Eventfulday's Blog

Kỳ 18- Nhà tù – Trại cải tạo Vĩnh quang (2)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 18

HỒI BA – Nhà tù

III Trại cải tạo Vĩnh quang (2)

Trại này vừa tiếp quản hai tù binh là thám báo bị bắt ở chiến trường Lào. Một người là Nguyễn văn Cầu, hai mươi sáu tuổi, nguyên quán Lạng sơn, gia đình vào Nam năm 1954, một người là Nguyễn minh Châu, hai mươi hai tuổi ở thành phố Đà nẵng.

Cầu và Châu kể lại:

– Sau khi máy bay trực thăng thả ba lính Việt và ba lính Mỹ xuống một địa điểm tại vùng rừng núi Lào thì bị quân Cộng sản bao vây. Ba người Mỹ thoát nạn. Một lính Việt có tinh thần quyết chiến bị trúng đạn vào đầu, chết ngay. Còn lại hai đứa chúng tôi bàn nhau: mình chỉ là lính quèn, cứ xin hàng rồi ra sống ở miền Bắc. Lúc đó, Châu chợt nhớ ra thân phụ mình đi tù Côn đảo, nói với Cầu:

– Bố tao mấy năm trước là Việt cộng bị bắt quả tang truyền đơn và súng trong nhà, sau khi bị tù năm năm ở Côn đảo về thấy béo khoẻ bình thường. Bố tao bảo, đi tù cái khổ nhất là mất tự do, còn ăn uống có khổ nhưng theo thực đơn hàng ngày. Còn chúng ta bây giờ, nếu xin hàng, dù có bị giam giữ cũng chỉ mất một thời gian ngắn, sau đó mình là dân miền Bắc.

Thế là chúng tôi đồng thanh kêu, chúng em xin hàng các anh giải phóng. Họ ập tới trói gô cổ lại.

– Các anh không hiểu gì Cộng sản à? – Tôi hỏi.

– Nếu biết được như bây giờ thì đã muộn. Chúng tôi đã sống với nhiều lính chiêu hồi người miền Bắc. Nghe chúng nói chẳng ai tin. Nào là quy định mức ăn cho từng người, mỗi người dân một tháng chỉ được nhà nước bán cho một lạng thịt, nào là nhiều bữa mèo không có xương cá mà ăn. Bọn chiêu hồi bị đánh đập luôn, có đứa bị đánh chết vì chúng tôi cho là bịa đặt đời sống nhân dân miền Bắc.

Hai tù binh kể tiếp:

– Gần hai năm bị cái đói vò xé và hành hạ trong trại giam ở Lào, chúng tôi mới được đưa đến đây. Trước khi lên đường, một ông trung tá nói, ở miền núi khó khăn nên điều kiện sinh hoạt của các anh bị thiếu thốn. Nay cho các anh ra miền Bắc để thấy sự đổi mới của nông dân. Nông thôn đã cơ giới hoá trong nông nghiệp, không còn cảnh con trâu đi trước cái cầy, cái bừa theo sau như miền Nam nữa, nuôi trâu bò béo để làm nguồn thức phẩm. Còn trong trại cải tạo, ngoài việc đảm bảo đủ dinh dưỡng như đường, sữa, thịt hàng tuần phát thuốc lá cho những người nghiện, cơm được ăn no, ốm đau được chăm sóc chu đáo…

Nghe nói, chúng tôi tin tưởng và vui mừng đến nỗi trên tàu hoả luôn bám sát hai người dẫn giải từng bước, chỉ sợ lạc.

– Ba bốn ngày còn là dài, nếu thấy có lợi, chỉ cần một vài phút, Cộng sản vẫn lừa dối – Tôi nói.

– Trước kia ở miền Nam – Châu nói – tôi hay nghe đài thấy hiện tượng biểu tình, bãi công phản đối chính phủ thường xẩy ra ở các nước Tư bản. Trái lại, các nước xã hội chủ nghĩa hầu như không có, nhất là ở miền Bắc. Do vậy người miền Nam ngộ nhận chính quyền Cộng sản đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân. Bây giờ mới hiểu Cộng sản vừa tuyên truyền bịp bợm vừa bóp nghẹt các quyền tự do, trong lĩnh vực thông tin, ngôn luận, Cộng sản lại độc quyền.

– Chế độ Tư bản – tôi nói – như một quả bóng, có lúc căng có lúc mềm, còn chế độ Cộng sản như một trái bom, bề ngoài tưởng như yên tĩnh nhưng bên trong chứa đầy thuốc nổ: bất công, tàn bạo, bịp bợm, phỉnh phờ… Tới một thời điểm nào đó quả bom sẽ nổ tung.

– Nhân dân miền Nam sẽ không khuất phục sự cai trị của Cộng sản – Châu nói.

– Các anh phải biết hùm thiêng khi đã sa cơ, người miền Nam sao bằng dân Cô dắc, người Hunggary, Tiệp Khắc, Ba lan… cũng đành cựa quậy tuyệt vọng trước sự thống trị của đế quốc Liên xô.

– Nhân dân các nước ấy cứ phải chịu cuộc sống mất tự do mãi thế à?

– Chỉ khi nào đế quốc CS Liên xô suy yếu, tự nó sẽ tan rã và biến đổi thì các nước Đông âu và các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa mới có cơ hội dần thay đổi và dần thoát ách thống trị của CS mà thôi. Nếu bây giờ nhân dân miền Nam hiểu được thảm hoạ CS, không sợ hy sinh, tổn thất cùng một lòng chống Cộng thì chưa muộn.

* *

*

Bác Đoàn văn Thích cùng ở phòng bảy Hoả lò với tôi, sau đó lên trại An Thịnh và cùng một chuyến xe với tôi đến trại này. Bác vẫn ở toán rau xanh Trần văn Phượng. Phượng vốn ghét bác từ ngày đến. Một buổi tối thứ bảy, nghe bài báo do ban văn hóa trại đọc, viết về chị jane fonda khi ở Việt nam, chị phản đối chiến tranh của Mỹ, về nước chị bị CIA và cảnh sát theo dõi. Chị làm đơn kiện lên toà án “Tôi là một công dân Hoa kỳ, CIA và cảnh sát theo dõi tôi là phạm vào hiến pháp…” Chị được bồi hoàn danh dự bằng Dollars.

Bác Thích hỏi bác Tụ:

– Bác có thấy ông công an hộ tịch to hơn Nixon chưa? Bác Tụ còn ngơ ngác thì bác Thích trả lời:

– Công an hộ tịch Việt Nam to hơn tổng thống Mỹ nhiều…

– Anh Thích nói láo cái gì? – Không ngờ Phượng ở ngoài nghe thấy, quát.

Tối chủ nhật, bác Thích đang chơi cờ tướng với một người. Cờ tàn, bác Thích bị chiếu tướng liên tục.

– Chiếu tướng!

– Thụt thượng – Bác Thích nói, không biết Phượng ở ngoài đang kiễng chân nhìn vào kiểm tra.

– Chiếu tướng!

– Thượng thụt – Bác Thích nói lại đúng lúc Phượng tụt xuống. Tưởng châm chọc mình, Phượng quát:

– Anh Thích đừng láo xược! – Nói xong, hắn bỏ về cơ quan. Sáng thứ hai, Phượng gọi bác Thích vào nhà lô hỏi tội:

– Anh nói ông công an hộ tịch Việt nam to hơn tổng thống Mỹ nhiều là nghĩa thế nào?

– Thưa ông, chị jane fonda phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt nam, Nixon bỏ tù chị ấy không được, cho người theo dõi chị không xong. Trong khi đó ở Việt nam, ông công an hộ tịch muốn bỏ tù ai là tuỳ thích. Như tôi chẳng hạn, ông công an hộ tịch đã vu khống để đưa tôi đi cải tạo.

– Nói láo, cứ như anh nói, chúng tôi muốn giết ai cũng được à?

– Thưa ông, đúng thế. Các ông muốn giết một thằng tù còn dễ hơn ông công an hộ tịch bỏ tù oan người khác.

– Anh thấy chúng tôi đã bắn ai chưa, ngoài những người trốn tránh cải tạo?

– Thưa ông, giết người không phải chỉ bằng súng đạn mà còn nhiều biện pháp khác đang sợ hơn. Chẳng hạn, ở trại An Thịnh, hàng trăm thằng tù bỏ mạng vì đói, vì ốm đau không có thuốc và các cực hình khác.

– Tôi không biết trại An Thịnh. Ở trại này, anh thấy chúng tôi đã giết oan ai?

– Thưa ông cũng nhiều chứ ạ. Tuy bị ốm mà chết nhưng nguyên nhân gây ra bệnh là do ăn đói, làm nhiều, cơ thể suy dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc và chữa bệnh không có. Tôi thí dụ như anh Khoa chẳng hạn.

– Anh nói láo, anh Khoa chết ở bệnh viện, chết vì bệnh hiểm nghèo.

– Thưa ông, cả trại ai chẳng biết, đưa cái xác anh Khoa đến bệnh viện rồi cho vào quan tài chứ có kịp chữa chạy gì?

Bị dồn đến chỗ bí, Phượng xoay sang chuyện khác:

– Tối chủ nhật, anh đã láo xược châm biếm tôi.

– Thưa ông, tôi đang say mê đánh cờ, không biết ông ở ngoài, tôi nói tướng thụt thượng, thượng thụt, xin ông tha cho tội vô tình này.

– Anh cố tình châm biếm cán bộ mà còn bào chữa. Tôi đề nghị đưa anh đi kỷ luật.

Bác Thích trong nhà kỷ luật một tuần, chân cùm tê không đi được, phải lóp ngóp bò về phòng giam.

* *

*

Cuối tháng mười hai, do không quân Mỹ, máy bay B52 đánh phố Hà nội, trại giam phải phân tán nhiều nơi trong rừng. Cũng may là dịp cuối năm nên tù được nghỉ hai ngày viết kiểm điểm cải tạo trong năm. Bản kiểm điểm của Thân Quân lần này là một bản án tử hình không tuyên bố.

I Tư tưởng: Mùa đông giá lạnh mà ban đêm vẫn sấm chớp rền vang vì mưa bom, bão đạn. Người chết, nhà cửa đổ nát, phần lớn người Hà nội căm thù kẻ trực tiếp gây ra thảm hoạ này. Họ không hiểu, chết chóc, đau thương, tan nát là quy luật của chiến tranh. Và ai là kẻ thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh này?

Thương mình đã vậy. lại thương người miền Bắc, số đông dân chúng đang sống khổ sở, mất tự do trong cảnh chiến tranh tàn phá mà vẫn ngủ mê. Lại càng thương người dân miền Nam đang mong mỏi cái gọi là độc lập, tự do, họ có biết đâu, đó là một chiêu bài, là bóng tối.

Hiện nay, bố tôi đã hơn bảy mươi tuổi, nghe tin người còn sống làm tôi không vui lắm. Tôi mong bố tôi chết sớm hơn ngày miền Nam vào tay Cộng sản. Là đứa con bất hiếu, ra đi vì sự lừa bịp, không đền đáp được công ơn bố mẹ, tôi không muốn bố tôi phải chịu khổ nhục và thấy cảnh đau thương, vô đạo lý do chế độ Cộng sản gây ra. Chẳng những thế, nếu người còn sống phải thờ thêm một cha già nữa là ông Hồ – “cha già của dân tộc”. Nhiều người như tôi không thờ ông ta, phạm tội bất hiếu đã đành, còn những người đời trước như các vua Hùng, Hai bà Trưng, bà Triệu, Ngô Quyền, Lý thường Kiệt, Trần hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… không biết để thờ vị “cha già dân tộc”, có phạm tội bất hiếu không?

Nhiều lần tôi đã viết, tôi ước Bắc Nam thống nhất, sum họp trong khúc nhạc, lời ca. Nếu phải đoàn tụ trong cảnh rên xiết thì đừng ai mong như thế.

Hãy tạm thời để chia cắt như nước Đức, Triều tiên chờ lịch sử nhân loại xoay vần.

II Lao động: mười lăm năm tù cũng là chặng thời gian triền miên đói khát, bị hành hạ và cùm kẹp trong xà lim. Tôi không tin có thần thánh và ma quỷ nhưng khoa học lý giải thế nào về sự tồn tại của tôi, vẫn là một con người đủ xương, đủ da, thiếu thịt, vẫn ngủ và làm việc?

III Học tập: Nhà văn nói láo, nhà báo nói càn, bọn giá áo túi cơm này đã biến thành những cái loa tuyên truyền sự giả nhân, giả nghĩa của những tên trùm lưu manh và tàn bạo. Không ít thì nhiều trong máu tôi cũng nhiễm mùi ô uế của chế độ xã hội chủ nghĩa.

IV Nội quy: Chẳng những tôi đã biến thành người nguyên thuỷ man rợ mà còn pha trộn chất lưu manh để tồn tại trong cái địa ngục trần gian này.

Khoảng hơn bốn mươi lần đưa Thân Quân vào xà lim cùm kẹp không khuất phục được ý chí của anh. Lần này, bọn cai ngục dùng móng cùm chặt, phải có búa đóng suốt vào cổ chân làm chân anh bị liệt. Và gần một tháng, trái tim bất khuất của Thân Quân đã ngừng đập. Vĩnh biệt người anh hùng vô danh, mười lăm năm liên tục chiến đấu quyết liệt chống lại chế độ nhà tù hà khắc và vạch trần bản chất xấu xa của chế độ, nhiều tù nhân cảm phục và xót thương anh, chắc chắn hình ảnh Thân Quân còn sống mãi trong tâm trí nhiều người.

* *

*

Cuối tháng một năm 1973, hiệp định Paris được ký kết, những điều khoản của hiệp định làm nhiều người có ý thức chính trị thất vọng. Có thể do thất bại về quân sự dẫn đến thất bại về mặt ngoại giao và trên bàn đàm phán, chính phủ Việt nam cộng hoà và Hoa kỳ đã bỏ rơi hàng chục vạn nạn nhân vì chiến tranh mà nhà cầm quyền Hà nội bỏ tù, trong số đó có nhiều người ủng hộ họ. Ông giám thị Nguyễn văn Chuân tuyên bố:

– Hoà bình đã lập lại. Các anh phải biết việc nhà nước đưa các anh đi cải tạo là vấn đề nội bộ. Chúng tôi sẽ tha dần nhưng chỉ khoan hồng những anh cải tạo tốt.

Tết năm ấy, tù được nới lỏng hơn thời gian trước bước ngoặt của lịch sử dân tộc, những tù nhân mang cảm nghĩ khác nhau, vui buồn xen lẫn. Có người vui vì hy vọng ngày về sắp đến, có người buồn vì tương lai ảm đạm, không còn một cứu cánh nào. Tuy nhiên, buồn là đúng. Dù còn trong trại giam hay được tha, số phận vẫn trong tay Cộng sản thì làm gì có niềm vui và hạnh phúc? Kể cả người có kinh tế gia đình khá giả ngoài miếng ăn, cũng như người khác, phải sống âm thầm, lặng lẽ, tủi nhục vì sự phân biệt đối xử và hắt hủi của cả xã hội.

Đêm giao thừa năm ấy, hầu như không ai ngủ được tụ tập thành từng nhóm dăm ba người ngồi uống trà bàn tán. Bác Bùi phúc Khu mời hàng chục người cùng đến uống trà. Bác Khu quê ở Hải hậu, Nam định, đi tù lần này từ năm 1961. Bác nói:

– Thời gian tới, trong số chúng ta sẽ có người về, kẻ ở lại, nghĩa là những cuộc chia tay sẽ diễn ra. Tất nhiên ai mà chẳng cầu mong những cuộc chia tay ấy. Đêm nay, tôi đề nghị mỗi người kể một vài kỉ niệm sâu sắc nhất trong đời mình.

Người kể mở đầu là anh Kiều duy Biệt:

Tôi bị bắt năm 1959. Gần một năm sau, đang trong tâm trạng lo âu, buồn tủi, vợ tôi nhận được thư chồng với địa chỉ công trường 75A Hà nội. Cô ấy cảm động vui mừng quá, ôm ba con nhỏ vào lòng khóc nức nở. Bởi vì chồng mình không phải trong các nhà tù mà lao động tại một công trường. Ngay hôm sau, cô ấy bắt đầu những cuộc hành trình tìm kiếm cái địa chỉ trên để tìm chồng. Nhưng nửa năm, vợ tôi đi khắp các phố phường và các xã trong bốn huyện ngoại thành chẳng tìm đâu ra cái địa chỉ công trường 75A Hà nội. Đến lúc đó, cô ấy mới hiểu địa chỉ trên chỉ là một mật danh. Năm 1961, vợ tôi lại bắt đầu những cuộc hành trình dài ngày đến các miền rừng núi Tây bắc và Việt bắc. Đến đâu cô ấy cũng hỏi thăm, nhất là cơ quan an ninh, đều vô hiệu quả. Có người còn bảo, vợ tôi mắc bệnh tâm thần vì địa chỉ một nơi, tìm một nẻo. Thế là thêm nửa năm nữa uổng công tốn của. Sau này, cô ấy mới hay, tôi bị giam giữ tại cổng trời Hà giang mà có lần cô ấy đã đến nhưng họ nói dối để không cho gặp. Tuy nhiên, sau khi nhận được thư chồng, vợ tôi có phần yên tâm vì trong thư có đoạn “Anh vẫn bình thường, mạnh khoẻ. Em không phải lo gì, nhà nước chu cấp cho anh đầy đủ”. Cô ấy không biết đó là một công thức mà mọi tù nhân phải viết để thư được chuyển mà sáu tháng mới có một lần được gửi.

Ai đến công trường này đều được nghe lời tuyên bố của ông giám thị trung tá Vũ Nhân: “Các anh đến đây không phải để cải tạo mà là để chịu sự trừng trị của pháp luật, của nền chuyên chính vô sản”. Nơi đây không mấy ai, nghĩ đến ngày về, đành buông thả cuộc đời trôi nổi theo dòng số phận và định mệnh. Thường lệ, ngày thứ sáu nghỉ lao động, cả toán họp để kiểm điểm ưu khuyết điểm của từng người trong tuần. Cũng ngày đó thường diễn ra những cuộc ra đi vĩnh viễn của những số phận bất hạnh nhất.

Tôi đơn cử một ví dụ, vào một chiều mùa đông, trời rét lắm, nước mặt giếng đóng băng thành một lớp dày. Toán đang ngồi kiểm điểm thì ông trung tá Vũ Nhân đến cùng hai cảnh sát làm mọi người như nín thở. Mở cặp hồ sơ ra xem rồi ông hỏi:

– Ở đây có anh nào là Trịnh xuân Nguyên.

– Có tôi – Bác Nguyên giật nẩy người, chân tay run lên lẩy bẩy trả lời.

– Anh là Việt kiều từ Tân đảo về nước năm 1960.

– Vâng, thưa ông!

– Anh đã nói không đội trời chung với Cộng sản phải không?

– Thưa ông, câu nói đó chưa đầy đủ. Tôi có nói rằng, nếu biết khổ thế này, tôi sẽ không về nước, không đội trời chung với Cộng sản.

– Bây giờ anh đi – Ông ra lệnh, giọng ông trung tá giữ vẻ bình thường như người nói chuyện. Vì đây cũng là việc bình thường, ông vẫn thường làm. Nói xong, ông bỏ đi để hai cảnh sát thi hành nhiệm vụ.

Bác Nguyên run rẩy đứng lên, dặn lại:

– Sổ lưu ký còn năm đồng xin biếu bác nào nghèo nhất, cái chăn bông xin cho bác Mão chưa có.

Theo lệnh, bác Nguyên phải cởi bỏ hết quần áo ấm, với bộ quần áo mỏng bọc thân, bác Nguyên ra đi chào mọi người:

– Chúc các bác ở lại may mắn, xin vĩnh biệt!

Sau một tuần, chúng tôi được tin của một tù tự giác, cơ thể bác Nguyên chỉ chịu được cực hình trong xà lim năm ngày, người ta đã đưa bác vào rừng sâu yên nghỉ.

– Anh có biết, trong xà lim ấy, những cực hình khủng khiếp thế nào không? – Một người hỏi.

– Đây là nhà khách vãng lai dành cho những người nghỉ chân trước khi về địa ngục, ngoài bọn đao phủ thì may ra Phật tổ Như lai và Chúa có biết chăng!

Anh Kiều duy Biệt nói tiếp:

– Năm 1969, tôi được tha, có đến thăm gia đình bác Nguyên, cảnh nhà tiêu điều xơ xác. Đứa con trai không có việc làm, đứa con gái lớn mới đi tập trung cải tạo về tội mại dâm. Vợ bác Nguyên gầy yếu, héo hon, hỏi tôi cuộc sống của chồng ở công trường và mắc bệnh gì đã dẫn đến tử vong? Một mặt tôi sợ phải trả giá đắt, mặt khác, không muốn người đàn bà này thêm đau khổ, tôi đành nói dối ở khu vực khác của công trường nên không biết. Bác ấy đưa tôi xem giấy báo tử của chồng, nội dung sau “Ban chỉ huy công trường 75A Hà nội thông báo, anh Trịnh xuân Nguyên bị mắc bệnh hiểm nghèo. Xuất phát từ chính sách nhân đạo của đảng và chính phủ, chúng tôi đã tận tâm, tận lực cứu chữa và chăm sóc nhưng bệnh không qua khỏi. Anh Nguyên đã từ trần ngày 3 –1 – 1963 tại công trường; chúng tôi đã chôn cất anh Nguyên chu đáo…”

Không phải chỉ có ngày thứ sáu mà cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Gác phòng ban đêm là hai lính người Mèo, nghe và nói tiếng Kinh chưa thạo, hai khẩu AK lúc nào cũng chĩa vào phòng. Ai muốn đi đâu phải hô to và rõ ràng câu: Báo cáo ông bộ đội tôi đi… Nếu không rõ hoặc thêm bớt trong câu ấy, người lính Mèo lập tức khoá tay vào song sắt đến sáng. Bác Hóa quê ở Ninh bình đi tù từ năm 1950 với tội tình nghi làm mật vụ cho Pháp. Bác mới ngoài năm mươi tuổi nhưng rất già và yếu, dáng người lọm khọm, đi phải chống gậy. Hôm ấy trời rét như cắt thịt, bữa cơm chiều được mấy miếng thịt trâu, đến đêm bác Hoá đi ỉa chảy. Đi lần thứ ba, vì mệt, vì bệnh hành hạ cấp bách, bác ra khỏi chỗ nằm, vội hô:

– Bác cáo ông bộ đội, tôi mót ỉa quá, xin phép ông cho tôi đi…

Không đúng khẩu lệnh, lính Mèo khoá tay bác vào song cửa, nhiều người thương bác xin phép khoác chăn lên người bác nhưng chú lính Mèo ra lệnh cấm. Sau hai lần ỉa ra quần, bác xỉu dần, gần đến sáng thì tắt thở. Khi được tháo khoá tay, thân thể bác lạnh và cứng như khúc gỗ.

Đên Noel năm nào cũng có giáo dân ngoan đạo nhận bản án tử hình vì tội “đọc kinh”. Có thể họ không bắn, không chém, chỉ cho ăn cầm hơi, cùm và khoá tay trong hầm tối để chết dần.

Nếu ai được chuyển từ công trường 75A Hà nội đến các trại như chúng ta đang sống còn mừng hơn từ đây mình được tha về. Mỗi lần diễn ra cảnh ấy, những người được chuyển đi đều rơi những giọt lệ hân hoan vì đã thoát khỏi nghĩa địa khổng lồ tưởng như mình bị chôn vùi ở đó. Còn người ở lại ngậm ngùi với số phận, nhìn những người được đi mà để dòng nước mắt thi nhau chảy.

Tôi nghĩ rằng, công trường 75A Hà nội chỉ là một trong nhiều dịa danh chìm trong bóng đêm của chế độ.

Người thứ hai là anh Khúc văn Tư.

Anh Tư không nhìn ai, mặt hơi cúi xuống, chân trái co lên, khuỷu tay chống vào đầu gối, bàn tay tì trên trán, còn tay phải vê cậng chiếu rách. Anh bắt đầu kể, giọng thì thầm, cặp mắt rưng rưng lệ:

– Quê tôi ở Hải dương. Tôi lấy vợ năm hai mươi tuổi. Vợ tôi – cô Lê mười tám. Lê đẹp có tiếng cả vùng. Chẳng những thế, cô ấy dịu dàng, thông minh hoạt bát, được học hành cũng khá. Cả họ hàng, ai cũng mừng cho hạnh phúc của tôi. Riêng tôi, Lê còn là niềm kiêu hãnh vì biết bao chàng trai hơn mình theo đuổi cô ấy đến chồn chân, mỏi gối. Người ta bảo, tôi có số đào hoa, có cải mỏ hót hay nhưng đâu phải thế, như các bác, các anh đều biết, tôi chỉ là đứa quê mùa, vụng về và luộm thuộm. Thế mà…

Chúng tôi đều tham gia cách mạng, ngày cưới có cả cán bộ huyện về mừng, ông ta tuyên bố kết nạp cả hai vợ chồng tôi vào đảng. Quê tôi năm ấy – 1951, trong vùng tạm chiếm. Chúng tôi chung sống với nhau được một tuần thì Lê phải nhận một nhiệm vụ đặc biệt: xa chồng, xa hàng xóm, giả danh là người đi buôn bán đến đồn địch quyến rũ tên đồn trưởng để làm nội ứng. Ba tháng sau, tôi được tin bước đầu Lê đã thành công, là nhân tình của hắn. Tin đó làm tôi đau như dao cắt vì vợ mình đã biến thành trò chơi của kẻ khác, nhưng vì nhiệm vụ cách mạng, ngoài mặt tôi phải giữ thái độ bình thường. Đồng thời, tôi được giao nhiệm vụ, đóng vai trò là anh họ, đến gặp Lê để thu lượm tình hình. Mới qua một thời gian ngắn, Lê đã thay đổi rất nhiều. Có lẽ vì ăn trắng mặc trơn, lại được tô điểm qua son phấn, em lộng lẫy như một nàng tiên.

Khi tôi gặp Lê, có cả tên đồn trưởng. Cô ấy đóng vai người em họ thành đạt tuyệt vời. Vì lời xưng em và gọi anh của Lê với hắn đầy vẻ mặn nồng, âu yếm, còn với tôi có vẻ thờ ơ nhạt nhẽo. Cặp mắt Lê mỗi khi nhìn hắn như trào ra rào rạt sóng ái ân, còn với tôi, thường tình như người quen biết. Nụ cười của em mới cay độc làm sao! Nụ cười tươi mát đẹp như ánh trăng rằm em chỉ dành riêng cho hắn, còn với tôi thì gượng gạo như cánh hoa tàn héo dưới ánh nắng chiều. Lúc đó, tôi tự hỏi, em đóng kịch tuyệt vời hay đây là sự thật đắng cay?

Hắn yêu Lê nên trọng đãi tôi như khách quý. Rất tiếc buổi chiều hôm ấy, hắn luôn bám sát, không có một cơ hội nào để tôi gặp riêng Lê, tôi đành ở lại đêm tại nhà riêng của hắn cách đồn khoảng ba trăm mét, tất nhiên có cả Lê. Tôi nghỉ ở nhà ngoài, còn hắn và Lê ở buồng riêng. Đêm đó tôi không sao ngủ được, tưởng tượng những gì đang diễn ra giữa vợ tôi và kẻ thù.

Đã khuya, cái buồng kia vẫn sáng, tôi tò mò tìm đến khe hở của bức ngăn gian bằng gỗ nhìn vào. Rõ như thanh thiên bạch nhật, Lê trần truồng làm tình với thằng đồn trưởng.

Nếu vì nhiệm vụ cách mạng, cô ấy phải thụ động cam chịu, tôi cũng đành nhắm mắt bỏ qua nhưng pha làm tình ấy không diễn ra như thế. Hình như lúc đó, Lê đã quên tất cả, quên mất đảng, quên mất chồng để con quỷ trong lòng cô ấy tự do hành động. Lê nằm sấp đè lên hắn, hai tay ghì chặt lấy cổ, lấy lưng, hai chân dạng ra thẳng đuỗn. Cặp mắt em đê mê nhìn vào mặt hắn để tận hưởng những giây phút khoái lạc tột cùng của tình dục.

Không thể chịu nổi nữa, tôi đạp tung cánh cửa nhảy vào, ngay tức khắc kề sát súng ngắn bắn vào thái dương thằng đồn trưởng. Lê loạng choạng lăn xuống giường nằm ngửa. Không một lời hỏi tội, tôi bóp cò liên tiếp tặng cho em bốn viên kẹo đồng vào ngực. Trong phút giây ấy, trước mặt tôi chỉ có một kẻ thù – kẻ thù ghê tởm là Lê. Còn tên đồn trưởng, buộc tôi phải bắn, xét ra trong hành động này, hắn chẳng có tội tình gì. Một con đàn bà đẹp tự dâng thể xác mình thì có mấy thằng đàn ông từ chối? Sự việc xẩy ra, tôi tính sao đây? Về quê ư? Không ổn, sẽ bị kết tội phá hoại nhiệm vụ bí mật của đảng, giết vợ, giết đồng chí của mình. Nghĩ thế, sau khi tẩu thoát khỏi vòng nguy hiểm, tôi trốn lên Cao bằng làm thuê sinh sống.

Năm 1959, tôi trở về quê hương, công an huyện bắt tôi tra hỏi. Một mực tôi khai rằng, vì lòng căm thù kẻ địch bốc cao, tôi bắn tên đồn trưởng, không may lạc đạn vào Lê. Vì sợ tội, tôi phải bỏ đi nơi khác. Cũng may, chẳng có ai biết rõ sự việc này nên họ chỉ giam tôi sáu tháng. Năm 1962, tôi lên đường vào trại vì tội tình nghi trong cái quá khứ đáng nguyền rủa ấy.

Những ngày đầu tha hương, sống trên đất khách quê người, tôi thấy rõ sự sai lầm và xám hối. Nếu cách mạng là tốt đẹp, tôi có thể hy sinh đời mình chứ không thể hiến dâng vợ để làm kế mỹ nhân. Chắc chắn không phải riêng tôi mà còn nhiều người nữa cũng hiến dâng cách ấy. Dù họ có đủ nhẫn nại để chịu đựng thì rốt cuộc cách mạng đã mang lại cho họ những gì vinh quang để bù đắp nỗi nhục ê chề ấy? Hay chỉ là vật hy sinh để xây dựng và bảo vệ ngai vàng của tên bạo chúa? Mất cuộc đời có khi còn giành lại được vinh quang, còn nỗi nhơ nhuốc… thì không bao giờ, không còn cách nào rửa sạch. Tôi tự hỏi, tại sao khi ấy tôi lại đồng ý…? Lẽ ra phải tìm cách ngăn chặn vợ mình. Nếu Lê vì nhiệm vụ của đảng mà không nghe, tôi li dị dù có bị đoạ đầy, tù tội. Phải chăng vì sự cuồng tín đã làm tôi không còn lý trí, cái lòng tin tuyệt đối đã dẫn tôi đến tới xứ mù? Đến khi bừng tỉnh thì ôi thôi… đã kết thúc để mở màn cho tấn bi kịch của cuộc đời mình.

Người thứ ba, bác Hoàng kim Đa, quê ở Thái Nguyên. Bác Đa tham gia cách mạng bốn năm. Năm 1953 bác mắc bệnh đau dạ dày xin phục viên về quê làm ruộng. Sau này vì bất mãn với cuộc sống khó khăn trong hợp tác xã nông nghiệp, bác nói:

– Vì lý tưởng độc lập, tự do, người Việt nam không quản ngại hy sinh, gian khổ, không tiếc máu xương chống thực dân Pháp để có cuộc sống cơ cực ngày nay. Từ câu nói đó, bác phải đi cải tạo từ năm 1963. Tạo hoá dành cho bác cặp mắt bất nhân, hung hãn. Bác kể lại, giọng thâm trầm, vẻ buồn phảng phất trên nét mặt.

Tôi vào du kích năm mười tám tuổi. Cùng năm ấy, 1949, nơi ông Hoàng quốc Việt ở, có một lão say rượu nói câu: “đánh thế nào được Pháp”. Ông Việt biết chuyện, ra lệnh đưa lão đi bắn bỏ. Tôi và đồng đội nữa thi hành bản án vào buổi tối. Trói tội phạm vào cành cây ngả trên dòng sông Lô, mỗi đứa bắn ba phát đạn súng kíp, sau đó lấy đèn pin soi, thấy đầu lão gục xuống, mắt nhắm lại, mồm há hốc máu chảy ra xối xả. Yên tâm tội phạm đã lìa đời, chúng tôi cắt dây trói, thả xác trôi sông.

Lần đầu giết người, hai đứa xúc cảm mạnh, ngồi bên bờ sông nói chuyện:

– Lệnh của ông Việt ngặt quá. Theo ý tao, chỉ cần giam lão một tuần là hết vía. Nếu lệnh này được thi hành toàn quốc, phải có nhiều thằng nát rượu nói càn bỏ mạng.

Người đồng đội tôi phản đối:

– Sát nhất nhân vạn nhân cụ, nếu không răn đe kẻ khác thì cách mạng thành công sao được? Để nhanh chóng thu được thắng lợi cuối cùng, có lẽ đảng chủ trương dùng biện pháp cường đạo.

– Lão ấy gần nhà tao, tao biết lão hiền lành, có nát rượu bao giờ đâu? Có lẽ do định mệnh đã đến ngày…

Tôi đang nói dở thì nghe thấy tiếng chửi tục bên kia sông vọng lại:

– Đ… mẹ chúng mày! Tao chưa chết đâu, chúng mày nhớ nhé!

Chúng tôi giật mình hoảng hốt bàn nhau:

– Chắc lão không dám về, cứ báo cáo lên cấp trên thi hành bản án xong rồi.

Quả là may mắn, lão bỏ đi đâu mất tích, chúng tôi mới được bình an, vô sự. Mãi đến năm 1957, lão mới về quê. Lúc đó xét thấy tội của lão không đáng chết nên đến năm 1961, lão phải đi tập trung cải tạo. Còn tôi vì chuyện đó mà tăng thêm tội.

Năm 1951, cũng tại chiến khu Việt bắc, lực lượng an ninh bắt được bốn học sinh từ thị xã Vĩnh yên đến bị tình nghi là gián điệp. Khảo tra mãi, chúng đều khai là rủ nhau đi du lịch. Quyết định của cấp trên, chúng phải chết bằng những cực hình: cắt gân gót chân, róc thịt chân từ đầu gối xuống. Đêm đó, tôi từ nơi khác đến nhận nhiệm vụ thi hành bản án. Ba giờ sáng, chúng tôi bịt mắt, nhét dẻ vào mồm, trói tay đưa xuống vực, trói cả chân lại để hành hình. Đứa chết sớm nhất lúc tám giờ sáng, đứa sống dai dẳng nhất đến hai giờ chiều vẫn chưa tắt thở, thằng này tôi xử trí. Tôi tò mò giật mảnh vải bịt mắt ra xem mặt làm tôi giật mình hốt hoảng nhận ra, thằng Dũng, đứa con trai duy nhất của cô tôi.

Sau mấy giây, nó mở mắt, còn nhận ra tôi, sau khi tôi kéo dẻ ở mồm nó ra, nó thì thào:

– Em có tội gì mà anh lại…

Nó ú ớ rồi tắt thở. Cô tôi lấy chồng ở thị xã Vĩnh yên, chỉ được một thằng Dũng thì chú rể tôi ốm chết. Năm ấy, cô tôi mới hai mươi hai tuổi. bị ràng buộc nặng nề của lễ giáo phong kiến: phu tử tòng tử, mảnh đời xuân của cô tôi không dành cho ai nữa.

Tết năm ấy, cô tôi đưa con v
ề thăm ông bà ngoại. Dũng kém tôi hai tuổi. Mấy ngày tết, hai anh em cứ quấn quít bên nhau như một cặp tình nhân. Dũng còn nói:

– Năm nay thế nào em cũng đến thăm ông bà, các bác và gặp anh lần nữa.

Nào ngờ đâu, chúng tôi lại gặp nhau trong tình cảnh thê thảm, éo le này. Sự kiện bi thảm ấy, tôi đành giấu kín trong lòng hơn hai chục năm qua. Tôi lên án mình đã phạm tội giết người, tôi thương thằng Dũng quá, lại càng thương cô tôi sống héo mòn trong cảnh cô đơn sầu thảm vì sự mất tích của đứa con độc nhất.

Cái chết của đứa em họ tôi – một thanh niên trong trắng ở độ tuổi trưởng thành – là thành tích lớn nhất trong mấy năm tôi chiến đấu dưới “lá cờ vinh quang của đảng”.

Người thứ tư – Bác Hồ đức Mậu. Bác tham gia Việt minh năm hai mươi tuổi. Năm 1954 ra Bắc tập kết, năm 1955 là đội trưởng đội cải cách ruộng đất. Bác mang theo hai kí vàng bị lộ, phải nộp vào kho nhà nước. Xuất thân từ một gia đình giàu có ở thành phố Huế, quen sống phong lưu, tiền lương không đủ tiêu xài, bác bất mãn với chế độ nên phải đi tập trung cải tạo từ năm 1961. Bác có cặp mắt lươn gian giảo – dấu ấn của quá vãng nhiều tội ác. Bác kể lại chuyện đời, lời kể của bác nhỏ dần, có đoạn nghẹn ngào, nức nở:

– Tôi là con trong một gia đình của một dòng họ có tiếng tăm ở thành phố Huế. Ngày xưa thân phụ tôi có một ông bạn rất thân, đi học và quan hệ mật thiết với nhau từ thuở nhỏ. Khi hai ông trưởng thành xây dựng gia đình đã hẹn ước: đứa con đầu lòng một bên là trai, một bên là gái sẽ gả bán cho nhau. Tôi chào đời trước Hương, con ông bạn thân phụ tôi một tuổi. Hai đứa chơi với nhau từ thuở ấu thơ. Đến tuổi trưởng thành, hai đứa thương nhau lắm, vào nhà hát, rạp chiếu bóng cũng như đi du lịch chẳng mấy khi lẻ loi, đơn chiếc.

Năm 1948, theo tiếng gọi của cách mạng, tôi lên đường nhập ngũ, là biệt động. Hương tiễn chân tôi và nói:

– Em thương anh và mãi mãi đợi chờ!

Hai năm sau, tại căn cứ địa, đồng đội chúng tôi bắt được hai người tình nghi là gián điệp. Qua khe hở cửa buồng giam nhìn vào, thôi chết rồi, đó là hai bố con Hương. Tôi đau lòng quá muốn gặp cấp trên để thanh minh cho những thân nhân, khốn nỗi, tôi chỉ là thằng lính quèn…có khi bị kết tội là đồng bọn.

Bị tra hỏi nhiều lần, kể cả bức cung, đánh đập, một mực hai người chỉ khai về thăm quê, không có liên quan gì với địch. Sau đó, tôi được lệnh cho bố Hương đi ò trước mặt con gái, tôi trốn tránh nhiệm vụ kinh khủng này với lý do bị đau đầu. Người đồng đội tôi kể lại, đào một hố đủ người ngồi đến cổ, đặt bố Hương xuống đó và đất lèn xung quanh. Hương phải chứng kiến cuộc hành hình từ đầu đến khi bố mình tắt thở, em cũng ngất đi vì đau thương, hoảng sợ. Hôm sau, cấp trên lại giao nhiệm vụ cho tôi phải thi hành bản án với Hương. Tôi từ chối lần này không được, hình như họ khả nghi tôi có quan hệ với em. Người chỉ huy nói:

– Đồng chí phải hoàn thành nhiệm vụ đảng giao, nếu thương xót kẻ thù là có tội.

Sau hai năm xa cách, nay được gặp lại, tưởng tôi là cứu cánh, em ôm lấy tôi khóc nức nở. Dưới ánh trăng mờ, tôi nhìn em đẹp hơn xưa, ngực em nở căng phồng, cổ cao, khuôn mặt trái xoan, cặp mắt bồ câu hiền dịu. Trên đường tôi dẫn em về, em chỉ khóc thương bố chết thảm thê. Em không biết rằng, tôi sắp trở thành đao phủ kết liễu đời em.

Còn tôi, đầu óc quay cuồng như thằng loạn trí? Tha cho em ư? Không thể được, phải thế mạng đã đành, tôi còn mang tiếng là tên phản đảng, phản quốc. Nếu chỉ việc chết thay cho em, tôi đủ can trường. Bởi vì ngã xuống để bảo vệ người thương âu cũng là một tiếng thơm, nhưng lại mang tiếng phản đảng, phản quốc thì không thể và không bao giờ… Tôi đã vậy, cả họ Hồ tôi cũng nhục với bàn dân thiên hạ. Giết em ư? Thật khủng khiếp, tuy nhiên nếu đảng biết, tôi lại được ca ngợi là lập trường kiên định với kẻ thù. Thế là tôi quyết định.

Gần đến nhà, Hương khóc oà lên và nói:

– Anh thương ơi, em tạm biệt anh, em mãi mãi…!

Nhanh như cắt, tay trái tôi bịt mồm em và tay phải đặt một nhát dao găm vào trái tim ngây thơ đang rung cảm của em, dán lên lưng áo em bản án tử hình.

Trên đường về căn cứ địa, tôi gặp người quân báo đi ngược chiều, anh ta hớt hải hỏi:

– Xong rồi à?

– Phải, có việc gì?

– Chậm mất rồi, có lệnh trên tha bổng cho cô gái, vì hai bố con cô ấy chẳng có tội gì.

Nghe xong, tôi vật xuống đường ngất lịm. Người chỉ huy biết chuyện khuyên tôi:

– Chúng ta làm cách mạng vì tổ quốc, vì dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của triệu người, tất nhiên không tránh khỏi sai sót, nhầm lẫn. Thà giết nhầm một trăm người còn hơn bỏ sót một tên địch. Đồng chí nên vì lý tưởng cách mạng mà sớm qưên đi những mất mát riêng tư.

Mấy tháng sau, tôi nhận được thư của mẹ:

Huế ngày 23 –12 – 1950.

Mậu con, má báo tin cho con biết, ba má và toàn gia vẫn bình thường, mạnh khoẻ, riêng cậu con đi đâu mất tích hơn một tháng nay. Má rất đau buồn vì cậu – đứa em trai duy nhất của má. Con hãy thương má, hết lòng, hết sức tìm kiếm tin tức cậu. Chúc con may mắn, thực hiện được ước mong của má.

Gần một năm, tôi đi khắp nơi để dò la, tìm kiếm nhưng cậu tôi vẫn biền biệt tăm hơi. Cậu là một trí thức, quan hệ rộng, có thể bị cách mạng nghi ngờ mà bắt. Sau đó, tôi có
lệnh chuyển công tác đến một trại giam trong rừng. Tôi đi bộ đường rừng đến nơi thì trời đã tối. Hôm sau, trời chưa sáng rõ, trại giam nhận được lệnh: “địch đã bao vây, phải tiêu diệt khẩn những tên tội phạm”. Tiểu đội tôi phải đi phục kích đề phòng địch đến. Còn lại, đưa gần một trăm tội phạm trói lại thành một xâu dài. Đầu xâu tội phạm, ông chánh giám thị, cuối xâu ông phó dùng mã tấu thi hành nhiệm vụ. Khi hoàn thành lệnh của cấp trên, hai ông mệt quá nằm lăn ra bãi cỏ, thân thể và quần áo đỏ lòm như vừa bơi và lặn qua sông máu.

Lúc rút chạy, tôi đi lướt qua xác những nạn nhân, Trời đất hỡi, tôi giật mình suýt ngã khi chợt nhận ra cậu tôi trong số đó. Cậu chưa chết hẳn, một nhát mã tấu chém vào cổ cậu, máu còn đang chảy. Cậu đưa mắt nhìn tôi, mồm mấp máy như muốn nói điều gì? Tôi vội vã bước qua không dám nhìn cậu thêm lần nữa.

Hơn hai mươi năm qua, tôi đành giấu kín, không dám nói với má và những người thân cái chết thảm thương của cậu mình. Ra miền Bắc, tôi làm đội trưởng cải cách – một con thú khát máu trong số hàng vạn con thú khát máu khác mà các bác, các anh ở đây đều biết. Nếu tôi không mắc sai lầm vì lợi ích riêng tư, bất mãn với chế độ, tôi vẫn là đứa con ưu tú của thời đại – một kẻ mặt người dạ thú, biết lừa bịp, biết vu oan, giá hoạ, biết ngậm máu phun người và là tên đồ tể lành nghề, bậc nhất. Ở đây, nhiều người bị tù oan ức, riêng tôi là rất đúng. Tôi có tội nợ máu với đồng bào, trong số đó có thân nhân của mình. Chính xác hơn, tôi là một nạn nhân của sự lừa bịp và mê hoặc đã biến thành một tên đao phủ mất hết tính người, một con thú dữ. Nếu có Thượng đế, đức Phật và thần thánh, mười hai năm qua, tôi đã xám hối và cầu xin các ngài tha thứ cho một nạn nhân đáng nguyền rủa này.

Người thứ năm – anh Nguyễn văn Thắng ở Tế tiêu – Hà đông. Thắng đi bộ đội từ năm mười tám tuổi, vào Nam chiến đấu năm 1965. Năm 1970, bị địch bao vây, Thắng xuống hầm bí mật nhưng bị phát hiện. Quân đội miền Nam gọi Thắng lên hàng nhưng anh cố thủ. Sau đó họ ném lựu đạn cay và bắt sống Thắng. Thắng bị giam sáu tháng rồi được trả lại vũ khí, quân phục, giấy tờ và đưa về nơi đóng quân cũ tha. Quân đội Cộng sản nghi ngờ Thắng và bắt anh đưa vào trại cải tạo.

Thắng nói:

– Để góp chuyện với các bác, các anh, trong thời gian còn là bộ đội chiến đấu, cháu đã làm và cũng chứng kiến vài sự kiện đáng ghi nhớ trong đời, xin kể lại:

Cháu đóng quân ở Tây ninh, một hôm bắt được một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, nghi là gián điệp. Theo lời khai của mụ, chồng tôi mất sớm để lại năm con dại, tôi phải buôn bán khắp nơi để nuôi các cháu. Nhiều lần quân giải phóng doạ dẫm, nếu không khai sự thật làm gián điệp sẽ bị trừng trị đích đáng, nhưng mụ một mực khai như vậy. Cấp trên giao cho cháu và hai lính nữa thi hành bản án. Đào một hố sâu như hố quan tài, một đồng đội của cháu quát:

– Không khai thật thì xuống kia.

Có lẽ tưởng là doạ, mụ nói:

– Các anh muốn giết tôi và cả năm đứa trẻ thì cứ việc.

Nói xong, mụ nhảy xuống hố. Một đồng đội vật mụ ngã xuống rồi cùng lấp đất.

Một cuộc tấn công vào đồn địch. Lực lượng địch yếu hơn phải rút chạy. Quân giải phóng truy kích và bắt được gần hai chục người đàn bà, bao gồm là vợ, nhân tình của binh lính Sài gòn. Trên đường dẫn giải bọn này, có một đứa con gái nét mặt dịu dàng, dễ thương, vừa đi, vừa khóc van xin:

– Các anh ơi, lần đầu em trót dại, xin các anh tha.

– Mày ở đây làm gì? – Cháu hỏi.

– Vì nhớ người thương nên ngày hôm qua em mới đến đây.

– Người thương mày cấp bậc gì?

– Anh ấy mới bị động viên mấy tháng thôi.

Nghe nói cháu cũng thương con bé nhưng bắt thì được chứ tha thì phải có lệnh của cấp trên. Đến trưa hôm ấy, cả bọn đói, xin ăn, đồng thời ông đại đội phó nhận được lệnh của sư đoàn, ông ta nói:

– Chúng mày phải xuống hầm mới được ăn, không được ngồi chung với quân giải phóng.

Cả bọn ngoan ngoãn phục tùng, ông đại đội phó cho một món ăn đặc biệt: hai quả lựu US rồi ông ra lệnh lấp cửa hầm.

Một hôm nhận được lệnh, một tiểu đoàn quân giải phóng cải trang quân ngụy Sài gòn vào một làng giáo dân chống Cộng thực hiện tam quang: đốt sạch, phá sạch, giết sạch. Cháu và một đồng đội vào một gia đình, bắn chết hai vợ chồng và đốt nhà. Còn đứa con gái khoảng lên năm, lên sáu, sợ quá nằm úp mặt xuống đất, không dám khóc hoặc van xin. Chúng cháu định bỏ đi thì ông trung đội phó đến, ông đá vào con bé, thấy nó kêu: cháu lạy ông, ông quát:

– Các đồng chí còn thương xót kẻ thù à? Tại sao không xử trí con bé này đi?

Người đồng đội cháu định bắn thì ông ra lệnh:

– Phí đạn, quẳng nó vào đống lửa.

Chúng cháu, đứa cầm tay, đứa cầm chân con bé ném vào nhà đang cháy. Con bé hét thất thanh mấy giây rồi mới giãy giụa chết.

Người thứ sáu – bác Bùi phúc Khu.

Trước cách mạng tháng tám, thân phụ tôi là công chức tại thành phố Nam định, sau đó về quê ở huyện Hải hậu làm ruộng. Năm 1948, người lên thành phố chơi với bạn bè thuở trước nhưng không thấy người về nữa. Thân mẫu tôi cho rằng, họ đã cho bố tôi tắm mát ở sông Hồng. Thân mẫu tôi đưa tôi lên thành phố Nam định bu
ôn bán làm ăn, họ và tên tôi cũng được thay đổi. Năm 1950, tôi bị động viên vào lính. Năm 1951, trên một chiếc xe con bảo vệ quận trưởng có năm người lính. Bất ngờ bị Việt minh phục kích tấn công, chúng tôi xin hàng. Cả sáu người đều bị bắt, ngày nghỉ nhà dân, đêm đi, nơi đến là trại Kỳ sơn, Nghệ tĩnh. Đến được trại chỉ còn lại hai người, bốn người đã bị đâm chết trên đường vì chậm không theo kịp.

Trong phòng giam người nào cũng xanh xao gầy yếu, ghẻ lở, chấy rận bám đầy đầu và quần áo, chân bị cùm, nằm chật như nêm lại. Hai ngày đầu, tôi không thể nào ngủ được vì nóng, chấy rận tấn công, mặt khác lại lo buồn cuộc sống nghiệt ngã ở nơi đây, không còn hy vọng ngày về. Thật may mắn, tôi mang theo hai lạng cao hổ cốt, khi nhập trại cai ngục giữ lại. Ông giám thị có bố đang ốm nặng, hỏi tôi mua lại hai lạng cao này nhưng tôi đã biếu ông ta để hy vọng một đặc ân nào đó. Nhờ vậy, tôi được làm nhà bếp. Hàng ngày tôi thấy những cái chết rất lạ lùng, chết dễ như chơi. Chẳng hạn, một bữa có mấy miếng thịt trâu cũng làm vài người bỏ mạng. Có gì đâu, thịt trâu dai, răng yếu không nhai được, lại vừa đói, vừa thèm nên nuốt cố bị tắc thở.

Khu biệt lập, hầu hết bị xiềng chân, tôi không được vào. Cứ vài ba ngày, số tù lại bớt dần đi. Tôi hỏi cán bộ phụ trách nhà bếp thì được trả lời, ban đêm chuyển đi nơi khác. Buổi tối hàng ngày, tôi phải đi lấy thịt lợn cho cai ngục cách xa trại khoảng ba cây số. Một hôm, trên đường về đột nhiên tôi nhìn thấy trên quả đồi xa xa loé sáng và tiếng đạn nổ hàng tràng. Tôi tự trả lời, họ chuyển tù đi nơi khác bằng cách này đây. Từ đó, tôi lưu ý thấy nhiều lần nữa. Sau một thời gian, hiện tượng trên chấm dứt nhưng tù trong trại theo con số của nhà bếp vẫn bớt dần. Một buổi tối khác, bầu trời mây đen bao phủ dưới ánh trăng mờ. Tôi đến nơi lấy thịt thì nhà chủ làm chưa xong. Ông chủ nhà bảo tôi ra cây sung gần đó hái quả.

Tôi đến gốc cây, định trèo lên thì một bàn tay lạnh buốt nắm chân tôi lại. Thần kinh tôi tốt nhưng cũng phải rùng mình. Tôi cúi xuống nhìn thấy một người già, má hóp lại, râu ria lồm xồm, quần áo rách tả tơi, hai chân bị xiềng. Nạn nhân thì thào:

– Bác ơi, cứu tôi với!

– Tại sao bác ở đây? –Tôi hỏi.

– Họ chốn sống tôi, tôi hất đất ra được và bò đến đây.

– Từ bao giờ?

– Từ đêm hôm qua. Tôi đói lắm, xin bác bát cháo.

– Bác yên tâm nằm đây nhé – Nói xong, tôi quay về nhà chủ nói giả vờ:

– Sung ngon quá. Tôi đang nóng ruột, muốn ăn bát cháo, nhà có không?

– Chỉ còn cơm nguội thôi – Ông chủ trả lời.

Tôi lấy cơm nguội dùng chày giã cua nghiền ra và lấy nước đang luộc lòng lợn đổ vào khoắng lên thành cháo mang ra gốc cây sung cho nạn nhân ăn. Xúc cho nạn nhân ăn hai thìa, mồ hôi nạn nhân toát ra, mồm thì thào:

– Ngon quá, tôi cảm ơn bác.

– Quê bác ở đâu?

– Quê ở Hải hậu.

– Họ và tên bác là gì? – Tôi sửng sốt hỏi.

– Bùi phúc Đà… ạt…

Trời ơi đây là bố tôi, người định nói gì nữa thì tắt thở. Tôi thoáng nghĩ, biết làm sao bây giờ? Nếu tôi nhận bố mình, chắc chắn họ thủ tiêu tôi. Tôi liền quỳ xuống lạy người ba lạy và nói:

– Bố tha tội bất hiếu cho con.

Tôi định tháo xiềng cho người, nhưng họ tán chặt quá, muốn tháo phải có đe búa lò rèn. Tôi nắn đầu người lại cho ngay ngắn, vuốt mắt cho người nhắm lại rồi ra về. Tối hôm sau, tôi đến thì nhà chủ hỏi:

– Tối hôm qua, bác ra gốc sung có thấy gì không?

– Không có gì đâu? – Tôi ra vẻ ngạc nhiên trả lời.

– Đêm qua, một thằng tù nguy hiểm, chân bị xiềng, trốn đến đó bị chết, tôi báo ngay chính quyền địa phương. Sáng nay, họ cho lập biên bản báo trại giam rồi cho chôn nó ngay ở đấy, không có quan tài.

Sau ngày ấy, mỗi buổi tôi đi lấy thịt lợn cho cơ quan, tôi lại ra ngồi gốc sung khấn bố tôi nhưng chẳng lần nào có hương hoa. Đến nay đã hai mươi hai năm người vẫn yên nghỉ tại miền rừng núi đẫm máu ấy.

Năm 1954, sau ngày hoà bình lập lại, tôi được tha đợt đầu gồm sáu mươi tư người. Lúc công bố lệnh, có bốn người gầy yếu, chỉ còn một nắm xương, mừng quá chết ngay.

Còn lại sáu mươi người ra đến bến ô tô dài khoảng năm cây số, chết thêm mười hai người nữa, thành ra đi từ tám giờ sáng đến tối mới tới nơi. Trên đường đi, người còn khỏe bảo nhau mượn mai, cuốc chôn cất những người xấu số, tất nhiên cũng chẳng có quan tài…

Đến lúc đó, tiếng gà rừng và gà nhà gần xa thi nhau gáy đón chào ánh lê minh. Bác Khu nói tiếp:

– Mọi người chúng ta, ai cũng chịu nỗi gian truân hoặc chịu hoặc thấy cảnh đau thương của người khác. Thật là muôn hình, muôn vẻ, nếu ai cũng tường thuật lại những kỷ niệm sâu sắc đáng ghi nhớ trong đời mình phải bao nhiêu ngày tháng mới hết? Nhiều năm qua, tôi tự hỏi, thời đại này giống như thời đại nào trong lịch sử? Và tự trả lời, Tần thủy Hoàng, Neron thời cổ cũng như Staline, Hitler, Mao Trạch Đông là những tên đệ nhất về tàn bạo. Còn thời đại chúng ta đang sống chẳng những thế mà còn đểu cáng đệ nhất, bịp bợm phỉnh phờ đệ nhất, đổi trắng thay đen đệ nhất. Quả thực là thời đại có một không hai – thời đại Hồ chí Minh.

Tháng Bảy 20, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Nhà tù CỘNG SẢN

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: