Eventfulday's Blog

Kỳ 12 – HỒI BA – Nhà tù – Hoả lò

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 12

HỒI BA – Nhà tù

I Hoả lò

Vào Hoả lò, Viên hỏi cung tôi ngay:

– Chúng mày định trốn đi đâu?

Tôi thoáng nghĩ, phải biết Khoa đã khai thế nào? Muốn thế, tôi giả vờ như chẳng biết gì để hắn bực mình, không tự chủ được sẽ nói ra. Tôi trả lời:

– Tôi chẳng biết ông định hỏi gì?

– Muốn được khoan hồng, mày phải khai ngay, mày ngoan cố phải không?

– Thưa ông, tôi không biết thì khai gì được?

Mắt Viên trợn ngược, hai bàn tay đập mạnh xuống bàn, quát:

– Mày có bàn với tên Khoa trốn sang Thái lan không?

– Tôi không bàn đi đâu cả.

Tôi nghĩ, giấy trắng mực đen trong nhật ký của Khoa, tôi không thể không nhận có ý định trốn đi. Nếu Khoa khai trốn ra nước ngoài với mục đích kinh tế thì nhận được rồi nhưng nếu mình nhận ngay hắn sẽ không tin, cho rằng đã bàn với nhau từ trước.

– Chúng mày đã mua sắm những gì để chuẩn bị trốn theo địch?

– Tôi vô cùng ngạc nhiên câu hỏi của ông?

– Mày có quan hệ với tên Khoa và tên Dậu không?

– Thưa ông, ngày trước tôi có làm với Khoa ở hợp tác xã nhưng không thân. Còn Dậu, tôi không biết.

Hắn hỏi đi, hỏi lại, quát tháo hồi lâu không có kết quả, hắn nói:

– Tao cho mày nằm suy nghĩ vài ngày, nếu tiếp tục ngoan cố sẽ tống mày xuống Cacho.

Nói xong, hắn đưa tôi vào phòng giam.

Sau khi khám xét kỹ càng quần áo, đồ dùng, tên cảnh sát trông coi nhà giam đưa tôi vào phòng số bảy. Lúc ấy đã gần mười hai giờ trưa phòng giam đã khoá cửa. Buồng có gần ba chục người bao gồm nhiều đội khác nhau: ngụy quân, ngụy quyền, tu sĩ, giáo dân ngoan đạo, đảng phái, vượt biên, phản tuyên truyền, nghe đài địch, hát nhạc Sài gòn, tham ô, lừa đảo, hiếp dâm, trộm cắp…

Thấy tôi mới đến họ nói đùa:

– Ở đây toàn là khách đến chơi lâu, xem ra chú khách này bình thường quá.

– Bình thường là thế nào? – Tôi hỏi.

– Ai đến đây cũng phải mưa rơi lúc đầu, riêng chú khô khan như nắng hạn.

– Nước mắt có rửa được tù đầy đâu mà phải khóc?

– Tuyệt! Thằng cha này cứng cổ lắm đây. – Lê Sinh nói. Gã dáng người cao to, gáy phẳng, mắt ốc nhồi. Nghe đâu gã là cán bộ văn hoá tham ô vụ triển lãm Vân hồ, bị xử bốn năm tù. Nhưng Lê Sinh không phải đi trại, được ở lại làm cò mồi cho chấp pháp. Để lập công chuộc tội, gã đã đưa nhiều người vào bẫy, lĩnh án nặng. Nhiều người khuyên tôi phải cảnh giác gã, nhưng tôi nghĩ phải tương kế tựu kế, dùng Lê Sinh khai cung cho mình địmh trốn sang Thái lan vì lý do kinh tế. Tôi muốn bản cung sớm kết thúc, nếu kéo dài sẽ nảy sinh ra nhiều vấn đề phức tạp hơn. Thế là tôi giả vờ tâm sự với Lê Sinh.

Ba ngày sau, Nguyễn hữu Viên lại gọi, tôi đoán Lê Sinh ngầm báo cho hắn biết rồi. Viên hỏi:

– Hôm nay, mày nhận chưa?

– Thưa ông, tôi không làm gì, không biết gì để nhận cả?

– Mày đừng ngoan cố nữa. Báo cho mày biết đã có thêm nhân chứng về tội của mày.

– Thôi được, hôm nay tôi xin thành thật khai. Tôi, Khoa và Dậu uống cà phê ở cửa hàng Thuỷ tạ, thấy hai vợ chồng Việt kiều từ Thái lan mới về nước, nói chuyện với nhau làm ăn bên Thái dễ, nếu tu chí sẽ mau chóng giàu có. Do vậy, chúng tôi bàn nhau trốn sang Thái để làm ăn sinh sống. Việc chuẩn bị hành lý do Khoa và Dậu, tôi chưa biết đã mua sắm được đến đâu.

– Mày định trốn đi bằng đường nào?

– Chúng tôi định lên Điện biên. Từ đó sang Lào, đến Luăngbrabăng và cuối cùng là sang Thái. Một việc làm đầy tính phiêu lưu, mạo hiểm.

Viên bảo tôi ký vào bản cung và cho về phòng giam. Hiện tại, Dậu vẫn chưa bị bắt, vậy Dậu sẽ khai thế nào, làm tôi lo lắng? Dù sao cũng bị tù rồi nhưng nếu cùng khai trốn sang Thái để làm ăn sinh sống sẽ giảm được thời gian tù tội.

* *

*

Hơn một tháng ở nhà giam, tôi biết được tình tiết tội trạng của một số người, thật là những câu chuyện cười ra nước mắt.

Người mắc trọng tội là bác Vũ quang Nghĩa. Xưa kia, bác học tại trường Colleg Vinh, sau tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, cấp đại uý. Hoà bình lập lại, bác chuyển sang ngành giáo dục, dạy ở trường Tây sơn. Vì không tán thành các chính sách của đảng, bác bất mãn với chế độ. Bác Nghĩa cùng với một ông bạn là Phan khắc Liên – nhà thơ kịch và một giáo viên là Đỗ văn Kha thành lập một đảng phái chống Cộng. Đảng chưa có tên gọi, chưa thảo cương lĩnh và điều lệ. Thực ra mới trong các buổi uống cà phê, tán gẫu. Sau đó có thêm một người, qua vài buổi hội đàm, thấy nguy hiểm, người đó đã làm đơn tố cáo. Cả nhóm bị bắt, sau một thời gian giam cứu, toà án phạt Vũ quang Nghĩa mười hai năm tù, Phan khắc Liên mười năm, Đỗ văn Kha tám năm. Khi tuyên án xong Kha khẩn khoản van xin: quý toà thay đổi cho tôi cái tội danh, chẳng hạn tội hiếp dâm hoặc tội lưu manh cũng được, còn mang tội phản cách mạng thì nhục lắm, nhục lắm.

Vũ công Hoà mười chín tuổi, con một gia đình cách mạng. Thân phụ Hoà làm việc ở uỷ ban nhân dân thành phố. Hòa có nét mặt đần độn, tuy học hết lớp mười nhưng chẳng hiểu biết gì. Trong trại giam Hòa có biệt danh là Lửng.

Hoà cùng bạn đi uống bia, trong lúc ngà ngà say, Hòa nói, có ước mơ sang Pháp sống. Bạn của Hòa phản phúc đi tố cáo, Hòa bị bắt khẩn cấp vào Hỏa lò lúc mười hai giờ đêm. Nhiều người nói với Hòa, không có nhân chứng, mày đừng nhận. Nếu là phạm pháp hình sự như trộm cắp, lưu manh thì cương vị của bố mày sẽ che chở được, còn tội phản cách mạng thì không thể. Hòa bị hỏi cung liên tiếp ngày đêm. Đồng thời thân phụ Hòa gửi thư cho con với nội dung: “Con cứ nhận sai lầm, không khi nào đảng lại truy tố con. Bởi vì gia đình ta là gia đình cách mạng”. Một hôm vào Hỏa lò gặp con, ông nói: nếu không nhận tội từ nay bố sẽ từ con. Không đủ nghị lực để chịu đựng đói khổ nếu không được gia đình tiếp tế, Hòa đã nghe lời bố, nhận tội muốn trốn sang Pháp nhưng đi bằng cách nào quả thực chưa nghĩ đến, nên anh ta cứ quanh co mãi. Chấp pháp ép cung nhiều lần Hòa không biết phải khai thế nào? Và cuối cùng, Hoà nhận có ý định chạy vào tổng đại diện Pháp ở phố Hàm long. Rốt cuộc Hòa bị xử sáu năm tù và ba năm mất quyền công dân. Khi hết án Hòa không được về Hà nội mà phải đi công trường trong lúc chiến tranh. Sau khi xử
, Hòa được gặp bố, anh ta khóc lóc bắt vạ bố đã ép anh ta phải nhận tội. Ông bố cũng khóc và nói rằng, bố không hiểu gì pháp luật. Ông ta nói đúng lắm, ngoài bộ công an và ngành toà án, có mấy ai hiểu nổi luật rừng của CS.

Phan văn Được hơn ba mươi tuổi, tính tình cấc lấc hay nói lăng nhăng, bậy bạ. Quê Được ở Thanh Hoá, hồi cải cách gia đình là địa chủ. Đầu năm 1960, Được ra Hà nội xin làm phụ động ở nhà máy cơ khí Mai động. Thời gian ở nhà máy, Được đánh vỡ hai cái bóng đèn điện. Anh ta yêu một phụ nữ là vợ của bộ đội nhưng anh ta lại mắc bệnh si tình. Biết tin đó, người bộ đội làm đơn kiện.

Được bị bắt vào Hoả lò và xử sáu năm với những tội danh sau: nói lăng nhăng phản tuyên truyền, hai năm tù, làm vỡ hai cái bóng đèn quy vào tội phá hoại kinh tế, hai năm, quyến rũ vợ bộ đội, hai năm.

Nguyễn Kỳ, giáo viên cấp hai, dạy văn. Một buổi tối anh dạo chơi qua hồ Hoàn Kiếm. Đến câu lạc bộ Thống nhất, gặp một tên côn đồ đang hành hung một người, máu hiệp sĩ bốc lên “giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha”, Kỳ xông vào bênh kẻ yếu. Ngay sau đó, công an có mặt, gọi cả bọn về khu lập biên bản và bắt xuất trình chứng minh thư. Đến nửa đêm, người bị nạn và cả kẻ hung thủ được tha, còn Kỳ bị giữ lại. Anh thắc mắc:

– Tại sao không cho tôi về?

– Có việc cần đến anh – Công an trả lời.

Thì ra trong chứng minh thư gấp một lá thư viết cho người yêu với nội dung chán đời, buồn xã hội. Sáng hôm sau, Kỳ bị đưa vào Hoả lò, anh bị xử bốn năm tù và hai năm mất quyền công dân. Tên anh là Kỳ, sự kiện dẫn đến phải ngồi tù cũng kỳ đấy chứ!

Bác Nguyễn văn Ty, người thành phố Sài gòn. Sau khi hiệp định Geneva ký kết, là chức sắc trong tổ chức phật giáo, bác bị cưỡng bức di cư ra miền bắc và làm ở sở nhà đất Hà nội với mức lương không thay đổi hơn mười năm, bốn mươi nhăm đồng một tháng. Đến nay bác bị bắt đi tập trung cải tạo.

Về sau, tôi còn biết rất nhiều người ở các đô thị miền Nam bị cưỡng bức ra Bắc và lần lượt đi tù.

Bác Đoàn văn Thích hơn năm chục tuổi, người thấp bé, mắt kèm nhèm, làm nghề đạp xích lô từ khi còn trẻ, vợ bác buôn bán hàng rong. Gia đình bác vào diện phải đi khai hoang miền núi. Do vậy, nhà vừa bán được con lợn hai trăm đồng thì công an hộ tịch đến vay một trăm. Biết thân phận mình không thể chối từ nên bác phải cho vay. Hơn một năm, công an hộ tịch vẫn không trả lại bác, tất nhiên bác cũng không dám đòi. Đúng vào thời điểm vợ bác bị bệnh nặng, phải nằm viện, bác liều đến đòi tiền. Tên công an ngang ngược trả lời:

– Khi nào có tôi trả, ai bảo bác đến đây?

Bác Thích phát khùng lên:

– Vợ tôi đang nằm viện, anh muốn giết người thì không trả.

Tên công an bắt bác ra đồn, lập biên bản buộc tội bác vu khống, gây rối trị an. Bác Thích phải nhận lệnh tập trung cải tạo.

Đúng là tiền mất, tật mang.

Hồ văn Hoan, một nông dân quê ở Nghệ an. Thời gian đó đang chiến tranh ác liệt bằng không quân của Mỹ nên ở vùng Trong nhiều mặt hàng giá đắt đỏ: giá một bao diêm bảy hào (giá ở Hà nội một hào), một gói thuốc lá Trường Sơn giá một đồng hai hào (ở Hà nội giá ba hào). Hoan có ba trăm đồng ra Hà nội định ăn chơi một thời gian cho thoả thích rồi mua diêm, thuốc lá về quê bán lấy lãi bù vào khoản tiền đã chi tiêu. Đến ga hàng Cỏ, thấy cửa hàng uốn tóc lạ mắt, Hoan vào làm đầu rồi ăn uống, nghỉ ngơi ở khách sạn Đồng lợi.

Ngày sau, Hoan hỏi thăm về hồ Hoàn Kiếm và nhậu ở khách sạn Phú gia. Hoan hỏi một người làm trong khách sạn, ở Hà nội có khách sạn nào sang nhất và lớn nhất? và được trả lời là khách sạn Thống nhất. Tội cho chú quê mùa, mới bước vào cánh cửa quay của khách sạn đã bị tóm cổ đưa vào Hoả lò. Nhìn Hoan rất ngộ nghĩnh, quần áo nâu còn dính nhiều vết bùn loang lổ, mặt đen thui vì cháy nắng, tóc lại uốn, tiếng nói trọ trẹ khó nghe. Ấy thế mà cũng phải ngồi tù năm tháng. Trong giấy tạm tha của Hoan có câu: tình nghi phản cách mạng. Hoan khóc như một đứa trẻ và nói:

– Tôi tưởng nông dân thì khó phạm tội phản cách mạng, không ngờ còn dễ hơn cả đi chơi.

Những chuyện phạm tội có tính chất như trên nhiều lắm, được quy vào tội danh phản cách mạng, đến nỗi đa số tù ở đây không ai tin tội lỗi của ai, thậm chí không tin vào tội của chính mình tại sao phải nhận án nặng, phải ngồi tù hoặc mắc tội gì mà phải đi tập trung cải tạo?

Tôi ở đây đã gần hai tháng. Ở buồng giam này, tên quản giáo rất khắt khe. Hắn là người liên khu năm, nói nhát gừng từng tiếng một, mắt trắng dã trông dễ sợ. Chiều thứ bảy, can phạm được nhận tiếp tế, không được gặp gia đình. Tên quản giáo ra lệnh không ai được cho ai một thứ gì, phải ăn tiếp tế vào bữa cơm.

Từ cái “lệ làng” này, nhiều người bị cùm hoặc các hình thức kỷ luật khác vì tội ăn vụng đồ tiếp tế của mình. Có nhiều người nhận được tiếp tế sau bữa cơm chiều thứ bảy, mặc dù rất đói đành phải để ngày sau chờ đến bữa cơm mới dám ăn.

Trong Hoả lò mới đúng là tù ngồi. Theo giờ hành chính, suốt ngày tù phải ngồi xếp bằng ngay ngắn để nghe đọc báo, đọc sách hoặc kiểm điểm.

* *

*

Giữa tháng mười, nhân ngày đi đổ thùng, tôi thấy Dậu ở buồng số 8. Dậu giơ tay chào tôi. Ngay ngày hôm sau tôi lại bị đi cung. Tên chấp pháp là Lê hữu Lượng người miền Trung nam bộ, hắn nói:

– Anh đã lừa cơ quan pháp luật, khai bịa đặt. – Viên ngồi bên Lượng, hắn hằn học nói:

– Mày có ý thức phản cách mạng rõ ràng.

Lượng đọc bản cung khai của Dậu cho tôi nghe, nội dung như sau: “Tôi và Khoa khởi xướng việc trốn vào Nam, mục đích đầu tiên: tố cáo trước dư luận về cuộc sống cơ cực, mất tự do của nhân dân miền Bắc. Khi có được lòng tin của chính quyền Sài gòn sẽ xin sang Mỹ học, xin vào các trường theo năng khiếu của từng người. Tâm có năng khiếu về triết học, logique học, Khoa về thơ văn, còn tôi về quân sự. Vì theo nhận xét của Tâm, tính tôi lầm lì, dũng cảm, có thái độ bình tĩnh trước những diễn biến bất ngờ, hợp với tính cách của một người lính. Khi học hành thành tài, nếu chiến tranh chưa kết thúc, chúng tôi sẽ trở lại miền Nam hoạt động chống Cộng. Việc chuẩn bị lên đường do tôi và Khoa đảm nhiệm. Khi nào xong xuôi cả ba đều trốn. Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng, việc trốn đi hết sức phiêu lưu, mạo hiể
m, không dễ dàng gì thoát được… ”

Đọc xong, Lượng nói:

– Chúng tôi không cần lời nhận tội của anh cũng đủ bằng chứng đưa ra toà. Tuy nhiên, để giảm bớt một phần tội trạng, tôi cho anh giấy bút, suy nghĩ khai thế nào cũng được. Nếu tiếp tục ngoan cố, pháp luật sẽ thẳng tay trừng trị.

Đúng là Dậu không đủ khả năng đối phó với thủ đoạn của bọn chấp pháp nên anh đã khai thật, nhưng còn rất đơn giản. Tôi phải nhận theo lời khai của Dậu để bản án không nảy sinh phức tạp. Nếu Dậu khai thêm tập nhật ký của Khoa từ năm 1961 – 1964 và tập hồi ký của tôi thì bố Khoa là người cất giấu cũng không tránh khỏi tai hoạ. Còn tôi và Khoa có thể không hẹn ngày về.

Trong lúc ngồi ở hành lang phòng chấp pháp viết bản khai cung, tôi thấy trong cổng Hoả lò một toán tù nữ sắp lên ô tô đi trại. Tôi thoáng nhìn thấy Nga, và có lẽ, em thấy tôi đã lâu, em giơ tay chào tôi. Nga thay đổi quá nhiều, dáng người gầy yếu, quắt queo, má hóp lại, da xanh nhợt không còn là một cô gái đẹp, duyên dáng như xưa. Khoảng cách xa nên chẳng nói với nhau được lời nào, thế là cuộc đời Nga thực sự bước vào bóng tối.

Tết năm ấy, ngoài tôi, ai cũng có gia đình đến gửi quà tiếp tế. Người ta nói với nhau:

– Il est sans famille.

– He has no family.

– Nó không có gia đình – Người nói nhỏ với vẻ mỉa mai, chế giễu.

Họ không biết, tôi không có gia đình là do CS cũng như họ đang bị tù đầy. Lời nói thiếu ý thức của họ làm lòng tôi quặn đau thêm. Cách đó mười năm, bố tôi qua đời vì bàn tay hung bạo của bầy quỷ đỏ, nhà cửa bị cướp, tình thương yêu thiêng liêng duy nhất còn lại, tôi đã bị chôn vùi không gì thay thế hoặc bù đắp. Kiếp sống đơn côi đã thấm vào từng làn da, thớ thịt của tôi. Thời gian cứ nặng nề, lặng lẽ trôi, số phận đơn côi, hiu quạnh ấy cứ lẩn quẩn trong vòng cơ cực, tủi nhục để anh chị em xa lánh, họ hàng khinh miệt cùng với sự hắt hủi của xã hội và những mưu cầu vô vọng. Họ không hiểu rằng, tôi chỉ là một nạn nhân đáng thương nhất trong số họ. Rồi đây, ai sẽ là người may mắn được sum họp với gia đình, ai phải bỏ xác nơi rừng núi?

* *

*

Cuối tháng ba, công an Hoả lò đưa tôi sang viện Kiểm sát nhân dân Hà nội để thẩm lại cung. Tôi bước vào phòng, một ông trạc ngoài năm mươi tuổi, đeo kính trắng, hỏi tôi:

– Anh có phải là Nguyễn Tâm không?

– Vâng, thưa ông!

– Hôm nay, tôi thay mặt viện Kiểm sát nhân dân Hà nội hỏi anh một số vấn đề bổ sung cho bản cung của anh chưa rõ.

Trước hết, hỏi anh ngoài đề một chút, ở ngoài có một số người quen và tên Khoa thường gọi anh là cái máy tính điện tử, người theo trường phái Hegel trẻ hoặc học trò danh dự của Bruno baue có đúng không?

– Thưa ông, đó là những lời bông đùa của tuổi trẻ, tôi xin ông tha thứ – tôi trả lời và thoáng nghĩ, những câu nói đùa với nhau lúc này cũng thành ra tội rồi đây.

– Trước khi vào việc – ông viện kiểm sát nói – Tôi đề nghị, về phần tôi, thay mặt cho cơ quan pháp luật muốn buộc tội anh phạm tội có nguyên nhân theo ý nghĩ của mình. Về phần anh thì ngược lại, nghĩa là tìm mọi lý lẽ để biện bạch cho hành vi sai phạm của mình. Tôi cho rằng, theo chủ quan của từng người là sai. Do vậy, hãy lấy thực tế khách quan là kim chỉ nam làm việc của tôi và anh hôm nay. Anh có nhất trí không?

– Vâng, thưa ông!

– Câu hỏi thứ nhất: Vì động cơ gì anh đã chuẩn bị vượt tuyến trốn theo địch? Câu hỏi này, anh hãy lấy tính nhân quả để phân tích.

Tôi nảy ra ý nghĩ, mình bị bắt vì lý do chính trị trong thời buổi chiến tranh, nếu có giả ngây, giả ngọng, chúng cũng chẳng tha mình sớm nên tôi trả lời:

– Thưa ông, tôi sinh ra trong một gia đình phong kiến. Mặc dù vậy, thân phụ tôi ăn ở hiền lành. Sau cách mạng, gia đình tôi đã làm hết sức mình để làm nghĩa vụ với chính quyền. Chẳng những thế, gia đình tôi lại có ba thân nhân bị thực dân Pháp giết hại trong cuộc chiến. Thế mà hồi cải cách ruộng đất gia đình tôi vẫn không thoát nạn, thân phụ tôi bị bắn, nhà cửa, tài sản bị tịch thu toàn bộ. Tôi trở thành một đứa trẻ không cha, không mẹ, không nhà cửa, ăn đói mặc rét, cố gắng vừa học vừa làm kiếm sống, mong ước có được một nghề để sinh sống sau này. Cả ước mơ tầm thường phải có cho mọi con người, tôi cũng bị dập vùi tàn nhẫn: học bị đuổi, xin việc làm không được vì lý lịch gia đình.

Thưa ông, đã là một con người, dù là một tên nô lệ cũng phải có việc làm để kiếm sống, chưa nói đến quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Những năm tháng tôi bơ vơ, thất nghiệp, cuộc sống thiếu thốn trăm bề. Chẳng những thế về mặt tinh thần thì liên miên lo sợ, hoảng loạn vì nay bị doạ đi quê hương mới, mai bị vận động ra khỏi thành phố.

Phải chăng xã hội đã dồn tôi đến bước đường cùng? Đó là nguyên nhân thứ nhất. Từ đó buộc tôi phải quan sát rộng hơn, nhìn toàn xã hội. Tôi tự hỏi, hiện nay nhân dân đang sống thế nào? Và tự trả lời, họ đang lầm than, cơ cực, bị bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ. Một xã hội không có quyền con người thì xã hội đó không thể có hạnh phúc…

Ông kiểm sát ngắt lời tôi:

– Nhân dân cả nước đang hào hùng khí thế cách mạng chống Mỹ, cứu nước. Tại sao anh dám nói nhân dân không có quyền tự do?

– Thưa ông, muốn biết một thể chế có quyền con người, quyền tự do hay không, trước hết phải xét đến quyền tự do ngôn luận. Ở Hà nội, ai cũng biết rằng, có tờ báo nhân dân là tờ báo đảng, ngoài ra còn những tờ báo khác như thời mới, Hà nội, thống nhất, lao động, tiền phong, văn nghệ… Những tờ báo này đều do cơ quan nhà nước phát hành, những bài quan trọng đều rập khuôn theo tờ báo đảng, có tờ báo nào đại diện cho tiếng nói của nhân dân đâu? Nói chung báo chí, đài phát thanh là cơ quan ngôn luận của đảng, phim ảnh, văn nghệ cũng phục vụ cho đảng. Thật là một điều nghịch lý nếu có quyền tự do ngôn luận lại có tội phản tuyên truyền. Khi quyền tự do ngôn luận bị tước bỏ thì làm gì còn tồn tại các quyền tự do, dân chủ khác. Đây là nguyên nhân thứ hai đã dẫn tôi đến con đường phải vượt tuyến vào Nam.

– Tôi cho rằng, tư tưởng là thống soái – Ông viện Kiểm soát nói – Anh trốn vào Nam chống Cộng vì ý thức giai cấp và bố anh bị cách mạng xử trí.

– Thưa ông, tôi không phủ nhận việc chết oan của bố tôi là một nguyên nhân nhưng chỉ là th
ứ yếu. Người cha dù chết bất cứ trong hoàn cảnh nào thì con cái cũng phải thương tiếc, khóc than, đó là lẽ sống vĩnh hằng. Tuy nhiên, trong xã hội loài người từ xưa đến nay có rất nhiều trường hợp cha thờ một vua, con thờ một chúa, cha đi đường này, con đi nẻo khác. Nếu ngày nay đảng tạo ra một xã hội để mọi người có quyền tự do, dân chủ, có quyền mưu cầu hạnh phúc, từ đó vì lương tâm đối với cộng đồng buộc tôi phải phục vụ cho đất nước.

Thưa ông, tư tưởng là thống soái, chỉ huy mọi hành động nhưng trong học thuyết Marx lại nói: “Con người là sản phẩm của hoàn cảnh”, có nghĩa là hoàn cảnh đã dẫn tôi đến bước đường cùng phải bỏ trốn đi nơi khác, giống như bản năng tự vệ của muôn loài. Còn ý thức giai cấp như lời buộc tội của ông, cho phép tôi được trình bày. Cách mạng tháng tám, tôi mới lên ba tuổi. Gia đình tôi không có của cải để lại, không có nguồn thu nhập nào khác ngoài những bàn tay lao động. Tôi lớn lên và trưởng thành dưới chế độ mới. Mặt khác, tôi không nhà cửa, không tài sản, không việc làm, không được học hành tử tế. Chẳng những thế, tôi mất cha, mất quyền mưu cầu hạnh phúc, mất niềm vui, bị dập tắt mọi ước mơ và hy vọng mà tất cả đều do đảng.

Thưa ông, đó là hoàn cảnh của tôi. Hoàn cảnh ấy chỉ dẫn đến ý thức chán ghét chế độ chứ không thể sản sinh ra ý thức phong kiến hay tư bản. Ông suy luận để buộc tội tôi: con mang ý thức của cha – ý thức phong kiến chống cách mạng. Có nghĩa là ý thức sản sinh ra ý thức, tôi e rằng ông là marxist mà theo cách suy luận ấy không có cơ sở khoa học của phương pháp tư duy biện chứng.

Thưa ông, cho phép tôi được giải thích thêm: Dậu xuất phát từ một gia đình nông dân nghèo, bố là liệt sỹ. Anh ta sinh ra và lớn lên sau cách mạng. Trước khi bị bắt, Dậu là công nhân biên chế ở công vụ đường sắt Bắc giang. Vậy anh ta có ý thức gì nếu không phải đã nhận thức được sự bất công của xã hội? Có thể ông buộc tội tôi đã xúi giục anh ta trốn theo địch nhưng sẽ là một điều phi lý nếu cho rằng tôi – một kẻ cùng cực của xã hội, đang bị dồn đến chân tường lại có khả năng thuyết phục Dậu. Để bỗng chốc anh ta từ bỏ lý lịch tốt đẹp của gia đình và bản thân với chế độ và phủ nhận sự giáo dục của đảng hàng chục năm về ý thức cách mạng.

– Anh tìm mọi lý lẽ để ngụy biện và bào chữa cho sai phạm của mình. Anh dám cho rằng, xã hội ta không có tự do, dân chủ. Vậy đảng ta độc tài à?

– Thưa ông, ngôn ngữ mà đảng dùng trong sách báo là nền chuyên chính vô sản. Tôi học được một ít từ tiếng anh, theo sự hiểu biết nông cạn của tôi, từ độc tài đồng nghĩa với từ chuyên chính mà tiếng anh là dictatorship. Vậy có thể viết lại là nền độc tài vô sản. Nếu có dân chủ thực sự, ông hãy hỏi xem có bao nhiêu phần trăm gia đình muốn làm việc trong hợp tác xã nông nghiệp và có bao nhiêu phần trăm số người tình nguyện đi vùng kinh tế mới với ước mong của họ. Nếu tôi không nhầm, đại đa số là do bắt buộc.

– Anh nói láo, ai muốn vào hợp tác xã nông nghiệp hoặc đi miền núi đều có đơn xin, nhà nước không cưỡng bức.

– Thưa ông, là người thi hành các chính sách, ông rõ hơn tôi. Tuy nói là vận động nhưng muốn thực hiện được, ai chẳng biết nhà nước phải áp dụng biện pháp chính quyền, cao hơn là toà án và nhà tù.

– Câu hỏi thứ hai: Anh cho rằng, nhà nước bắt anh sai hay đúng? Câu hỏi này, anh hãy lấy tính tự do và tính tất yếu để phân tích.

– Thưa ông, vì an ninh và sự tồn tại của chế độ bắt tôi là đúng. Ngược lại, vì chân lý và lương tri của loài người, mà bỏ tù tôi là sai lầm.

– Anh đặt phạm trù chế độ đối lập với chân lý à?

– Thưa ông, đúng thế. Tôi cho rằng một thể chế không mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đứng về bình diện chân lý, thể chế đó không được phép tồn tại nữa. Do vậy mọi mưu đồ, mọi hành động kéo dài sự sống của thể chế đó đều là sai lầm.

– Đảng lãnh đạo nhân dân đã chiến thắng thực dân Pháp, đang chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Nếu không có chính nghĩa, không có chân lý thì tại sao liên tiếp chiến thắng vẻ vang như vậy? Bởi vì chính nghĩa bao giờ cũng thắng.

– Thưa ông, câu nói chính nghĩa bao giờ cũng thắng không phải là một quy luật, một tính tất yếu. Câu nói đó còn rất nhiều sai số. Chỉ nhìn lại lịch sử Việt nam cũng rõ. Các cuộc khởi nghĩa của hai bà trưng, bà triệu, Lý bôn, Mai thúc Loan… chống lại sự thống trị của phong kiến Trung hoa, cuối cùng đều thất bại. Các cuộc khởi nghĩa của Phan đình Phùng, đội cung, đội Cấn, Phan bá Vành… chống lại thực dân Pháp cũng cùng số phận. Theo quan điểm lịch sử hiện nay, vua Quang trung là vị anh hùng dân tộc có công diệt chúa Trịnh, phá tan quân xâm lược Mãn thanh nhưng quân Tây sơn không thu được thắng lợi cuối cùng và chết yểu. Ngược lại Nguyễn Ánh là vị vua bán nước “rước voi về giày mả tổ” lại chiến thắng Tây sơn, thống nhất giang sơn lập nên triều đình nhà Nguyễn tồn tại gần một trăm năm mươi năm. Tôi cho rằng, sự nghiệp chống Mỹ của đảng có giành được thắng lợi hoàn toàn cũng không có cơ sở để khẳng định sự nghiệp ấy là chính nghĩa.

– Anh muốn phủ nhận hoàn toàn sự nghiệp chính nghĩa của đảng phải không?

– Thưa ông, tôi không có ý định hồ đồ ấy. Một tên tướng cướp có khi còn làm điều thiện, huống chi một chế độ. Tuy nhiên tội ác của một tên tướng cướp dù ở tầm cỡ nào cũng không thấm vào đâu so với một chế độ độc tài, tàn bạo tồn tại nhiều thập kỷ.

– Nếu thế, anh hãy nói những chủ trương, chính sách nào của đảng theo ý nghĩ của anh là đúng đắn.

– Thưa ông, bản tuyên ngôn độc lập của Hồ chủ tịch ngày 2 – 9 – 1945 là tiếng nói chính nghĩa, đầy sức thuyềt phục. Đảng kêu gọi xoá nạn mù chữ, phát động phong trào bình dân học vụ sau cách mạng là một chủ trương hay. Cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp về danh nghĩa là cuộc chiến ái quốc. Tuy nhiên sau này đảng sử dụng nhiều biện pháp tàn bạo đối với những người lương thiện bị nghi ngờ.

Nhưng sau ngày hiệp định geneva được ký kết, nghĩa là sau ngày chính quyền cách mạng đã giành được một nửa giang sơn thì mọi chủ trương, chính sách của đảng không phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân nữa. Tôi có cảm tưởng rằng, mỗi chủ trương, mỗi chính sách là một cái thòng lọng thắt vào cổ người dân. Đảng lại đi t
heo vết đường mòn của lịch sử: “Nhân dân là công cụ để thực hiện ý chí của một vị anh hùng, đến khi sự nghiệp thành công, họ trở thành những nạn nhân để trả giá cho những cuồng vọng dẫn đến những sai lầm; Chẳng những thế, họ còn trở thành những nạn nhân vì những luận điệu, những hành động bịp bợm, phỉnh phờ và tàn bạo của vị anh hùng đó”.

– Từ khi diễn ra cuộc cách mạng tháng mười vĩ đại – Ông viện kiểm sát hỏi – phe xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh, đến nay đã chiếm một phần ba diện tích và dân số toàn thế giới. Ngoài ra, cao trào cách mạng của Á, Phi, Mỹ la tinh cũng đang dâng cao như vũ bão. Sự kiện trọng đại đó đúng với quy luật mà Marx đã chứng minh: Chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản. Anh nghĩ thế nào về quy luật đó?

– Thưa ông, sự kiện đó không phải là một quy luật mà chỉ là một thực thể, cũng giống như các đế quốc Macédoine, La mã, Nguyên Mông, Napoléon… hay chủ nghĩa phát xít là những thực thể không mang tính chân lý.

Chân lý là quy luật khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người, không phải lúc nào cũng thuộc về số đông hay đa số, cũng như không có quê hương hay tổ quốc. Nhận thức chân lý không phải một sớm một chiều mà có khi kéo dài hàng thế kỷ. Bản án nhà bác học Galiléo năm 1633, ở thời kỳ đó. giáo hội và có thể đại bộ phận nhân loại đều cho rằng lý thuyết về quả đất xoay quanh mình nó và quanh mặt trời của ông ta là một tà thuyết. Mãi sau này, hàng thế kỷ trôi qua, nhân loại mới xác quyết đó là một chân lý. Chủ nghĩa xã hội từ khi ra đời dến nay mới gần nửa thế kỷ, tôi cho rằng chưa đủ thời gian để nhân loại khẳng định đó là một chân lý hay một sai lầm.

– Theo anh, loài người cứ giậm chân tại chỗ là chủ nghĩa tư bản?

– Thưa ông, chủ nghĩa tư bản không giậm chân tại chỗ, từ khi ra đời với cái máy hơi nước đến nay nó đã đi được một chặng đường dài. Chủ nghĩa tư bản hiện đại khác xa với chủ nghĩa tư bản sơ khai đương thời ông Marx. Và tương lai sẽ có một chủ nghĩa tư bản luôn được đổi mới để phù hợp bước tiến hoá của nền văn minh nhân loại. Dẫu sao tội ác và bất công vẫn tồn tại ở bất cứ xã hội nào, không thể và không bao giờ có cái thế giới đại đồng như trong học thuyết Marx.

– Câu hỏi cuối cùng: anh cần luật sư bào chữa không?

– Thưa ông, tôi không cần. Và biết rằng, luật sư của chế độ xã hội chủ nghĩa là một đảng viên, ăn lương nhà nước. Việc bào chữa của luật sư chỉ để giải thích nhà nước bỏ tù tôi là đúng. Giống như tổ chức công đoàn, không bênh vực quyền lợi của người lao động mà đứng về phía nhà nước bắt công nhân phải làm việc nhiều hơn, ngăn chặn mọi hành động tự phát của quần chúng.

Buổi thẩm cung diễn ra bốn giờ liền.

Ngày 21 – 5, chúng tôi cùng bị gọi ra phòng thường trực để giải sang toà án phố Lý thường Kiệt nghe cáo trạng.

Mười tháng xa nhau, nay cùng ngồi trên một chiếc ghế băng, Khoa nói:

– Chúng mình phải chịu mức án đến mười năm.

– Đến bây giờ mày còn ngây thơ thế? – Tôi nói – Toà án là công cụ tuyên truyền cho thứ công lý giả hiệu của đảng. Đa số phải đi tập trung cải tạo, đảng cần gì toà án. Khi hết án được về hay không còn phụ thuộc vào ý riêng của người cầm quyền lực. Nếu chiến tranh chưa chấm dứt, họ chuyển mình sang tập trung có khó khăn gì?

Tên công an dẫn giải từ xa chạy lại đập mạnh đầu tôi vào đầu Khoa làm hai đứa choáng cả óc. Hắn quát:

– Chúng mày nói chuyện gì?

Chúng bàn với nhau:

– Khoá đưa phạm đi trại chưa mang về, vậy đưa bọn này sang toà thế nào?

– Tôi điểm huyệt cho què rồi đưa sang – Tên công an vừa đánh chúng tôi đề nghị.

– Đồng chí giải từng tên sang – Tên trung uý cấp cao hơn ra lệnh.

Tôi bị giải sang toà trước, nghe bản cáo trạng với nội dung sau: Ba tên Tâm, Khoa, Dậu tích cực chuẩn bị trốn vào Nam theo địch. Tên Tâm xuất phát từ ý thức giai cấp phản cách mạng, thời gian không có việc làm y đã dày công nghiên cứu triết học Marx – Lénine và triết học duy tâm. Khi trốn thoát vào Nam với mưu đồ trở thành tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ, vận dụng kiến thức đã học được để chống phá cách mạng hai miền. Đó là phần cáo trạng của tôi.

Thư ký toà án hỏi:

– Anh có đề nghị gì không?

– Không – Tôi trả lời.

– Cần báo cho ai không?

– Không.

Ngày 28 – 5, phiên toà xử kín vào buổi sáng có hai vụ. Vụ thứ nhất, tội phản tuyên truyền là Nguyễn đức Ân phố hàng Bạc. Toà xử anh năm năm tù nhưng anh đã bị giam cầm gần mười hai năm.

Thứ hai là vụ chuẩn bị vượt tuyến của chúng tôi. Trong lúc chờ đợi anh Ân khoảng nửa giờ, công an khoá tay ba người bằng hai chiếc khoá số 8, tôi ngồi giữa nên bị khoá cả hai tay. Khoa quấn thuốc lá vụn đưa cho tôi hút. Cả ba nói chuyện bình thường, không tỏ thái độ gì sợ sệt.

Tôi nói với Khoa:

– Hôm nay, họ có xử nặng cũng không buồn, nếu xử nhẹ cũng không thấy thế mà vui. Bởi vì toà án của chế độ này đối với người bị bắt vì lý do chính trị như một trò phù phép, xử nhẹ có khi phải ở tù lâu hơn xử nặng. Kẻ quyết định cuối cùng số phận của mình không phải toà án mà là bộ công an.

Thấy thế, tên cảnh sát áp giải đến quát:

– Thái độ của các anh trước giờ ra toà thế à?

– Chúng tôi phải khóc hay phải van xin? – Tôi trả lời.

– Đừng nói láo – Tên cảnh sát lại quát.

Khi ra trước vành móng ngựa, chúng tôi không được tháo khoá tay. Lời buộc tội của ông công tố viên dựa vào nội dung bản cáo trạng, y nói:

– Đây là những vật chứng về tội trạng của chúng.

Y chỉ vào đống tang vật bao gồm những phương tiện đi đường và đống sách của nhà xuất bản sự thật.

Y nói thêm:

– Trong nhật ký của tên Khoa phần lớn là nói xấu chế độ. Ngoài ra, thời gian vừa qua, viện còn nhận được bảy lá đơn tố cáo tội trạng phản tuyên truyền của tên Dậu, đậc biệt có hai lá, một lá tố cáo tên Dậu nói xấu lãnh tụ, trong khi nhân dân cả nước và nhân dân thế giới hết lòng kính yêu bác thì y nói “cái giỏi nhất của ông ta là thủ đoạn dùng người và bịp bợm”. Lá đơn thứ hai tố cáo y phủ nhận nền văn học hiện thực chủ nghĩa trong hai mươi năm qua. Y nói: “Văn học, nghệ thuật của chế độ làm theo đơn đặt hàng của đảng, thực chất là những tác phẩm khô khan, trống rỗng, mi
nh họa sặc mùi chính trị. Còn văn nghệ sĩ hoá thành một lũ bồi bút kiếm ăn”. Tuy vậy, chúng tôi cho rằng, hiện nay tên Dậu mới mười chín tuổi, y chỉ sao chép lại ý thức phản cách mạng của tên Tâm và tên Khoa. Trong vụ án này, tên Khoa và tên Dậu nhận vai trò khởi xướng và tích cực chuẩn bị. Còn tên Tâm tòng phạm nhưng xuất phát từ ý thức giai cấp phản cách mạng, trước viện, y tìm mọi lý lẽ để bao biện cho tội lỗi của mình và phủ nhận sự ưu việt của chế độ đối với nhân dân lao động. Y còn ngang ngược dám đặt chế độ ta đối lập với phạm trù chân lý. Tôi thay mặt viện kiểm sát nhân dân Hà nội đề nghị xử tên Tâm và tên Khoa chịu mức án từ bốn đến năm năm, còn tên Dậu chịu mức án từ ba đến bốn năm, y thuộc thành phần cơ bản, nếu cải tạo tốt thì hết án nhà nước sẽ khoan hồng.

Đến giờ giải lao, chúng tôi mới được tháo khoá tay. Hôm ấy thân phụ Khoa cũng đến phiên toà, ông nói nhỏ, vì sợ nguy hiểm nên mọi giấy tờ ông đã đốt hết, tôi và Khoa thở phào nhẹ nhõm. Mặc dù Dậu bị mắc lừa thủ đoạn chấp pháp, nhưng chúng tôi không tin anh ta nữa.

Sau đó, toà tuyên phạt, tôi và Khoa bốn năm tù giam và hai năm mất quyền công dân, Dậu ba năm tù giam và hai năm mất quyền công dân. Trên đường giải phóng tôi về Hoả lò, tôi nói với Khoa:

– Mày thấy họ xử mình có đúng là màn mở đầu trong một vở kịch dài không? Hát một bài nhạc Sài Gòn hoặc một câu phản tuyên truyền cũng bốn năm tù. Tại sao họ xử mình nhẹ thế? Tao cho rằng, vở kịch sau này sẽ diễn nhiều màn dài và đặc sắc.

– Đúng thế – Khoa gật đầu.

Mời các bạn đón đọc phần tiếp theo: II Trại cải tạo An Thịnh

Tháng Bảy 22, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Nhà tù CỘNG SẢN

1 Phản hồi »

  1. […] Kỳ 12 – HỒI BA – Nhà tù – Hoả lò […]

    Pingback bởi Tham quan nhà tù NNXHCNVN: về chính sách đãi ngộ “tù nhân chính trị”. « Welcome to BEAR’s BLOG!!! | Tháng Chín 7, 2009 | Trả lời


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: