng nhưng nó đưa đến các vòng kìm kẹp khác nghiệt ngã hơn nhiều. Còn về vật chất từ trước đến nay, cuộc sống trong nhà tù CS, mọi phạm nhân đều trở thành man rợ vì đói khát. Các truyện cổ Trung quốc như Việt vương câu tiễn, Hán Sở tranh hùng viết “con người dễ cộng khổ, khó đồng cam”, như thế chưa hoàn toàn đúng. Khi con người bị bệnh đói giày vò hết năm này qua năm khác sẽ man dại như loài thú, không còn biết gi đến nhân phẩm của mình.

– Còn một vấn đề, tôi nói với anh để thêm phần hiểu biết. Người ta làm nhà để ở, có ai trong lòng “chim múa, hoa cười” đem hết hơi tàn, lực kiệt để làm những cái cũi để nhốt mình? Nghe thì hài hước nhưng lại là sự thật.

Trước khi chúng tôi ở trại Yên bái chuyển về đây, ban giám thị trại tuyên bố:

– Các anh được lựa chọn để xây dựng trại mới là những trại viên đã cải tạo tốt, chỉ một thời gian ngắn nữa là được tha hết. Vậy các anh phải lao động theo ý thức của người công dân, bỏ ngay cái ý nghĩ: nước sông công tù…

Chúng tôi đến đây là khu rừng hoang vắng, ai cũng lao vào việc như con thiêu thân lao vào lửa, nào phát hoang, mở đường, nào đốn gỗ, chặt tre nứa, san đồi để làm nhà, quên cả đói khát, mệt mỏi. Trong lúc dựng nhà, cai ngục nói:

– Làm nhà là để giam phạm mới đi cải tạo, còn các anh đã được tự do một nửa rồi. Đến khi làm xong nhà, lần lượt lại vào đó để cai ngục khoá lại, có lính gác bên ngoài. Sự thật đã rõ ràng, có tù nhân mạnh dạn hỏi:

– Các ông bảo chúng tôi làm việc theo ý thức của người công dân… Vậy đến bây giờ… ?

– Đợi đấy! – Tên cai ngục vừa mỉm cười, vừa nói mỉa mai.

Có người nói nhỏ:

– Tôi biết bị mắc lừa nhưng không dám hé răng.

Nhiều người thất vọng kêu lên:

– Chúng tôi cứ tưởng…

Ngoài xã hội cũng như trong nhà tù, không ít người bị mắc lừa cho đến chết. Từ cứ tưởng này cho đến cứ tưởng khác nối tiếp nhau thành một chặng đường dài của những nạn nhân bị bịp bợm và bị đầy đoạ…

Cặp mắt bác Văn mơ màng nhìn qua khe hở ra quả đồi trước mặt, bác cất tiếng hát nho nhỏ bài o�ne day của Strauss:

… When we were young, o�ne day

One wonderful morning in may

You told me, you loved me

When we were young, o�ne day.

Sweet songs of spring are sung and music was never so gay…

Nghe bác Văn hát, mấy người ngồi và nằm bên nói:

– Hôm nay giáo sư cải thiện được một con nhái, hai ống bơ rau rừng đưa tâm hồn giáo sư bay xa quá, đến thành Vienne cơ đấy!

Chẳng biết thằng tù nào hèn hạ nào làm chó săn cho cai ngục, sáng thứ hai, thiếu uý Hồ sỹ Tưởng, cán bộ giáo dục gọi bác lên văn phòng, hỏi:

– Tại sao tối thứ bảy, anh hát tiếng Anh trong phòng?

– Thưa ông, bài hát của nhạc sỹ người Áo, một danh nhân thế giới.

– Danh nhân tôi không cần biết, tại sao anh hát thứ tiếng đế quốc trong trại cải tạo?

– Thưa ông, tiếng nói là ngôn ngữ của một hay nhiều dân tộc, không có tiếng nói riêng nào của đế quốc, Tư bản hay Cộng sản cả.

– Anh nói láo, tiếng Anh hay tiếng Pháp và nói chung tiếng nói cả những nước không thuộc phe xã hội chủ nghĩa là tiếng nói của đế quốc và Tư bản. Ngay ở bên ngoài, kẻ nào không có nhiệm vụ được giao mà nói các thứ tiếng ấy cũng phải đưa đi cải tạo. Anh có nhớ trong nội quy của trại, cấm nói tiếng nước ngoài không? Chúng tôi quyết định kỷ luật anh một tuần.

– Thưa ông, kỷ luật tôi là quyền của các ông. Tôi khẳng định rằng, ngôn ngữ là biểu hiện trong nền văn hoá của một hay nhiều dân tộc, thể chế chính trị không có tiếng nói riêng.

Tại một góc trại giam, có một ngôi nhà xây kiên cố. Nền nhà được đào sâu xuống một mét, đổ bê tông như đáy bể chứa nước. Sau đó xây tường cao khoảng hơn hai mét bên trên đổ mái bằng. Trong nhà được chia thành nhiều phòng nhỏ với kích thước một mét nhân hai mét. Khi đóng cửa lại, trong phòng tối không còn ánh sáng lọt vào, nếu không có tiếng động bên ngoài thì dễ lẫn lộn ngày và đêm. Quanh năm nhà ẩm ướt, về mùa hè thì ngột ngạt, về mùa đông thì giá rét. Đây là công trình dành cho những thằng tù phạm kỷ luật trại giam. Ai bước vào ngôi nhà này, chân bị cùm cao hơn sàn nằm khoảng hai mươi phân, mỗi ngày được tháo cùm hai lần cho ăn cơm hai mươi phút, mỗi bữa được nắm cơm nhỏ gọi là cơm quả bàng.

Hết hạn kỷ luật, bác Văn không đứng được, trật tự phải dìu bác về phòng. Bác nói với tôi, nếu chúng kỷ luật bác hai tuần sẽ là một bản án tử hình.

* *

*

Một hôm ở ngoài đồng, hàng chục tù chạy đến chỗ một con trâu đang ăn dây khoai, tranh nhau mỗi người một nắm. Tên vũ trang quản chế trông thấy, hắn bắt vất lại. Riêng bác Quách văn Đông giấu được, bác lấy lưỡi cuốc cắt dây khoai ra thành đoạn ngắn, cho vào ống bơ nấu, định mang dây khoai về trại ăn cùng với cơm cho ấm bụng. Thật rủi ro, buổi trưa hôm ấy, tên trực trại ra lệnh cho trật tự khám trước khi cho tù vào trại. Thấy động, bác Đông xếp hàng cuối tranh thủ ăn. Tên trật tự phát hiện, hắn chạy lại bắt bác Đông há mồm ra rồi hắn giật mạnh cả nắm dây khoai trong mồm bác. Dây khoai cứa vào lợi, máu mồm bác Đông chảy ra ròng ròng. Bác còn bị một cú đá ngã sấp mặt xuống đất. Cán bộ quản giáo toán bắt bác Đông viết kiểm điểm. Đến tối, sau khi bình công chấm điểm xong, bác Đông nhờ tôi viết hộ. Bác nói:

– Tôi học hành ít, viết chậm lắm, nhờ anh viết cho nhanh.

– Bác bị án hay là tập trung? – Tôi hỏi.

– Án mười năm!

– Bác mắc tội gì mà nặng thế?

– Tội nhảm nhí ấy mà. Rồi anh sẽ biết, đa số tù ở đây đều mắc tội nhảm nhí thôi: người cộng tác với đối phương xưa kia, mấy anh tu sĩ, mấy bác giáo dân ngoan đạo, dăm anh phản tuyên truyền hoặc nghe đài địch, vài ba người mắc tội gọi là đảng phái phản động như tôi…

– Sự kiện diễn biến dẫn đến tù tội thế nào?

– Có gì đâu, đời sống nông dân hiện nay rất khổ chắc ai cũng biết. Trong hợp tác xã nông nghiệp, tôi có một ông bạn. Hàng ngày hai đứa cứ than phiền với nhau khổ thế này chịu sao nổi? Một hôm ông bạn tôi nói, nông dân nơi nào cũng khổ, ta bảo nhau thành lập một tổ chức chống lại hợp tác xã nông nghiệp.

Tôi ái ngại nói:

– Tuy khổ cả đấy nhưng chống lại đảng thì ai cũng sợ, chưa chắc dám tham gia đâu? – Mà thôi được, ta cứ thử xem sao?

Chúng tôi rủ rê thêm được hai người nữa. ông bạn tôi giết chó mời cả bọn đến uống rượu. Khổ nỗi, rượu vào lời ra, không cảnh giác nói to để thằng đội trưởng sản xuất nhà bên nghe thấy. Nó làm đơn tố cáo, cả bọn bị bắt và đều nhận tội vì tưởng rằng họ chỉ cảnh cáo rồi cho về. Không ngờ, họ đưa ra toà án tỉnh xử ghép vào tội tổ chức đảng phái phản động. Toà phạt ông bạn tôi khởi xướng mười ba năm tù, tôi mười năm, còn hai người kia tám năm.

– Các bác đặt tên đảng là gì chưa, cương lĩnh thế nào?

– Mới uống rượu say nói nhảm nhí, mấy đứa đều là dân ít học, nào đã đặt tên là tổ chức gì? Bọn này cũng chẳng biết thế nào là cương lĩnh? Còn may đấy chứ, như anh nói đã có tên đảng và cương lĩnh hẳn hoi như một nhóm người khác ở Hà bắc thì tội nặng lên bội phần. Người đứng đầu cũng là nông dân ít học phải chịu án hai mươi năm, người thứ hai mười bảy năm…

Bác Đông quê ở Hà bắc, con trai đi bộ đội vào Nam chiến đấu, con gái làm việc ở nông trường. Còn vợ bác vẫn làm ở hợp tác xã nông nghiệp. Bác đi cải tạo từ năm 1964. Bác cao đến một mét tám mươi, trước khi đi tù, chắc bác to lớn lắm. Ai cũng muốn tạo hoá sinh ra cho mình có ngoại hình cao lớn nhưng phải vào tù là điều bất hạnh. Bởi vì có cao lớn thì mỗi bữa cũng chỉ được hai gạt bát cơm độn sắn hoặc ngô.

Theo lời kể của bác Đông, tôi viết kiểm điểm: Tôi là Quách văn Đông toán bốn. Gần nửa năm về trại này, tôi mắc những khuyết điểm sau:

1) Hồi tháng ba, ngày dọn về sinh trong đơn vị vũ trang, tôi cướp một miếng xương còn dính thịt của con chó đang gặm. Tôi bị ông bộ đội phát hiện, ông ấy đánh tôi hai báng súng vào lưng.

2) Tháng tư, khi đi làm qua chuồng lợn, tôi xúc một ống bơ thức ăn của nó. Đến chỗ làm, tôi đang ăn thì bị ông quản giáo bắt được.

3) Ngày 2 – 5, ruộng rau muống của cơ quan vừa tưới nước phân tươi thì toán làm cỏ. Đói và thèm quá, tôi hái
rau đưa vào mồm ăn bị ông bộ đội quản chế bắt được. Ông định bạt tai tôi thì nhìn thấy con bọ phân đang bò trên má tôi, sợ bẩn ông ấy tha cho.

Ngoài ra, trong giờ làm việc, tôi thường xuyên vi phạm quả xanh, rau sống, đun nấu rau rừng, nướng ăn ếch nhái, dế mèn… ở trong trại tôi hay cãi nhau lúc chia nước uống và chia cơm canh.

Những khuyết điểm trên, tôi xin sửa chữa dần dần xin ông quản giáo tha tội. Còn hôm nay, dây khoai trâu đã ăn hết lá, tôi chỉ sai phạm đun nấu trong giờ làm việc chứ không phải cướp thức ăn của nó.

Sáng hôm sau, bác Đông đưa bản kiểm điểm cho tên quản giáo là một thiếu uý, hắn gọi bác vào phòng làm việc hỏi:

– Anh làm bản kiểm điểm này đầy đủ chưa?

– Thưa ông, còn thiếu những sai phạm nhỏ, chẳng hạn, tôi cải tạo về tội phản động bán nước, nay vào trại lại phạm tội cướp nước.

– Thế là thế nào? – Tên quản giáo ngạc nhiên hỏi.

– Thưa ông, mùa hè, mỗi người một bữa chỉ được chia một ca nửa lít nước. Như vậy cả đêm lẫn hai bữa ăn cộng lại được một lít không đủ uống, thành ra không chia nữa mà túm lại cướp. Còn những vụ cướp thường xuyên diễn ra nhưng ít người quan tâm đến.

– Cướp cái gì nữa?

– Thưa ông, phòng giam bưng kín, không khí lọt được vào rất ít, sàn nằm hai tầng chen chúc nhau hàng trăm người một phòng tất nhiên không đủ dưỡng khí thở. Do vậy, ai có lồng ngực rộng chứa lá phổi to cướp được nhiều dưỡng khí hơn.

– Trong bản kiểm điểm, anh nhận cướp thức ăn của gia súc, như thế anh ngang với con vật à?

– Thưa ông, không được ngang mà còn kém. Mức sống của con chó becgiê cao quá, tôi không dám so sánh. Đời sống của con lợn là ước mong của chúng tôi. Chúng tôi ăn gạo mục, sắn khô thì lợn cũng ăn như vậy, còn được thường xuyên ăn thêm rau. Chúng tôi phải ăn đói thì lợn được ăn no, thừa thãi. Chúng tôi phải lao động cưỡng bức, còn lợn thì ăn chơi. Chúng tôi phải giam trong phòng thiếu không khí thở thì lợn được ở trong chuồng thoáng, rộng, mát mẻ. Chúng tôi ốm đau không có thuốc, không ai quan tâm đến. Lợn ốm được chăm sóc, uống thuốc hoặc tiêm chu đáo. Trong số chúng tôi có người bị chết, ngoài mấy thằng tù đào huyệt đem chôn, các ông không cần để ý tới, lợn chết làm hàng trăm thằng tù bàn tán được ăn thịt. Thực ra, chúng tôi phải cố quên cái chết của đồng cảnh để giảm bớt sự lo sợ cho số phận của mình.

Còn đời sống của con trâu so với chúng tôi có cái hơn, cái kém, có cái bằng. Trâu ăn cỏ là kém người được ăn cơm gạo, nhưng hơn là được ăn no. Trâu được ở nơi thoáng mát rộng hơn người, vào chuồng trâu được nghỉ ngơi, còn người vào buồng giam phải còng lưng ngồi nghe bình công chấm điểm, kiểm điểm và nghe đọc báo.

Về lao động thì như nhau, trâu không chịu kéo cày, kéo gỗ trâu bị ăn roi vọt, người không làm, nhẹ thì ăn báng súng, nặng thì vào nhà kỷ luật cùm và ăn cơm quả bàng.

– Cũng là tù, tại sao có người vẫn giữ được nội quy còn anh thì vi phạm?

– Thưa ông, phạm nội quy như tôi là đại đa số, họa may còn một số ít người giữ được. Tuy nhiên khả năng chịu đựng mỗi người một khác, tiến bộ cũng không phải giống nhau. Chẳng hạn cùng tuổi ông trong ngành công an, có người mới là trung sĩ, nhưng cũng có người là cấp tá.

– Anh muốn nói gì nữa không?

– Thưa ông, tôi muốn nói rất nhiều. Nếu hôm nay ông cho phép, tôi chỉ xin trình bày một vài cảm nghĩ.

– Cảm nghĩ gì?

– Xưa kia những người CS trong lao tù của thực dân Pháp là có hành động thực sự chống lại chúng. Ngày nay, trong nhà tù xã hội chủ nghĩa, đại đa số tù nhân chưa có hành vi cụ thể chống lại chế độ. Như tôi chẳng hạn, đang làm ruộng riêng lẻ làm đủ ăn thì nhà nước bắt phải vào hợp tác, công điểm thấp, cuộc sống thiếu thốn sinh ra kêu ca, nói nhảm nhí. Thế mà phải chịu án mười năm…

– Thành lập đảng phái phản động mà không phải là tội à?

– Thưa ông, bây giờ tôi mới biết, nếu gọi là một đảng phải có cương lĩnh, điều lệ và người tham gia. Ông thử nghĩ xem, bốn nông dân vô học thì biết gì đến cương lĩnh, điều lệ mà thành lập đảng.

– Còn may cho anh đấy, cơ quan an ninh phát hiện ra sớm, kịp thời ngăn chặn.

– Thưa ông, trong lao tù của thực dân Pháp, những người CS có mấy ai chịu án nặng như chúng tôi đâu. Mặt khác tôi thường nghe, chính sách nhân đạo của đảng là trị bệnh cứu người đối với kẻ mắc sai lầm. Điều đó chỉ có ý nghĩa tuyên truyền ngoài xã hội. Thực tế trong trại giam các ông làm hoàn toàn ngược lại. Cách đây mấy năm, tôi được nghe con trai đọc cuốn Dưới lá cờ vinh quang của đảng, tác giả Song Hào, viết về nhà tù Sơn la. Có đoạn đại khái như sau: Nhân ngày 1 –5, những người CS góp tiền mua bò, lợn mổ, mời cả tri phủ địa phương đến ăn liên hoan mừng ngày quốc tế lao động. Tại sao trại giam của chế độ ta có nhiều ưu việt mà các ông để tù đói khát và nhiều hình phạt khắc nghiệt thế?

– Bọn đế quốc, thực dân ngu nên chúng mới thất bại. Đảng cho các anh ăn no, kỷ luật lỏng lẻo để các anh tiếp tục tổ chức chống chế độ ngay trong trại giam à?

Đến chiều, bác Đông vào nhà kỷ luật một tuần.

* *

*

Chúng tôi đến trại này đã hơn một tháng. Cơ thể Khoa tàn tạ nhanh chóng, khuôn mặ
t gầy quắt, hốc hác, má tóp lại, chân tay khẳng khiu, đi lại như ông già. Tất nhiên tôi cũng tiều tụy chẳng kém gì Khoa. Anh nói:

– Nếu không tin có thượng đế thì chúng mình và nhiều người khác chắc chắn bỏ xác nơi này.

Một buồi sáng, tôi bị sốt, trước giờ đi lao động, tôi xin tên quản giáo nghỉ. Hắn bảo với y tá trại:

– Anh Thân khám cho anh Tâm xem có phải ốm không? Chắc hiểu ý của tên cai ngục, thằng tù làm y tá khám cho tôi xong, hắn nói:

– Thưa ông, anh Tâm sốt nhẹ, có thể đi làm được.

– Anh Tâm phải đi làm, đừng để tôi phải gọi trật tự cưỡng bức – Tên cai ngục ra lệnh.

Bác Văn ngồi bên nói nhỏ với tôi:

– Anh cố gắng đi thôi, nếu trật tự cưỡng bức là nó đấm đá ngay đấy.

Nghe theo lời bác Văn, tôi đi theo toán ra khỏi trại. Tên trung úy bên vũ trang nói với tên quản giáo cho ba người đi gánh gạo từ trại A về. Tên quản giáo ra lệnh cho tôi và hai người nữa là nông dân.

Tôi xin hắn:

– Hôm nay tôi bị ốm, hơn nữa tôi chưa quen gồng gánh, xin ông miễn cho lần này.

Hắn cười nhạt nói:

– Lao động ở trại giam là cưỡng bức không phải chiều theo ý muốn của anh. Nếu không quen gồng gánh, cần phải làm cho quen.

Không còn đường nào khác, tôi phải tuân theo lời hắn. Ra đến trại A, tên vũ trang quản chế bắt mỗi người gánh bốn mươi cân. Mới trèo đèo, lội suối đi không, tôi đã mệt rồi, chân rời rã không còn muốn bước, bây giờ phải gánh bốn mươi cân thì gánh thế nào? Tôi liều xin tên vũ trang:

– Tôi yếu quá, không thể gánh được. Tôi xin ông.

– Không gánh được cũng cứ phải làm – Hắn lạnh lùng trả lời.

Bác nông dân đi cùng nói nhỏ với tôi:

– Anh phải cố gắng lên, nếu không thì tai hoạ đấy.

Tôi gánh được hơn một trăm mét, mắt hoa lên, đầu óc quay cuồng, chân tay bủn rủn, rụng rời. Đến đoạn lên đồi dốc ngược, tôi lảo đảo ngã xuống, không còn biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy, thấy mình nằm ở buồng giam, tù chuẩn bị đi làm buổi chiều, đầu óc tôi đau như búa bổ. Khoa ôm lấy tôi, vừa khóc, vừa hỏi:

– Họ đánh nên mày ngất đi à?

– Không tao có biết gì đâu?

– Mặt mày có hai chỗ tím lại là vì sao?

– Nghe mày nói, tao mới thấy đau, không biết tại sao lại thế?

Một bác cùng đi gánh gạo, nói:

– Khi anh ngã, ông vũ trang tưởng anh giả vờ nên đấm vào mặt anh hai quả. Không thấy anh phản ứng gì, biết anh bị ngất, ông ấy mới thôi. Ông vũ trang nói với cán bộ trại ngoài cho tù tự giác cõng anh về trại này.

Khoa đến trạm xá, gọi y tá khám cho tôi. Hắn cho cặp nhiệt kế, báo tôi bị sốt 40, 1o C. Khoa hỏi xin thuốc, tên y tá nói:

– Nhiệm vụ của tôi được cán bộ giao là phát hiện những hiện tượng ốm giả vờ để cưỡng bức lao động, còn thuốc thì không có. Vả lại, nếu có thuốc cũng chỉ phát cho những phạm khi được lệnh của cán bộ.

– Tâm bị sốt từ sáng, lương tâm anh để đâu mà không cho người ta nghỉ. – Khoa nói.

– Lương tâm, lương tâm! – Hắn cười gằn lên – Không biết đã bao năm tôi không được nghe nói đến. Còn ở đây, tôi chỉ biết theo lệnh của cán bộ để có ngày đoàn tụ với gia đình. Các anh thông cảm nhé – Nói xong, hắn bỏ đi ngay.

Tôi ốm gần nửa tháng, vài ngày đầu bỏ ăn, sau ăn cháo rồi khỏi. Tiếp ngay sau đó là bệnh kiết lị hành hạ tôi hơn hai tháng, không được một viên thuốc nào. Có mấy ngày nguy kịch, tôi không mặc quần nữa, ban ngày ngồi trên tấm ván khoét lỗ, bên dưới để cái giành tro, đi đại tiện liên tục hai, ba mươi lần một ngày đêm. Thế rồi bệnh đó cũng tự nhiên lại khỏi. Gần một tháng sau, tôi đi chưa vững thì bệnh ngứa phát sinh, cơ thể tôi từ cổ đến chân tay, da thâm lại vì mụn ngứa và nhọt. Lúc đó, yếu quá tôi phải chống gậy dò đi từng bước. Nằm bên tôi, nhiều lần Khoa khóc và nói:

– Tao thương mày quá! Xin lỗi, tao có ý nghĩ rằng, nếu mày không may chết vì bom đạn, có lẽ không làm tao đau lòng bằng nhìn thấy thân thể điêu tàn của mày hiện tại.

Nhiều người trong toán nói nhỏ với nhau, tôi nghe được:

– Anh ấy khó mà qua được mùa đông này.

Bác Văn buổi tối thường đến thăm tôi, bác nói:

– Anh đủ nghị lực để nhìn vào sự thật, nếu con người không có định mệnh thì anh không thể thoát khỏi bàn tay của tử thần trong thời gian tới.

Bác Quách văn Đông cũng nói:

– Không ngờ tuổi trẻ mà sức đề kháng với đói khổ, bệnh tật lại kém hơn những người già. Chúng tôi ai cũng thương anh, lại lo cho số phận của chính mình có thể chẳng may mắn gì hơn, chỉ có khác là trước với sau thôi.

Nhưng không! Ngoài bàn tay hung bạo của bầy quỷ đỏ còn có bàn tay nhân từ của thượng đế. Bệnh tật hành hạ liên tục trong hoàn cảnh tù đầy nghiệt ngã ấy tôi vẫn không chết, cũng như bao người khác, thân thể đã tàn cách nấm mồ không đầy gang tấc mà sao tử thần không bắt? Giải thích theo khoa học đành bất lực trước những cuộc sống huyền bí ở nơi này.

Tuy nhiên, hàng ngày vẫn diễn ra những cuộc tiễn đưa người về bên kia thế giới một cách âm thầm, lặng lẽ.

Mời các bạn đón đọc phần tiếp theo: Trại cải tạo An thịnh (2)

Tháng Bảy 22, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Nhà tù CỘNG SẢN

2 phản hồi »

  1. […] năm tù, từ năm 1965 – 1976, tác giả đã bị chuyển qua nhiều phân trại của trại cải tạo An Thịnh và trại cải tạo Vĩnh […]

    Pingback bởi Kỳ 2 – Bản tóm lược. « Eventfulday's Blog | Tháng Bảy 23, 2009 | Trả lời

  2. […] Kỳ 13 – Nhà tù – Trại cải tạo An thịnh (1) […]

    Pingback bởi Tham quan nhà tù NNXHCNVN: về chính sách đãi ngộ “tù nhân chính trị”. « Welcome to BEAR’s BLOG!!! | Tháng Chín 7, 2009 | Trả lời


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: