Eventfulday's Blog

Kỳ 17- Nhà tù – Trại cải tạo Vĩnh quang (1)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 17

HỒI BA – Nhà tù

III Trại cải tạo Vĩnh quang (1)

Đêm hôm ấy, phần lớn tù không ngủ được, bàn tán với nhau sẽ chuyển đến trại nào, đói là lẽ đương nhiên nhưng có thoát khỏi những cuộc tra tấn kéo dài vì ăn không? Hiện tại chúng tôi đang bị tra tấn. Nếu người nào giàu có ở bên ngoài, ăn chim quay, gà tần hoặc ăn yến một vài tuần liên tục thì những món ăn hảo hạng ấy không còn ngon miệng nữa. Trong trại giam, đến mùa sắn, tù phải ăn sắn sáng, cơm độn sắn, canh sắn vài ba tháng liền. Mỗi bữa chỉ được vài thìa cơm, còn lại tất cả đều là sắn. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay, ai có qua mới biết những cuộc tra tấn kiểu này nham hiểm đến chừng nào! Đói thắt bụng lại mà không ăn được, khi đi tù vớ được lá cây non, cỏ non, rau rừng… tranh nhau ăn sống. Có người mong được kiếp sống của một con trâu vài ngày ăn lá rau già cho đỡ xót ruột. Mùa hè vừa rồi, toán rau xanh của Lã văn Hạp trồng đến hai mẫu tây cà. Cả mùa ba tháng, món ăn thường xuyên của tù là cà: cà nấu muối và cà muối.

Tôi không biết dùng từ nào để diễn tả ngón đòn lạ lùng này? Sau mỗi cuộc tra tấn kéo dài, vốn dĩ thằng tù đã hom hem, tàn tạ lại càng thảm thiết hơn và góp phần làm nhiều người bỏ mạng. Có lẽ khi phát hoang, đất đồi trồng sắn, trong số những nạn nhân bất hạnh nhất của những cuộc tra tấn kiểu này, không ai nghĩ đó là cách đào huyệt để chôn mình?

Sáng hôm sau, cai ngục đưa tù ra nơi có ô tô để chuyển trại, tôi thấy Lê Thăng, hắn đeo quân hàm thượng uý. Hỏi người khác, tôi mới biết, hắn chuyển về trại này thay Lê Xuân Tam, làm phó giám thị trại A đã mấy tháng. Hắn già đi đôi chút nhưng khuôn mặt và hình dáng vẫn như xưa, hắn làm đội trưởng cải cách ở quê tôi. Cũng may mà tôi ở trại B nếu ở phân trại A, mà hắn biết, có lẽ tôi không có ngày về.

Người trực tiếp đến nhận tù là thượng uý Nguyễn huy Cự, giám thị trại tăng gia Phúc lập, tiền thân của trại Vĩnh quang sau này. Khi đọc danh sách tù chuyển trại, đến họ, tên và nguyên quán của tôi, Lê Thăng bảo với Hồ sĩ Tưởng:

– Tôi biết thằng này con địa chủ, cường hào hồi cải cách. Lúc đó nó còn ít tuổi mà ranh lắm. Rất tiếc ở đây, tôi không biết nó sớm.

– Thằng này theo hồ sơ còn phải tù mọt gông. Trong trại nó cũng gớm lắm, không mắc một sai phạm gì để có cớ đưa nó vào nhà kỷ luật – Tưởng nói.

– Các đồng chí còn thật thà quá. Biết bản chất của kẻ thù nguy hiểm, muốn diệt thì chứng cớ trong đầu mình chứ còn đâu ra nữa – Lê Thăng nói tiếp.

Người khác đứng gần, thính tai nghe trộm được nói lại với tôi, làm tôi rùng mình như vừa thoát chết.

Số tù ở trại tăng gia Phúc lập có khoảng năm trăm người chỉ có vài người dám phản ứng lại bọn cai ngục, còn lại đa số ngoan ngoãn như một đàn cừu, thực sự họ là bầy nô lệ đáng thương, răm rắp phục tùng, không dám hé răng. Vì đại bộ phận là nông dân, họ không hiểu gì chính trị, cũng chẳng biết gì hơn, ngoài việc trông chờ vào sự ban ơn của đảng.

Một dân tộc đến chín mươi nhăm phần trăm là người làm ruộng, thì bao giờ họ mới dám đứng lên đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ?

Nghe nói, tù ở trại này cải tạo tốt còn do một động cơ khác nữa là cách thức cho gặp gia đình và nhận tiếp tế của ông chánh giám thị. Ông ta quy định, người cải tạo xấu không được gặp gia đình, không được nhận tiếp tế. Người cải tạo trung bình được gặp người nhà mười lăm phút và được nhận ba cân… Đến người cải tạo tốt gặp vợ, ở nhà hạnh phúc hai mươi bốn giờ và nhận tiếp tế không giới hạn. Thành ra, nhờ có cái ân sủng này, nhiều người đi tù mà vợ ở nhà vẫn có diễm phúc sinh con nở cái. Xem ra, sáng kiến của ông Nguyễn huy Cự cũng hay hay, thứ nhất, ông vắt cạn kiệt sức tù bằng lòng tự nguyện, thứ hai ông gián tiếp ra lệnh cho tạo hóa để những hài nhi ra đời mang tính di truyền của cha chúng là bệnh khom lưng, quỳ gối. Có lẽ từ ngàn xưa đến nay, không có một tên lãnh chúa nào có bộ óc ngang tầm với ông chánh giám thị trại tăng gia Phúc lập.

Sau ba ngày đến trại, tù mới tập họp để nghe biên chế về các toán. Thân Quân ngồi bên tôi, thấy Nguyễn huy Cự đến gần, anh nói to:

– Tao và có thể cả mày nữa không bị cái lệ làng ở đây trói buộc.

Nghe xong, ông giám thị liền hỏi:

– Anh nói cái lệ làng là cái gì thế?

– Cách thức cho gặp gia đình và nhận tiếp tế, thưa ông!

– Để bắt các anh cải tạo, anh tưởng chỉ có thế thôi à?

– Thưa ông, còn nhà kỷ luật nữa phải không ạ?

– Ở trại An Thịnh, anh đã vào chưa?

– Cộng lại ở nhiều trại, tôi sơ sơ mới có gần ba chục lần.

– Anh đã ở tù bao nhiêu năm? – Ông giám thị trố mắt, hỏi.

– Mới trên một giáp.

– Thế thì anh cải tạo xấu quá! – Nói xong, ông giám thị bỏ đi.

– Thưa ông, tôi muốn nếm mùi xà lim ở trại này, xin ông chiếu cố! – Thân Quân nói với.

– Với thái độ xấu của anh thì trước sau sẽ biết. – Ông giám thị ngoái cổ lại trả lời.

– Nếu được ngay bây giờ, tôi xin cảm ơn ông nhiều lắm!

Hơn một trăm tù nhân từ trại An Thịnh chuyển đến trại này, sau một tháng, kỷ cương khắc nghiệt của trại bị phá vỡ. Phản đối cán bộ trại giam, nghỉ lao động nhiều làm bọn cai ngục đau đầu, điên cuồng khủng bố, đưa vào xà lim cùm hàng loạt. Tất nhiên những hành động chống đối theo cách tự phát và liều lĩnh.

Tôi và Khoa ở trong toán rau xanh, quản giáo toán là Trần văn Phượng, nói ngọng. Hắn là nông dân mới thoát ly trở thành cai ngục. Và có lẽ hắn chỉ quen trông coi tù nhân thuần tuý gốc nông dân. Đến nay, hắn phải cai quản hai chục tù người ở thành phố, làm hắn lồng lộn quát tháo cả ngày. Thường xuyên hắn phải nghe lời phản đối, có khi quyết liệt. Hắn thường tuyên bố, các anh mới đến đều là phần tử xấu. Tuy là cai ngục, hắn có lòng tự ái của kẻ thống trị nhưng không giấu nổi nỗi tự ti, bất lực. Hắn lần lượt gặp tù mới đến, thường hắn bị dồn vào ngõ cụt về lý luận.

Đến lần gặp tôi, hắn hỏi:

– Ở trại An Thịnh, các anh bướng lắm à?

– Thưa ông, ở trại ấy chúng tôi bị dồn đến bờ vực của nạn chết đói, những kẻ cùng đường lâu ngày trở thành một thói quen – một thói quen tự vệ như một bản năng. Nếu những thân tàn như tôi cứ ngoan ngoãn phục tùng các ông, lao động quá sức mình lúc này chắc chắn là hành động tự sát.

Bí quá, hắn phát khùng:

– Các anh nhiều lý sự lắm, tôi trả lại ban giám thị hết.

Sau đó nghĩ sao hắn lại dịu giọng nói:

– Anh không phải là nông dân, tôi không bắt làm việc nặng nhưng không được kích động người khác. Tôi được ban giám thị cho biết, anh là phần tử nguy hiểm ở trại An Thịnh.

– Thưa ông, tôi nguy hiểm ở chỗ nào?

– Nguy hiểm ở cái mồm anh ấy, cơ thể yếu, nhưng cái mồm nói xấu chế độ thì không yếu.

– Thưa ông, cho tôi biết một bằng chứng?

– Rất tiếc hơn bốn năm tù, chưa một ông cán bộ nào bắt quả tang, vì anh hoạt động chống đối rất tinh vi, khôn khéo. Cũng vì lẽ đó, hết án anh chưa được đảng khoan hồng.

Tôi thoáng nghĩ, vận dụng lý luận nói với cái tên cai ngục vô học này cũng chẳng ích gì, nên tôi im lặng để buổi hắn gặp tôi chấm dứt.

* *

*

Tết năm ấy, trại chuyển về gần nên thân phụ Khoa cùng em gái đến thăm anh. Và lần đầu, chị Hoa cũng đến thăm tôi.

Do nghèo, lại không biết cuộc sống của em trong tù nên chị chỉ mang cho tôi vài cái bánh chưng và một vài đồ dùng. Tuy nhiên làm tôi vui mừng khôn xiết, nơi địa ngục trần gian này, tôi vẫn có thân nhân quan tâm đến. Cùng với niềm vui đó, chị Hoa cho biết, khi nào bất hoà, ông bố chồng và anh Hoàng nguyền rủa chị:

“Cho đi cải tạo với thằng Tâm”.

Câu nói của những người tối tăm, u mê ấy chẳng làm tôi lưu tâm đến. Đau lòng là lời nói của anh Quang. Anh nói, dại thì chết, cô bảo nó đừng bao giờ viết thư cho tôi, nếu không sẽ ảnh hưởng xấu đến các cháu, tôi không có đứa em muốn theo địch. Niềm vui được gặp người thân tan biến trong khoảnh khắc để nỗi buồn tràn ngập. Anh Quang sao mà hèn thế? Từ hèn hạ dẫn anh đến mê muội, lẫn lộn trắng đen. Sao anh vội quên, ai là kẻ giết cha anh? Ai gây cho anh cảnh tan cửa nát nhà? Ai gây cho anh cảnh sống cơ cực, nhục nhã hàng chục năm để anh phải bỏ quê hương, đi khai hoang miền núi? Kẻ đó, nếu không gọi là thù hay địch thì gọi là gì? Còn đứa em anh có ý định ra đi để chống lại chế độ bất công, tàn bạo, muốn rửa hận cho cha cũng như hàng vạn người chết oan uổng mà lại là trốn theo địch ư? Những người hèn hạ như anh tôi hiện nay nhiều lắm. Điển hình là nhạc sĩ Phạm Tuyên đã, đang cúc cung tận tụy cho guồng máy tuyên truyền của Cộng sản. Có lẽ khối óc, con tim và cả dòng máu trong cơ thể hắn đã nhiễm thứ nọc độc “ảo vọng thiên đường trên cõi tục” biến hắn thành kẻ hèn hạ, cuồng tín, u mê, hắn mới quên cái chết thê thảm của cha mình – Nhà học giả Phạm Quỳnh. Nỗi buồn riêng với anh mình cũng là nỗi buồn chung cho cả dân tộc, bao giờ họ mới tỉnh ngộ và dám nổi dậy chống ách thống trị khắc nghiệt của bầy quỷ đỏ để giành lại nhân quyền và hạnh phúc?

Sau khi được gặp gia đình, không biết do sự huyền bí nào, Khoa cảm thấy cái chết sắp đến với mình? Anh nói với tôi:

– Có lẽ tao sắp vĩnh biệt mày, vĩnh biệt tất cả.

– Mày có giải thích được không hay là vật tự nó của Kant?

– Tao linh tính thần Hades sắp đến bắt mình, mày cứ cho là thuyết bất khả tri của Kant cũng được. À này, “cuộc đời tôi như đêm liên hoan đã tàn, chờ xe về nghỉ. Nay đã có rồi…”. Mày có biết câu nói ấy của ai không?

– Nhật ký của Pessorine trước giờ đấu súng.

– Không biết tử thần đưa tao trên hành trình về cõi bằng tàu, hay máy bay? Nếu phải đi bộ thì lâu lắm.

Đầu tháng tư năm 1970, tôi bị một trận ốm nặng, đường ruột cấp tính, may nhờ người bạn tù ở Hà nội có hàng trăm viên Chlorocid, tôi đã thoát chết. Thời gian này Khoa nghỉ lao động nhiều ngày để chăm sóc tôi. Lúc bệnh tôi nguy nan, Khoa nói:

– Tử thần muốn bắt mày đi cùng với tao chăng?

Khoa viết một bức thư cho gia đình với nội dung sau:


Ngày 20 /4 /1970.

Bố mẹ kính mến! Chị Hằng và các em Mai, Hải, Phượng, Khiêm thân mến! Đây là bức thư cuối cùng con gửi cho gia đình, mặc dù hiện nay con không mắc bệnh gì nhưng con cảm thấy sắp phải vĩnh biệt thế giới này. Bố mẹ sinh ra và nuôi dạy con đến ngày khôn lớn, chưa đền đáp được một chút công ơn sinh thành thì đời con bước vào những năm tháng tối tăm. Số mệnh của con đến nay không cho phép kéo dài thêm nữa. Vĩnh biệt thế giới này, về phần mình, con không có gì phải ân hận, chỉ đau lòng một nỗi bố mẹ không hoà thuận. Từ khi con trưởng thành, sự xung khắc với con vì mẹ mang quan niệm con lạc hậu với xã hội. Cũng vì quan niệm đó của mẹ đối với bố con để người phải về quê sống cô đơn, tủi nhục, xa đàn con dại. Con không dám trách gì mẹ, mẹ cũng như hàng triệu người đàn bà Việt nam chỉ đáng thương, chứ không đáng trách. Tuy nhiên, khi còn ở nhà, nhiều lần con xin mẹ, không nên vì các quan niệm khác nhau về xã hội mà gây nên cảnh bất hoà trong gia đình. Dù con và bố con có mang quan niệm tốt đẹp như mẹ thì gia đình ta cũng chẳng cải thiện được gì thêm, cũng vẫn khó khăn thiếu thốn. Trước khi đi xa, con cầu xin mẹ hãy bỏ mọi ý nghĩ mơ hồ về lịch sử dân tộc hiện nay, cùng bố con sống hoà thuận để có niềm vui trong mái ấm tình thương.

Bố mẹ hãy tha thứ cho con – một đứa con tội nghiệp và bất hiếu. Chị Hằng tha lỗi cho em, các em tha lỗi cho anh nhé! Chúc toàn gia mạnh khoẻ gặp mọi sự tốt lành.

Cuối cùng con gửi bố mẹ và cả nhà muôn vàn tình thương nhớ. Chào vĩnh biệt.


Bức thư này Khoa không được gửi vì tên quản giáo bảo anh cải tạo xấu.

Tôi ốm gần một tháng, đi không vững nên được chuyển sang toán những người già đan lát. Tối mùng ba tháng năm, tôi chuyển sang phòng khác. Cũng buổi tối hôm ấy, Khoa đi chào vĩnh biệt những người thân trong phòng. Có người bảo Khoa đùa cợt, có người bảo Khoa có dấu hiệu bệnh tâm thần. Tuy nhiên Khoa vẫn khẳng định ngày mai mình chết.

Đến ba giờ sáng, căn bệnh đường ruột bắt đầu phát, đau quá, Khoa hét thất thanh kêu cứu. Cán bộ trực trại là trung sĩ Minh đến quát nạt:

– Anh định quấy rối phải không? Tôi cho anh vào xà lim mà hét nhé?

Nhiều người thương Khoa, nhao nhao xin tên trực trại cho anh đi cấp cứu nhưng hắn nói:

– Ban đêm tôi chỉ có quyền đưa phạm vào nhà kỷ luật, không có chỗ nào cấp cứu phạm lúc này.

Nói xong hắn bỏ đi mặc cho Khoa kêu đau thảm thiết và nhiều người hô to kêu gọi xin cấp cứu cho anh.

Đến sáu giờ sáng, nhà giam mở cửa, những người thân vội đưa Khoa đến trạm xá nhưng ở đây chẳng có thứ thuốc nào. Chúng tôi thay nhau ra cổng xin tên trực trại cứu chữa cho Khoa nhưng hắn đều quát đuổi về phòng giam và lờ đi.

Tám giờ sáng, tên cai ngục y tá mới đến. Lúc này có thuốc tiên cũng không chữa được vì máu từ hậu môn Khoa chảy ra nhiều lần như vòi nước. Chẳng những thế, Khoa mắc bệnh đường ruột mà tên cai ngục lại cho uống thuốc giải độc. Khoa đau quá, mất lý trí kêu la thảm thiết. Tên y tá quát trấn áp Khoa liên tục.

– Ông Oang ơi, tôi đau đường ruột, không phải bị ngộ độc.

– Anh im mồm, đây là nhà tù, chữa thế nào là quyền của chúng tôi.

– Tôi đau quá không chịu được. Ông cho tôi uống thuốc ngủ hoặc thuốc mê ngất đi cũng được.

– Tôi tống cổ anh vào xà lim nghe chưa? Anh là thằng tù, không phải ở nhà anh hay bệnh viện mà la hét.

– Tôi sắp chết rồi, ông Oang ơi! Tôi muốn chết ngay. Ôi, đau quá!

– Anh có chết, chúng tôi chẳng thiệt gì. Ngược lại, xã hội bớt được một tên phản cách mạng.

Khoa kiệt sức, những lời kêu cứu thảm thiết nhỏ dần, cơ thể Khoa cũng chết dần, chết đến đâu Khoa biết và thông báo lại:

– Tâm ơi, chân tay tao chết rồi, không còn cảm giác nữa.

Chân tay anh lúc này nhợt nhạt, nhăn nheo và lạnh buốt. Tôi bấm mạnh vào bắp đùi nhưng anh không phản ứng gì.

– Tao chết đến bả vai và đến háng rồi.

Sau đó Khoa thều thào với tôi:

– Thế ra tao đi bằng tàu Apolo về cõi. Mày hãy nhớ, ghi lại cái chết thê thảm này và những năm tháng bất hạnh…

Khoa ú ớ không nói nữa. Thấy thế, tên cai ngục y tá bỏ ra ngoài. Hắn thong thả bước như người dạo chơi trong công viên. Vẻ mặt hắn rạng rỡ như vừa lập được một chiến công.

Thật trớ trêu, đến thời điểm đó, ông giám thị Nguyễn huy Cự mới có mặt. Ông ra lệnh mang hết tủ thuốc của cơ quan đến trạm xá để chữa cho cái xác không hồn. Ngay buổi trưa hôm ấy, ông cho người cáng xác Khoa (còn thoi thóp thở) đi bệnh viện.

Khoa đã yên nghỉ trên một quả đồi huyện Lập thạch tỉnh Vĩnh phú, Nghe người đưa anh đi kể lại, trên quả đồi âý có nhiều cây hoa trắng. Hàng ngày hoa nở để viếng linh hồn trong trắng của anh. Rồi hoa tàn rơi và huỷ hoại cùng với tấm thân trẻ trung của anh trên miền đất đau thương ấy.

Trong đời tôi đã từng chịu những tột đỉnh của đau thương: mẹ tôi chết thảm thê, tôi còn nhỏ tuổi chưa đủ ý thức để chịu hết nỗi đau này; bố tôi chết do bàn tay hung bạo của lũ vô thần, tôi không được nhìn mặt. Còn Khoa, tôi ở bên anh lúc cơ thể anh còn nguyên lành, tỉnh táo. Tôi đã chứng kiến bệnh tật tàn phá thể xác anh chết dần cùng với những lời kêu cứu thảm thiết nhỏ dần và tắt ngấm. Vĩnh biệt Khoa, tôi vĩnh biệt người bạn thuỷ chung, cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng chịu đắng cay tủi nhục. Khúc nhạc êm đềm của tình bạn kéo dài gần một chục năm bỗng dưng tắt hẳn để cuộc
đời tôi thêm cô quạnh, đau đớn trong cái xã hội tàn bạo và ghê tởm này. Tôi khóc nấc lên như một đứa trẻ ngây thơ, khóc thương Khoa đến hết nước mắt và không còn biết khóc đến bao giờ?

Được tin Khoa chết, bố mẹ anh đến trại. Người ra nhà tiếp đón gặp gia đình về nói với tôi rằng, thân phụ Khoa khóc nức nở thương con, ông đưa cho người ấy xem giấy báo tử của Khoa với nội dung: “…với chính sách nhân đạo của đảng và chính phủ, trại chúng tôi đã hết sức chạy chữa và chăm sóc anh Khoa ngay từ khi bị bệnh, nhưng do bệnh quá hiểm nghèo, anh Khoa đã qua đời ngày 4 – 5 tức là ngày 29 –3 âm lịch.

* *

*

Một buổi chiều đầu tháng sáu năm 1970, tôi được gặp ông đại diện viện kiểm sát tối cao, nguyên do có buổi gặp này đơn giản. Khi tôi về trại tăng gia Phúc lập, mỗi tháng được một đồng, một bằng chứng cho thấy tôi đã bị chuyển sang diện tập trung cải tạo. Nhân thể gặp ông cán bộ giáo dục hỏi ông về quyết định ấy, ông bảo tôi:

– Nếu thắc mắc thì anh làm đơn khiếu nại gửi lên bộ công an hoặc viện kiểm sát tối cao.

Tôi biết, họ đều là một duộc bất nhân, có kiện cáo cũng chẳng ích gì, cũng như khi xử án xong, tôi đã nói với Khoa vở kịch còn nhiều màn nữa thì đây là giai đoạn chuyển sang màn kịch khác. Tuy nhiên, do tính tò mò, tôi muốn được nghe giới thiệu nội dung của màn kịch mới này.

Ông viện kiểm sát tối cao nói:

– Sau khi nhận được đơn của anh, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ hồ sơ tội lỗi và quá trình cải tạo của anh. Nay tôi thay mặt viện đến đây thông báo để anh biết, quyết định tập trung anh là hoàn toàn có cơ sở pháp lý.

– Thưa ông, cho tôi biết cơ sở pháp lý nào?

– Ngay trong những bản kiểm điểm hàng năm, anh nhận thường xuyên ăn rau sống, uống nước lã có phải vi phạm nội quy không?

– Thưa ông, đúng là tôi viết thế. Nhưng buộc tôi phải vi phạm điều mất vệ sinh này chứ tôi không muốn. Nhà bếp trại giam thường xuyên nấu rau không chín nghĩa là còn sống, đun nước uống không sôi coi như còn ở thể nước lã. Thưa ông, nếu không ăn rau, không uống nước của trại thì làm thế nào sống được? Mặt khác, tôi xin lỗi ông được hỏi điều khoản nào của pháp luật ghi tù nhân sống mất vệ sinh và đói khát phải kéo dài thời gian giam giữ?

– Anh hãy im, nghe tôi nói đã. Có lẽ anh chưa hiểu được chức năng của viện chúng tôi. Ngay trong lá đơn anh viết đã có câu vô lễ “nếu pháp luật còn có nơi công minh thì chắc chắn tôi sẽ được tha trong nay mai…”. Anh cho rằng, pháp luật không có sự công minh chăng? Hiện tại, anh đang trình bày với tôi – đại diện viện kiểm sát tối cao, anh tỏ thái độ bình thường như nói chuyện với bạn bè. Tôi xác định để anh rõ, cơ quan chúng tôi có thẩm quyền kiểm tra cả hội đồng chính phủ.

– Thưa ông, tôi hiểu. Tôi không dám có một biểu hiện phạm thượng hay thất lễ mà chỉ trình bày chân thật ý nghĩ của mình. Toà án nhân dân Hà nội xử tôi bốn năm tù. Trong thời gian đó, tôi không vi phạm nội quy của trại, tại sao tôi phải chuyển sang tập trung cải tạo? Tôi muốn hỏi ông về điều bí ẩn của pháp luật?

Đến lúc này, tôi thấy mặt ông viện kiểm sát đã đỏ lên, có lẽ ông không giữ được bình tĩnh nữa:

– Pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa phục vụ cách mạng, mang tính giai cấp và tính đảng. Mặc dù anh hết án nhưng hiện nay tha anh chưa có lợi, nhà nước cần phải giam giữ thêm. Án hay tập trung chỉ là cái mốc đối với phạm, co hay giãn của thời gian giam giữ là tuỳ thuộc vào điều kiện chính trị bên ngoài. Riêng anh, tôi nói thẳng, cứ yên tâm mà cải tạo. Ý thức phản cách mạng của anh chưa sụp đổ và hoàn cảnh hiện nay, chính chúng tôi cũng chưa biết sẽ phải giam anh thêm bao nhiêu năm nữa.

– Thưa ông, tôi xin chân thành cảm ơn sự thẳng thắn của ông. Tôi cũng có ý nghĩ từ lâu như vậy.

* *

*

Từ trại An Thịnh chuyển về trại này, bác Nguyễn huy Cường. Xưa kia bác là lính lái xe cho phòng thông tin Mỹ tại Hà nội. Biết thân phận mình, bác ngoan ngoãn phục tùng chế độ nếu không nói là cúc cung tận tụy để cầu mong một cuộc sống bình an. Năm 1963, bác lên đường vào trại. Ngoài việc lao động như trâu ngựa, bác chấp hành nghiêm túc nội quy của trại giam. Nhiều lần bác được ban giám thị khen là cải tạo tốt. Năm 1969, gia đình bác được công an Hà nội tiết lộ, có thể bác được tha trong năm ấy nhưng bác lại gặp chuyện chẳng lành: Cuối năm 1968 ngài Richard nixon trúng cử tổng thống Mỹ. Năm 1971, sức đã tàn, bác ốm đau luôn phải nằm bệnh xá. Đồng thời bộ công an cử cán bộ đến trại hỏi bác thêm một tội. Năm 1953, phó tổng thống Nixon đến chợ Ghềnh, Ninh Bình, tại sao bắt tay bác?

Mặc dù nhiều lần bác trả lời:

– Tôi là lính lái xe, Nixon không cần biết tôi là ai cả, bộ công an không buông tha, họ hỏi cung bác liên tiếp. Bác Cường yếu quá không đi được, họ cho người cáng bác đi hỏi tội. Bệnh tật hành hạ lại thêm nỗi lo sợ tội trạng mới phát sinh, bác Cường vội vã lên đường về cõi. Ngài Richard nixon chắc chắn không bao giờ biết, cái bắt tay lịch sử của ngài đã giết một người Việt nam lương thiện.

* *

*

Từ Hoả lò đến trại một xe tù, trong đó có ba sinh viên học tổng hợp toán ở Ba lan. Khi đang học năm thứ ba, họ vào đại sứ quán Mỹ ở Vacsava, nói:

– Chúng tôi muốn trốn sang Hoa kỳ, đề nghị các ngài giúp đỡ.

Nhưng họ được trả lời:

– Các anh nên tìm hiểu rõ về Hoa kỳ trước khi đến. Các anh hãy đến Thuỵ điển – một nước trung lập, dân trí cao, họ sẽ nói rõ về Mỹ một cách khách quan. Từ đó các anh thực hiện điều mong ước của mình cũng chưa muộn.

Khi ra khỏi đại sứ quán ba sinh viên bị bắt ngay. Người lãnh đạo sinh viên của Việt nam tại Balan nói:

– Các anh mắc khuyết điểm, cấp trên đưa các anh về nước tiếp tục học.

Tàu liên vận đến ga Lạng sơn, cả ba bị khoá tay đưa về Hoả lò với tội danh phản quốc. Ngày xử án, toà hỏi:

– Các anh là con em của các gia đình cách mạng, được mọi sự ưu đãi của chế độ, tại sao có hành động trốn theo địch?

Hoàn trong nhóm sinh viên ấy, dáng người nhỏ nhắn, da trắng, hai mươi tuổi, trông anh dễ có cảm tình. Bố Hoàn là chuyên viên quân sự ở nước ngoài, mẹ làm ở sở giáo dục.

Hoàn đã trả lời toà:

– Thưa quý toà, tôi cực lực phản đối sự ưu đãi ấy, đó là điều bất công của xã hội. Biết bao người cùng tuổi tôi phải thất học vì nghèo khổ, nhiều người khác, mặc dù học giỏi vẫn không được vào đại học vì lý lịch gia đình. Đất nước có chiến tranh, chính những con người ấy phải cầm súng chiến đấu ngoài chiến trường. Trong khi đó, những con ông, cháu cha của chế độ như tôi vẫn ung dung học ở nước ngoài. mặc những đau thương, mất mát của dân tộc đã và đang gánh chịu. Khi về nước, những con ông, cháu cha của chế độ lại toạ hưởng trong những tháp ngà với những đặc quyền, đặc lợi. Chế độ phong kiến đã bị sụp đổ, nhưng bánh xe của đảng lại lăn theo vết đường mòn “con vua thì lại làm vua” và nhân dân vẫn là nạn nhân của lịch sử – lịch sử dân tộc hàng nghìn năm vẫn theo vết đường mòn đó.

– Những tên này tự giác li khai tầng lớp lao động, chống lại chế độ, phản lại tổ quốc – Ông công tố viên nói.

– Thưa quý toà, chúng tôi hiểu giai cấp lao động theo quan niệm của đảng là những đảng viên đang nắm giữ các quyền hành trong bộ máy thống trị của nhà nước. Chúng tôi từ bỏ tầng lớp thống trị để đứng về hàng triệu người bị áp bức, điều đó chứng tỏ, chúng tôi li khai chế độ. Mặt khác hàng vạn người Việt nam li hương có thể vì miếng cơm, manh áo cũng có thể để thực hiện một ước mơ góp phần mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Như thế sao lại gọi là phản quốc?

– Cả nước đang sục sôi khí thế chống Mỹ, cứu nước, các anh định đi theo giặc Mỹ, có phải các anh phản lại dân tộc không?

– Thưa quý toà! Giặc Mỹ xâm lược, đó là ngôn ngữ để tuyên truyền. Chúng tôi cho rằng chủ nghĩa Cộng sản là một thảm hoạ cho nhân loại còn hơn cả thảm hoạ phát xít. Mỹ can thiệp để ngăn chặn mưu đồ Cộng sản hoá miền Nam cũng như chiến lược toàn cầu của Mỹ là ngăn chặn làn sóng đỏ. Thực chất của cuộc chiến này là sự đối đầu giữa hai phe Cộng sản và Tư bản.

Miền Nam có Mỹ giúp đỡ, miền Bắc lại có vũ khí, cố vấn quân sự của Liên xô, Trung quốc, như thế sao bảo Mỹ là xâm lược?

– Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Nhân dân miền Nam đã vùng lên phá ách kìm kẹp của Mỹ ngụy. Anh nghĩ gì về chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ?

– Thưa quý toà, chúng tôi không phải là những nhà hoạt động chính trị nên không rõ lắm, nhưng thế giới hiện nay, ngoài vài ba siêu cường, còn lại các nước khác, không phụ thuộc vào chủ nghĩa Tư bản thì phụ thuộc vào Cộng sản, rất ít quốc gia có chủ quyền, độc lập. Do sự tuyên truyền lừa bịp, nhân dân miền Nam tưởng rằng, chủ nghĩa Cộng sản tốt đẹp như thiên đường, họ bị xúi giục để đấu tranh Câu nói ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh chỉ đúng với chủ nghĩa Tư bản có tự do, có nhân quyền. Còn chế độ Cộng sản, người dân bị tước đoạt mọi quyền tự do, sống như một bầy nô lệ bị khoá mồm thì làm gì còn có đấu tranh?

Toà án phạt Hoàn tám năm tù, hai sinh viên kia bị án sáu năm. Sau khi xử, Hoàn được gặp mẹ, mẹ anh khóc và oán trách:

– Sao con ngu dại thế?

– Con không ngu đâu mẹ ạ, chống lại bất công là điều đúng đắn.

– Gia đình ta là gia đình cách mạng, bố mẹ đều là đảng viên, con chống lại chế độ tức là chống lại bố mẹ?

– Thưa mẹ con không dám thế, không thể có “cuộc hội đàm dùng đại bác với thần công” nhưng con và bố mẹ khác nhau về chính kiến. Con xin mẹ, hãy tha thứ cho con vì chân lý buộc con không thể đi cùng đường bố mẹ. Đành rằng, đường đi của con đầy những chông gai, bão tố, có thể gục ngã giữa chừng. Con dám tự hào rằng, trái tim con rung cảm trước chân lý không bị cám dỗ bởi bả vinh hoa được kết tinh bằng mồ hôi, nước mắt và máu của dân lành. Con đường đi của bố mẹ trước mắt có thênh thang, êm đẹp nhưng lịch sử mai sau, hàng nghìn năm sẽ lên án và nguyền rủa con đường ghê tởm ấy.

Tôi hỏi Hoàn:

– Cậu là người dũng cảm dám từ bỏ cuộc sống trong nhung lụa để bảo vệ chân lý. Dòng tư duy ấy, cậu hình thành đã lâu chưa?

– Xưa kia chúng em ngây thơ lắm, chẳng hiểu gì về chế độ, vả lại học cũng bình thường thôi, vì lý lịch gia đình tốt đẹp với chế độ nên được đi nước ngoài. Gần ba năm ở Ba lan, người bản xứ cho biết nỗi thống khổ của họ là thuộc địa của Liên xô. Họ giải thích sơ qua về chủ nghĩa Tư bản và chủ nghĩa Cộng sản. Em hỏi họ, người Ba lan tại sao theo chế độ Cộng sản? Họ trả lời, trước thế chiến thứ hai, Ba lan là một nước Tư bản, sau khi Liên xô giải phóng khỏi ách thống trị của phát xít, lại đặt ách thống trị của đế quốc Cộng sản ở nước này. Từ đó làm em suy nghĩ và phát hiện ra mặt trái của chế độ. Nhất là gần hai năm tù, em thấu hiểu nhiều hơn sự thối nát của xã hội.

– Có bao giờ cậu thấy hối hận hành động của mình không?

– Từ một cuộc sống đầy đủ, công danh và địa vị đang chờ đón mà hiện nay trở thành một thằng tù, tất nhiên làm em đôi khi hối tiếc. Song mỗi bước gian nan mà mình qua được là một niềm tự hào. Hơn nữa, để cho thiên hạ hiểu rằng, không phải ai cũng mờ mắt đi vì tiền tài, địa vị. Xin lỗi anh, cho phép em nhắc lại câu nói của Pavel, có thay đổi đi đôi chút: “Cái đáng quý nhất của con người là cuộc sống. Người ta chỉ sống có một lần, sống sao cho khỏi ân hận, xót xa vì những năm tháng trót sống vinh hoa trên sự đau khổ của người khác. Để khi nhắm mắt, xuôi tay có thể tự hào rằng, ta đã sớm tỉnh ngộ để hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cao quý nhất của thế kỷ thứ hai mươi – Sự nghiệp giải phóng loài người khỏi ách thống trị của đế quốc Cộng sản. ”

Ngừng vài giây, Hoàn hỏi:

– Em nghe nói, anh giỏi toán và có trí nhớ kỳ diệu lắm phải không?

– Khi còn đi học, tôi có năng khiếu ấy nhưng chế độ đã vùi dập từ năm lên mười hai tuổi. Kể ra, nếu được sống ở một nước tự do và được học thành tài, tôi sẽ đóng góp được một phần nho nhỏ cho xã hội.

* *

*

Tháng năm 1972, do chiến tranh hai miền ác liệt, cục quản lý nhà giam lại bước vào mùa gặt hái. Trại Vĩnh quang tiếp nhận thêm nhiều tù mới, kể cả những sĩ quan ngụy được tha năm 1969 cũng lần lượt vào trại lần thứ hai.

Chẳng những thế, tù ở trại khác chuyển đến cũng nhiều: Phú sơn, Tân lập, Hồng ca, Hà bắc…

Những người có án, họ chuyển lên trại Phong quang. Chuyển về toán tôi, toán năm xây dựng, bác Trần văn An, người mà chị Bích Hằng đã có lần nói đến. Bác An ngoài sáu mươi tuổi, vẻ người khắc khổ. Tôi hỏi:

– Quê bác ở Thái bình và làm việc tại một nông trường ở Hà bắc phải không?

– Đúng, sao anh biết?

– Cháu không biết bác nhưng có người nói đến bác đã mười năm.

– Người ấy là ai?

– Xưa kia nhà bác cạnh nhà thày Lãm, nếu bác còn nhớ có lần bác đến Hà nội, bác đã nói chuyện với một người bán hàng xén, người đó là con gái của thày Lãm đấy.

– Tôi còn nhớ chị ấy nói, gia đình thày Lãm bị xoá sổ trong cải cách rồi.

– Thưa bác, gần như thế.

Tôi kể lại sự kiện đau thương của gia đình chị Bích Hằng cho bác An nghe, bác An khóc và kêu lên:

– Không phải xã hội loài người nữa, mà là hang ổ của loài dã thú.

– Tại sao bác cũng vào đây? – Tôi hỏi.

– Tôi nói cuộc sống làm thuê bên Thái, họ buộc cho tôi cái tội ca ngợi chế độ Tư bản, đưa ra toà xử bốn năm tù. Hết án, họ chuyển tôi sang tập trung cải tạo, tất cả ở tù đã tám năm rồi. Họ bảo tôi không chịu nhận tội và chưa cải tạo. Tôi trả lời, tôi chỉ có cái tội là nói thật, chính tôi cũng không biết mình phải cải tạo gì? Bởi vì tôi không thể lừa dối mình để thừa nhận trắng hoá đen, đen thành trắng. Một ngày làm thuê bên Thái mua được hàng chục bát phở là bị bóc lột, còn một ngày công chưa mua được ba bát là ưu việt, mang lại quyền lợi cho người lao động. Vì ngu bị lừa dối phải bỏ xác trong tù, tôi cũng không ân hận gì, chỉ đau lòng một nỗi thày Lãm đã cứu gia đình tôi thoát nạn chết đói năm ất đậu, tôi chưa đền ơn được. Ngược lại, vì hành động nhân ái ấy mà thày bị vu oan thành tội giết người. Thời đại này, con người độc ác hơn dã thú.

Mời các bạn đón đọc phần tiếp theo: Trại cải tạo Vĩnh quang (2)

Tháng Bảy 21, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Nhà tù CỘNG SẢN

1 Phản hồi »

  1. […] Kỳ 17- Nhà tù – Trại cải tạo Vĩnh quang (1) […]

    Pingback bởi Tham quan nhà tù NNXHCNVN: về chính sách đãi ngộ “tù nhân chính trị”. « Welcome to BEAR’s BLOG!!! | Tháng Chín 7, 2009 | Trả lời


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: