Eventfulday's Blog

Kỳ 20 – HỒI BỐN – Ngày về

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 19

HỒI BỐN – Ngày về

Cuối tháng hai năm 1976, còn năm người tù phản cách mạng, chúng tôi được tha cả. Một niềm vui loé lên như người được cải tử hoàn sinh trong cõi lòng tôi sau khoảnh khắc lại tắt ngấm để nhường chỗ cho nỗi buồn mênh mông đang xâm lấn. Đành rằng từ nay sẽ chấm dứt bệnh đói kinh niên nhưng tôi lại nỗi tiếp những tháng năm cô đơn, vô vọng và tủi nhục. Gần mười một năm tù, chưa bao giờ tôi chịu khuất phục trước uy lực của kẻ thù, sẵn sàng chờ đón cái chết trong danh dự. Nay tuy thoát khỏi cái địa ngục trần gian ấy nhưng phía trước cuộc đời tôi những điều nan giải đang chờ đón lạnh lùng. Với thân tàn, hai bàn tay trắng, không nhà cửa, tôi biết đi đâu, về đâu, sống như sao trong bóng tối đang bao trùm lên tất cả. Tên tù khổ sai Janvaljan có thời thành ông thị trưởng Madeline, còn tôi có lẽ trọn vẹn cuộc đời tăm tối trong sự hắt hủi, vùi dập của xã hội, không lúc nào ra khỏi ống kính của kẻ thù.

Sáng hai mươi sáu tháng hai, tôi được cấp giấy tha của ban giám thị, họ cho tôi về với gia đình chị Hoa, nơi mười sáu năm trước, tôi không chịu nổi hai ngày. Còn hiện tại nơi đó dù có nhục đến mấy cũng buộc tôi cam chịu nếu không có gan kết thúc cuộc đời.

Họ cho chúng tôi đi nhờ ô tô tải ra thị xã Vĩnh yên. Gần trưa xe chuyển bánh, tôi nhìn lại trại giam lần cuối – một hình tượng của sự tàn bạo. Và nhìn lại khu nhà tiếp đón các trại viên, các loài hoa vẫn đua nhau khoe sắc thắm – một hình tượng của sự bịp bợm. Tàn bạo và bịp bợm, nhờ hai yếu tố quyết định này, từ hai bàn tay không, Cộng sản đã có cả một giang sơn hùng vĩ – Tổ quốc Việt nam.

Chúng tôi đi xe hoả từ thị xã Vĩnh yên về đến ga hàng Cỏ lúc mười hai giờ đêm. Trời rét và mưa tầm tã, với bộ bà ba gụ, người nào cũng run lên cầm cập.

– Chúng ta vào cửa hàng ăn chứ? – Anh Dương Chất đề nghị.

– Phải rồi, hôm nay mình đã ăn gì đâu? – Lê Cần nói.

– Ăn một thứ gì đó ít tiền thôi, tôi không có nhiều đâu – Rét quá bác Nông văn Lý líu lưỡi lại, lắp bắp mãi mới thành lời.

– Anh Tâm cùng ăn với chúng tôi cho vui hay về ngay nhà chị – Anh Phan du Lịch hỏi.

– Tôi sẽ ở lại với đồng bọn đến sáng ngày mai – Tôi nói.

– Cùng ăn với chúng tôi một bữa nữa rồi anh về cho cả nhà mừng.

– Đúng rồi, đúng rồi – Cả bọn tán thành ý kiến của anh Lịch.

– Bác Lý và các anh ạ, chưa chắc có ai mừng cho tôi đâu, riêng tôi cũng chẳng vui gì cho lắm. Nói thật là bệnh máu xám đang lây lan đến mọi tế bào của xã hội, ngay bố mẹ, vợ con có thể như người dưng nước lã nữa là… Trong số chúng ta, may ra được gia đình anh Lịch.

– Đúng rồi – Bác Lý nói – tôi đi tù hơn một chục năm, không nhận được một lời thăm hỏi của vợ con. Nay được về chắc gì chúng nó đã mừng. “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, nhưng giọt máu đào đã hoá thành máu xám tanh hôi không quý bằng giọt nước. Trong số mình chỉ có anh Lịch là yên tâm, khi đi tù không sợ vợ bỏ, con hư, nay về được gia đình thương yêu chăm sóc.

– Tôi nhờ bề trên ban phước lành – Anh Lịch nói – không như nhiều người khác, vợ trẻ thì mất, vợ già thì lòng thòng, đĩ bợm, anh em xa lánh vì sợ liên quan, ảnh hưởng xấu. Một người đi tù là một gia đình tan tác, con cái thất học, hư hỏng đi vào con đường trộm cắp, lưu manh, gái làm tiền, lừa đảo.

– Tôi không có gia đình, ngoài cái dở cũng có cái hay, không phải lo buồn về chuyện vợ bỏ, con hư – Tôi nói.

– Mình được ra tù như con cá từ chậu nước ra sông, tại sao cậu bảo không vui gì cho lắm? – Cần hỏi – Tớ không có gia đình, không có họ hàng thân thích ở xứ Bắc hà này, tớ còn rạo rực niềm vui huống chi người khác.

– Anh Cần ạ, anh lạc quan quá đấy. Mình như con cá nằm trên thớt nay được thả vào chậu nước chứ đâu được ra sông. Anh nghĩ những phương kế gì để giải bài toán khó phía trước cuộc đời? Anh có vốn sống trong tù hai mươi mốt năm, nhưng cái xã hội vừa đặt chân tới, anh vô cùng xa lạ. Trong tù, anh không phải lo cơm ăn, áo mặc, còn ở cái xã hội này, nếu không có phương kế gì làm ra đồng tiền, bát gạo, anh cứ nằm chờ ngày tử thần hiếu khách đón về nơi đoàn tụ. Người quan tâm, thăm viếng anh là người hỏi tội.

– Cậu có hiểu nguyên nhân nào dẫn đến bệnh máu xám không? – Cần không phản đối, hỏi tôi sang chuyện khác.

– Phóng xạ nguyên tử gây ra bệnh máu trắng để huỷ diệt con người. Đấu tranh giai cấp gây ra bệnh máu xám để huỷ diệt tình người. Trong tù, họ sử dụng cái gọi là thực hiện bốn tiêu chuẩn cải tạo và biện pháp bình bầu mức ăn để tù nhân cắn xé lẫn nhau. ở ngoài, họ xúi giục người này theo dõi, tố cáo người kia, hồi cải cách: con tố bố, vợ tố chồng. Tất cả những hiện tượng đó là để thực hiện đấu tranh giai cấp của đảng. Vì thứ lý thuyết kích thích thú tính ấy mà lòng nhân ái bị tiêu diệt ngay trong mỗi gia đình. Những ai rơi vào cảnh phụ tử, phu phụ, huynh đệ tương tàn xin đừng oán trách lẫn nhau. Và xin họ hiểu rằng, đấu tranh giai cấp là thủ phạm.

– Theo cậu thì yếu tố nào đã đưa chế độ Cộng sản đến với sự tàn bạo nhất trong lịch sử?

– Mình vào ăn đã, nói chuyện sau – Đến trước cửa hàng ăn, bác Lý nói.

Mỗi người ăn một đồng cơm và một đồng thức ăn – một bát canh sườn nấu bắp cải. Ai cũng khen cơm ngo
n nhưng đắt quá, chỉ được hai lưng bát. Cô bán hàng đon đả trả lời:

– Gạo quê đấy, không phải mậu dịch đâu. Gạo quốc doanh đong ở ngoài chợ đen thì rẻ hơn nhưng vừa hẩm vừa nhiều thóc, sạn, không có khách ăn.

Cô gái chăm chú nhìn chúng tôi rồi hỏi:

– Xin lỗi, hình như các bác ở trại về?

– Sao em biết? – Cần hỏi.

– Từ quần áo đến thân thể những người như các bác, chẳng ai còn lạ gì. Người nào cũng xanh xao, gầy guộc như một nắm xương tàn.

– Người dân ghét chúng tôi lắm phải không?

– Nói gì đến người ngoài, người trong gia đình các bác còn sợ liên quan, không dám gần nữa là…

– Chúng tôi không phải loại người cướp của, sát nhân hay lưu manh, lừa đảo.

– Nếu là tù phản cách mạng thì người dân còn sợ và đáng ghét hơn. Nhiều lần cháu đi họp ở khối phố, chính quyền, công an nói: “Tội phạm hình sự là sản phẩm do tàn dư của bọn đế quốc, thực dân. Nếu tên nào cải tà quy chính sẽ được đảng mở cho con đường thoát. Còn tội phản cách mạng – tay sai của đế quốc, nếu có được tha cũng không cho phép chúng hoà nhập vào cộng đồng xã hội”

– Anh Cần thấy chưa? – Tôi hỏi.

– Thế đấy! Khi còn ở trong tù, tớ cứ tưởng họ trả lại tự do là có quyền công dân.

– Tự do à? Cả dân tộc cũng không có nữa là những tên tù phản cách mạng. Chúng mình từ lồng hẹp được ra lồng rộng chứ chế độ Cộng sản có tự do đâu mà trả. Còn quyền công dân về mặt hình thức thì có đấy, nghĩa là được đi bỏ phiếu nhưng không được lựa chọn. Nếu không theo ý đảng thì quyền này biến thành tai vạ như chơi.

Bụng đói như cào, trong một vài phút người nào cũng ăn ngấu nghiến hết bát cơm, có người còn nguyên thức ăn. Ăn thêm mỗi người một đồng cơm nữa mới tạm ấm dạ dầy. Bàn bên cạnh, một cặp vợ chồng trẻ vừa ăn vừa nhìn chúng tôi, cùng khúc khích cười. Có lẽ họ cười vì thấy bọn chết đói được ăn cơm gạo ngon.

– Kể ra có tiền thì già này phải ăn thêm một đồng nữa mới no.

– Nếu còn đói, bác cứ ăn đi, cháu sẽ chi tiền – Anh Lịch nói.

– Cảm ơn anh. Vừa từ nhà tù ra, anh cũng như tôi, tôi không dám… Mẹ kiếp làm điều ác thì thả sức, còn làm điều thiện chi li quá! Ngoài tiền tàu xe, người nào cũng đủ tiền ăn cầm hơi để về nhà.

Lúc đó đã gần hai giờ sáng, trời vẫn mưa nặng hạt, gió thổi mạnh. Trên hè phố, chỗ nào nước mưa cũng len lỏi hắt vào. Anh Lịch có mảnh vải đi mưa, năm người ngồi tụm lại lấy vải đi mưa che đầu. Từng cơn gió thổi ào ào, cành cây gẫy, lá rụng bay lả tả, gió mang theo nước mưa lạnh tạt vào người, chúng tôi ôm lấy nhau mà vẫn rét run lên.

– Cậu trả lời tớ câu hỏi lúc nãy đi – Cần nói.

– Về nhà mà ngủ anh Tâm ạ, ở đây làm gì cho khổ – Bác Lý nói.

– Hàng nghìn đêm trong ngục còn chịu đựng được, một đêm thành kẻ đầu đường xó chợ đã sao? Trong tù, đôi khi chúng ta va chạm với nhau vì hớp nước, vì ngọn rau, miếng khoai, mẩu sắn đó là do cảnh ngộ gây nên. Sắp đến giây phút chia tay, mình càng thấy quyến luyến mến thương nhau. Chấm dứt cảnh mắt trước mắt sau, vụng trộm chia nhau từng ngọn rau rừng luộc bằng ống bơ, ống nứa cũng là thời điểm chúng mình phải xa nhau – xa những người cảm thương sâu sắc cùng tồn tại một thời gian dài trong cái địa ngục cõi trần.

– Tâm nói đi – Cần lại giục.

– Mọi chế độ độc tài đều dẫn đến bất công và tàn bạo. Riêng chế độ Cộng sản, chẳng những thế mà còn thực thi lý thuyết đấu tranh giai cấp đã đưa thể chế này đến tột đỉnh của tội ác. Muốn chứng minh thì dài lắm, để chờ dịp khác. Bây giờ chúng ta hãy nghỉ đi.

Đêm trước thức trắng, đêm ấy mặc dù trời mưa rét, ướt át, cả bọn ôm lấy nhau ngủ. Còn tôi, vẫn thức sau khoảnh khắc thiếp đi lại tỉnh vì chợt nhớ đến những nỗi gian nan đang chờ đón.

Mười sáu năm trước, tôi không sống nổi trong gia đình chị Hoa hai ngày, bây giờ sẽ ra sao? Xưa kia trong thành phố, ít nhiều tôi được quyền lựa chọn, hiện nay quyền đó không còn nữa. Gia đình chị có làm nhục đến mấy tôi cũng đành cắn răng mà chịu nếu còn muốn sống. Phải chăng số phận đã buộc chặt tôi vào nơi ô nhục ấy? Tôi chạy trốn đi đâu cho yên trong cái lồng sắt khổng lồ với cái tội danh phản cách mạng – một tội ghê tởm hơn cả bệnh giang mai, ghẻ lở trong nhãn quan của mọi người? Thoát khỏi cái địa ngục cõi trần tôi sắp đến một nơi tù ngục mới. Trong cái địa ngục trần gian kia, bệnh đói kinh niên vò xé thì nơi tù ngục mới, nỗi nhục sẽ hành hạ tôi đến kiệt sức, mỏi mòn thêm. Nơi ở cũ, tôi có thể trả giá để bảo vệ lấy danh dự của một con người, còn nơi ở mới, phương kế tối ưu là tôi đành ngậm đắng nuốt cay. Trả giá với chị với anh rể và các cháu ư? Không thể được, nếu làm thế nỗi nhục càng tăng theo cấp số: tôi mang tiếng với bàn dân thiên hạ cũng nhúng tay vào cảnh cốt nhục tương tàn. Từ nạn nhân của sự tàn bạo, tôi trở thành nạn nhân của bệnh máu xám đang lây lan vào mọi gia đình. Là nạn nhân, lương tâm, ý thức không cho phép tôi trở thành tội phạm. Dù cùng cực đến mấy, tôi vẫn phải giữ đạo làm người, không để dính những vết nhơ của nền văn hoá Cộng sản –thứ văn hoá huỷ diệt tình người, kích thích oán hờn và dối trá…

Tôi đang miên man suy tưởng thì tiếng động cơ và chuông tàu điện vang lên làm cả bọn tỉnh dậy. Lúc này, mưa đã ngớt c
húng tôi bỏ mảnh vải mưa che đầu xuống. Cánh cửa nhà chúng tôi nghỉ ngoài hè phố từ từ mở. Một lão già bước ra, mắt dán vào cả bọn rồi quát:

– Ai cho các người ngồi ở đây? Các người phải đi ngay nếu không, tôi báo công an.

– Chỉ ngồi nhờ ngoài hè phố chứ làm hại ai đâu mà ông phải nặng lời – Dương Chất nói.

– Như thế còn nặng lời à? Các người nếu không phải là bọn lưu manh, trộm cắp thì là lũ phản động, bán nước chứ gì? Cút đi mau, không hơi đâu phân giải với chúng mày.

Không ai nói thêm gì nữa, lặng lẽ đứng dậy đi nơi khác.

– Ta cùng ăn cái gì đó rồi chia tay thôi, các anh ạ, kẻo nhỡ tàu xe – Bác Lý nói.

– Ta cùng đi ăn phở, đã hai mươi mốt năm không biết đến, tôi quên mùi vị của nó rồi – Cần đề nghị.

– Gần bảy chục mùa xuân mà chưa biết phở thế nào, tôi cũng muốn thưởng thức món này trước khi quy Phật – Bác Lý nở một nụ cười móm mém nói.

Chúng tôi vào một cửa hàng phở, mỗi người một bát một đồng. Bà bán hàng tỏ lòng thương cảm nói:

– Các bác đi trại về, tiền ít, sao không xếp hàng mua phở quốc doanh cho rẻ. Chúng tôi chịu thuế nặng, mang tiếng bán đắt mà chẳng lời lãi bao nhiêu.

– Cảm ơn bác, chúng tôi phải về quê xa, sợ nhỡ tàu xe – Anh Lịch nói.

– Tưởng các bác ở đây, chứ ở xa làm gì có thời gian. CNXH đồng nghĩa với cả ngày xếp hàng mà.

Ra khỏi cửa hàng, chúng tôi bịn rịn chia tay nhau. Anh Phạm du Lịch về Tiền hải, Thái bình, anh Dương Chất người Việt gốc Hoa về Cẩm phả, Quảng ninh. Bác Nông văn Lý, người dân tộc Mèo về Hà giang, bác xiết chặt tay tôi, nói:

– Tôi cứ tưởng bỏ xác trong tù, nay nhờ ông trời xui khiến cho tôi được về nhà nhìn thấy vợ con rồi mới chết, xin vĩnh biệt anh. Tôi chúc bác thượng lộ bình an.

– Chào cậu tớ về Nam hà đây – Cần nói.

– Anh làm gì mà vội thế? Hơn hai mươi năm xa cách Hà thành, nay nên ở lại một vài ngày để thăm đường xưa, phố cũ.

– Sau này ổn định sẽ hay, còn bây giờ tớ phải về quê hương mới.

Một giáo dân ở huyện Xuân thuỷ, Nam hà là Đỗ sinh Viên khi được tha năm 1973 có hứa với Cần, khi nào Cần được về sẽ đến nhà anh, anh sẽ giúp đỡ.

Ngừng trong giây lát rồi Cần reo lên:

– Thôi được rồi, tớ sẽ nghe lời cậu, biết đâu…

Mặt Cần rạng rỡ hẳn lên.

– Anh chợt nhớ ra điều gì mà vui thế?

– Nếu người ấy giữ lời hứa, tớ sẽ ở lại Hà nội cùng với cậu.

– Như thế nào anh có thể nói sơ qua cho tôi biết không?

– Chà, chà hay quá, suýt nữa thì quên mất! Tớ sẽ báo tin cho cậu sau.

Ngay chiều hôm ấy, Cần đi tìm gặp cố nhân, nhà ở khu tập thể bờ sông. Đến nhà, Cần hỏi:

– Chào chú Hoán. Chú còn nhớ tôi không?

Chủ nhà sững sờ một hồi lâu rồi nói:

– Không, không tôi không biết bác là ai cả?

– Trí nhớ chú tồi quá. Tôi là Cần đây.

– Cần là ai, tôi không nhớ… Mà hình như…

– Chú còn nhớ thời kỳ chú phạm pháp lái xe không? Chúng ta quen nhau ở Hỏa lò, chú hứa, khi nào tôi được về chú sẽ giúp. Nay tôi mới được tha và cầu mong tình thương rộng mở của chú.

Hoán ôm lấy Cần và nói:

– Em nhớ ra rồi. Em tưởng anh đã chết trong tù. Nói thật là hình ảnh của anh đã lùi về dĩ vãng trong ký ức em. Dù sao, em vẫn phải giữ lời ước hẹn.

Ngừng vài giây, Hoán nói tiếp:

– Em sẽ làm hết mình để giúp đỡ anh, song nếu có trở ngại gì mong anh thông cảm.

– Tôi biết chú Hoán ạ. Chính quyền sẽ ngăn cản việc giúp một tên tù phản cách mạng chứ gì?

– Vâng, đúng thế. Em sẽ nói với công an, anh là người anh họ của nhà em.

Về phía cơ quan an ninh chắc cũng biết rõ Cần chỉ là tên vô danh tiểu tốt trong hàng ngũ đối phương, bản chất Cần hèn hạ, tài năng không có. Hơn nữa, cơ thể Cần đã tàn tạ, mắt kém, đi lại loạng choạng, khó khăn. Cần không thể làm một việc gì có nguy hại cho cách mạng.

Do vậy, họ để Cần được sống trong gia đình Hoán. Hoán có một tấm lòng nhân hậu và dũng cảm vô cùng hiếm trong xã hội Việt nam thời Cộng sản. Anh như một bông hoa rực rỡ trong hoang mạc mênh mông.

Đời cũng thật trớ trêu, một kẻ vừa hèn hạ. vừa bất nhân, bất nghĩa như Cần lại nhận được sự giúp đỡ tận tình của những tấm lòng nhân ái. Sau này, ông Nguyễn văn K… và Hoán chắc phải hối tiếc vì bản chất của Cần không hề thay đổi.

* *

*

Chia tay những người đồng cảnh, tôi thất thểu về nhà chị. Nỗi buồn cô đơn, trống trải vò xé lòng tôi. Xe đạp, xe máy, xích lô len lách nhau xuôi ngược rợp đường. Trên hè phố, người qua lại tấp nập. Đi giữa nơi đô hội ồn ào mà sao tôi vẫn cảm thấy hoang vắng, bơ vơ. Dòng ngườ
i qua lại trên đường phố ném vào tôi những ánh mắt lơ láo. Ngược lại tôi chỉ trả họ với cái nhìn của nỗi buồn thương. Hơn ba thập kỷ, một thế lực tàn bạo, bịp bợm và xảo quyệt đệ nhất trong lịch sử, đã và đang dồn nén dân tộc vào một khuôn mẫu – ý thức hệ Marx – Lénine. Nó có thể tiếp tục chém giết người, xiềng xích, đoạ đầy thể xác con người nhưng nó không thể và không bao giờ tiêu diệt được những ý chí kiên cường, bất khuất vì tự do, dân chủ và nhân quyền của dân tộc. Đáng buồn là những ý chí ấy quá ít ỏi trong thời cường thịnh của Cộng sản, còn lại phần đông vì hèn yếu đã đưa họ đến cuồng tín, u mê.

Bỗng những âm thanh khủng khiếp vang lên từ một loa truyền thanh trước cửa ga:

Miền nam có bác Hồ trong ngày vui đại thắng

Lời bác nay thành chiến thắng huy hoàng…

Những âm thanh làm tôi rùng mình hoảng sợ. Tôi rảo bước như muốn trốn chạy những âm thanh đó nhưng chạy đâu cho thoát? Chúng cứ đuổi theo bám sát tôi, làm đầu óc tôi choáng váng:

Việt nam Hồ chí minh!

Việt nam Hồ chí minh!

Những âm thanh như mũi dao nhọn khoét sâu vào vết thương tôi đã bị cách đây mười tháng. Vết thương lòng đau và còn đau mãi. Vết thương không phải của riêng tôi mà của dân tộc, trong đó có hàng triệu người phải vào trại tập trung cải não và hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Khi nào lịch sử còn mỉm cười với loài quỷ đỏ thì vết thương đó chưa lành. Thực ra, nó là dấu ấn khắc sâu vào trang sử bi thương của dân tộc sẽ không bao giờ lành cả. Nó là ngày quốc hận.

Những âm thanh làm tôi nhớ lại hồi tháng tư năm 1975. Cả tháng tôi trải qua một cơn khủng hoảng, như kẻ mất hồn vì những chiến thắng liên tiếp của Cộng sản ở miền Nam. Để tuyên truyền thắng lợi, bọn cai ngục cho đặt thêm một loa truyền thanh từ cổng trại dội vào. Lúc đó, tai tôi đã bị nghễnh ngãng hơn thời gian trước. Nguyên do làm tôi điếc thật đơn giản. Tháng tư năm 1970, tôi lâm bệnh đường ruột cấp tính, trại giam không có thuốc, không chạy chữa. Nhờ một người bạn tù là Nguyễn thanh San có hàng trăm viên Chlorocid, tôi uống thuốc không được sự hướng dẫn của thày thuốc, may mà khỏi bệnh thì thính giác bị suy yếu dần.

Trong phòng giam còn lại mười một người tù phản cách mạng, chỉ có anh Cần là thường xuyên theo dõi thời sự. Tôi không nghe rõ tin tức từ loa truyền thanh dội đến nên hỏi anh Cần. Vài ngày sau đó, có một con chó săn bẩm báo nên thượng uý phó giám thị thường xuyên vào trại doạ dẫm. Đứng trước tù toàn trại, hắn tuyên bố:

– Bầu trời miền Nam đang thay đổi. Bầu trời Vĩnh quang đã thay đổi hoàn toàn. Tôi thay mặt ban giám thị báo cho một vài anh trong nhóm phản cách mạng biết, từ nay chúng tôi không nhượng bộ các anh đâu.

Khi nói, hắn nhìn thẳng vào tôi và Cần. Ánh mắt của tên cai ngục vừa hung bạo, vừa dương dương tự đắc. Cần hoảng sợ, mặt tái nhợt hình như không còn giọt máu nào. Tôi biết, lúc này chỉ để một sơ suất nhỏ, chúng cũng có cớ để giết mình. Bị uy hiếp, Cần không dám nói chuyện với tôi nữa.

Một hôm, ở nơi lao động, Cần trông trước nhìn sau không thấy ai, anh ghé vào tai tôi nói:

– Sự thể thế này, chúng mình nên im lặng, giả câm giả điếc là hơn…

– Xem ra anh còn yêu cuộc đời khốn khổ của mình lắm. Còn tôi coi như mình đã chết rồi.

– Viêc quốc gia, đâu phải của riêng mình, nghĩ và buồn làm gì cho thêm kiệt sức nữa?

– Tôi hỏi anh, ai bỏ tù mình? Ai làm cuộc đời mình tàn héo? Kẻ nào đưa dân tộc đến đau thương, quằn quại? Nay kẻ thù đang đại thắng thì không đau lòng sao được?

– Cậu nói có lý nhưng lúc này không khéo léo thì nguy hiểm lắm, họ giết mình dễ như chơi. À này, tớ chỉ thông báo tin tức, thời sự với cậu bằng cách ra hiệu thôi. Nếu cậu nhất trí, từ tối hôm nay, khi nghe thấy tin buồn, tớ xoa đầu gối, nếu tin vui, tớ sờ tay lên má.

– Tôi nhất trí và cảm ơn anh trước.

– Nhân thể gặp cơ hội tốt, tớ thông báo tin khái quát, mất đến Nha trang, Khánh hoà rồi. Tớ cầu mong một sự kiện như ở Triều tiên lại diễn ra.

– Khó lắm, cuộc chiến kéo dài mà Mỹ không giành được một thắng lợi nào cơ bản, đành phải rút quân. Ông Nixon đã phải từ nhiệm. Tổng thống Foni có quyền hành gì phủ quyết quốc hội để tiếp tục can thiệp vào miền Nam?

– Thời điểm này là cơ hội tuyệt vời để Mỹ giành thắng lợi quyết định. Cậu có nghĩ, Mỹ bỏ cuộc chiến là một sai lầm nghiêm trọng hay không?

– Anh nói đúng. Ngoài ra người Mỹ cũng mắc những sai lầm nghiêm trọng khác.

– Cậu cho một dẫn chứng?

– Mặt trận giải phóng chỉ là cái đuôi con rắn, tại sao đánh rắn, Mỹ không đánh mạnh vào đầu? …

– Các anh không làm việc, đứng nói chuyện xuyên tạc đấy phải không? Đi làm ngay – Tên quản giáo đi đâu về nhìn thấy chúng tôi nói chuyện, hắn quát.

Từ hôm ấy, mỗi khi nghe bản tin thấy Cần xoa tay vào đầu gối là một lần như mũi kim nhọn đâm vào trái tim tôi. Thế là cả tháng tư tôi khóc, ngày sau khóc nhiều hơn ngày trước. Một tháng tư đen giông tố khủng khiếp nhất trong cuộc đời. Không phải tôi khóc vì thương tiếc cuộc đời mình, dù miền Nam còn hay mất vào tay Cộng sản, tôi vẫn nằm gọn trong tay chúng. Tôi khóc vì thế sự phũ phàng, cái ác đã chiến thắng, hoàn toàn chiến thắng, ngự trị cả tổ quốc Việt nam.

Vâng, tôi chỉ khóc thầm trong nỗi cô đơn, tủi nhục. Nước mắt tôi chảy khi mọi người xung quanh đang yên giấc, vì tia hy vọng nhỏ nhoi của tôi đến nay đã hoàn toàn bị dập tắt. trong cái thế giới u mê, ghê tởm và tàn bạo này, tôi tìm đâu ra một người bạn tri tâm để than thở nỗi đau. Hơn nữa, nước mắt tôi không may lọt vào ánh mắt của một tên cai ngục sẽ biến thành một bản án tử hình không tuyên bố.

Tôi oán trách người Mỹ bỏ miền Nam. Vì những sai lầm nghiêm trọng trong cuộc chiến, phải trả một giá rất đắt mà họ đã thất bại. Một cơ hội tốt nhất giành thắng lợi quyết định mà họ đã bỏ qua để hợp chủng quốc Hoa kỳ phải chịu một nỗi nhục nhất trong hai trăm năm dựng nước.

Đến bến xe Kim liên, tôi sực nhớ ra là mình đã đi quá đường. Tôi quay lại, rẽ sang phố Khâm thiên để về nhà chị. Chặng đường đến ô chợ dừa, tôi cứ quẩn quanh trong ý nghĩ, sống ở nhà chị sẽ ra sao, điều gì sẽ đến? Nhục mình cam chịu nuốt nhục nhưng không thể hạ mình để cầu xin một sự bình an. Phương kế tốt nhất là mình im lặng, tai giả điếc, mồm giả câm “Khốn cùng không nhục… không phải là người…”.
Gần đến ô chợ dừa, tôi đi chậm lại, hình như có ai đó cản bước và nhủ tôi rằng: “Từ một nhà tù đoạ đầy về thể xác, mày đang đến một nhà tù hành hạ về tinh thần”. Vâng, tôi biết lắm, nhưng tôi không thể cưỡng lại số phận đã an bài, cũng như dân tộc không thể chống lại cơn hôn mê của lịch sử đang nâng niu, o bế những con quỷ sứ.

Qua chợ dừa mươi bước, tôi dừng lại. Đứng trên đường nhìn xuống nhà chị, vẫn gian nhà lá lụp xụp ngày xưa. Bước mươi bước nữa là đặt chân vào nhà chị, sao tôi cảm thấy muôn trùng xa cách, cảm thấy ghê sợ, ngại ngần? Nhưng số trời đã quyết, có mấy ai “nhân định thắng thiên…”. Tôi đang bối rối thì chị Hoa từ trong nhà rảo bước đi ra và gọi:

– Tâm, em đã được về? Em quên nhà chị hay sao mà đứng mãi trên đường?

Chị dỡ gói hành lý trên tay tôi và dẫn tôi vào nhà. Anh Hoàng đi làm, ba cháu đi học, chỉ còn cháu nhỏ ở nhà. Chị nói với con:

– Sang, đây là cậu Tâm của con.

– Cậu ở đâu về đấy mẹ – Thằng Sang nũng nịu hỏi.

– Cậu ở xa về, con ạ!

– Con ra đầu ô chơi đây, mẹ ạ! – Nói xong, thằng bé chạy ra ngoài.

– Hôm nay, trời rét lắm, em không còn áo hay sao mà mặc thế này?

– Còn chiếc áo bông cũ, nhưng – Tôi lấy chiếc áo bông trong túi vải ra cho chị xem và nói tiếp.

– Khi đi, em mang theo chiếc áo bông này, vỏ áo rách, ruột bông cũng rách từ lâu, em vá víu hàng chục mảnh vải sọc xanh, sọc đỏ thế này, đi đường mặc không tiện.

– Khốn khổ, trong tù em phải mặc thứ này ư?

– Nó là bạn thân của em hơn chục mùa đông qua, nếu không có nó thì lấy gì mặc chống rét!

Chị lấy cái áo đại cán của anh Hoàng khoác vào người tôi và nói:

– Em mặc tạm cho đỡ rét.

– Phiền lắm, em chưa cần đến nó đâu! Em cũng quen với đói rét rồi.

– Không sao, chiếc áo cũ ấy mà – chị nói tiếp – đưa chị cái túi xem có những thứ gì?

– Toàn là giẻ rách thôi, và vài thứ lặt vặt – tôi trả lời và mở túi cho chị xem. Chị bới trong túi ra chiếc bàn chải đánh răng như còn mới, chị hỏi:

– Em mới mua thứ này à?

– Chị cho em năm 70 đấy, trong tù lấy tiền đâu ra mua.

– Sao còn mới thế?

– Mỗi lần dùng xong, em lấy hai thanh nứa kẹp và buộc lại.

– Thật tội nghiệp, nếu không ở tù cũng khó mà tin.

– Vâng từ cuộc sống của con người bị đẩy vào kiếp sống của loài vật, diễn ra muôn vàn hiện tượng man rợ, chị tin sao được! Chẳng hạn, một que tăm em dùng được hơn ba tháng.

– Vô lý quá! – Chị lắc đầu, nói.

– Có vẻ vô lý nhưng là sự thật. Trong Hoả lò không được phát tăm. Bữa đầu em thấy tù nhân lấy tăm từ cạp quần, vạt áo ra dùng rồi lại cất vào chỗ cũ. Em hỏi một bác già thì được trả lời:

– Phải tự tạo lấy mà dùng. Nếu cậu muốn, cứ lấy cắp một cái đũa, đến đêm dùng răng chẻ ra thành tăm. Cẩn thận, nếu bị lộ, họ kỷ luật đấy. Em làm theo ý kiến này. Vì sợ, em chỉ lấy và giấu đi ba que tăm dài dùng được mười tháng ở Hoả lò đến khi đi trại. Nếu kể cuộc sống man rợ trong tù, chị sẽ khó tin hơn… À này, Đản có hay xuống thăm chị không?

Mặt chị xịu lại đượm một vẻ buồn khó tả, mắt chị rơm rớm lệ, chị trả lời như nói một mình:

– Đản chết rồi!

– Chị ơi, Đản chết thật rồi sao? – Tôi kêu lên và không giữ nổi dòng nước mắt.

– Đản chết trong trận bom bi Mỹ năm 1967. Chị đã quyết định giấu em vì không muốn em chịu thêm đau khổ trong tù. Nhân thể, chị cũng báo cho em thêm một tin buồn nữa, chị Dền cũng đã chết năm 1969. Thương tâm nhât là cháu Diệu con chị Dền, năm tuổi mồ côi mẹ, phải chịu cảnh dì ghẻ con chồng. Tám tuổi mồ côi cha phải đi ở với chú bữa cháo, bữa rau. Chị và cả cậu nữa phải có trách nhiệm giúp đỡ cháu.

Tôi vật ra giường khóc nấc lên thương em tôi hiền lành, yếu đuối, sống khổ nhục, chết thảm thê. Thương chị cả tôi cả đời nghèo khổ, chết non. Trong số anh chị, chỉ có chị Dền là người nhân hậu, thương em.

Chị Hoa khóc không thành tiếng. Phải chăng chị cũng đang đau xót về cảnh tan nát, li biệt của gia đình?

– Đừng khóc nữa, em – Chị nghẹn ngào khuyên nhủ – Dù sao đau thương đã qua rồi, em cố gắng bình tâm lại, chị thấy em gầy yếu, tiều tụy quá chừng. À, họ quyết định chỗ ở của em thế nào, có ở Phó đức chính nữa không?

– Chị ạ, dựa vào lý lịch, trong giấy tha, họ quyết định em ở với chị. Em không muốn gây phiền phức cho ai nhưng không còn đường nào khác.

– Em cứ yên tâm ở đây. Chị nghĩ rằng, anh Hoàng và các cháu cũng bằng lòng.

– Em cũng ước mong như vậy. Tuy nhiên, cả nhà nên thông cảm cho em, phải ở nhờ bao giờ cũng là một nỗi đắng cay, em không muốn kéo dài tình trạng đó.

Đến mười hai giờ, ba cháu đi học về. Xưa kia chúng còn nhỏ, nay gặp và nhận cậu chúng cũng có vẻ vui mừng.

Trưa hôm ấy, tôi được ăn một bữa cơm ấm áp tình cảm gia đình, tâm hồn tôi có phần yên tâm, thanh thản. Và tự oán trách mình, vội nghĩ những điều không hay về gia đình chị. Tôi hy vọng rồi đây phải tự oán trách mình nhiều hơn nữa.

Đến ba giờ chiều, tôi mặc chiếc quần kaki cũ và chiếc áo đại cán của anh Hoàng đi tàu điện lên bờ hồ Hoàn kiếm. Rồi từ đó, tôi đi bộ đến thăm nơi ở cũ. Nhìn lại hồ Gươm phong cảnh vẫn quyến rũ, nên thơ: mưa rơi lất phất, tháp Rùa xa xa mờ ảo, mặt hồ gợn sóng lăn tăn, Thê húc yểu điệu uốn mình, chợt tôi nhớ lại một buổi chiều hè, Khoa rủ tôi đến thăm hồ lần cuối. Anh mơ màng nhìn hàng liễu rủ, cảm hứng buông mấy vần:


Buồn trông liễu rủ ven bờ,

Xa em luống những bao ngày nhớ thương.


Tôi thầm nhủ, Khoa ơi, không phải mày xa em (xa Thê húc) mà mày đã vĩnh biệt tất cả, từ bỏ cái thế giới tội ác và nhơ bẩn này. Nay còn đâu những buổi chiều êm đềm ấy và còn đâu những đêm tắm dưới ánh trăng vàng, chúng mình ngồi bên nhau tâm sự như một cặp tình nhân nồng thắm. Vĩnh biệt mày, tao vĩnh biệt một bạn tri tâm duy nhất để cuộc đời tao thêm cô quạnh, não nùng.

Trên đường đi tôi rẽ vào vườn hoa hàng Đậu, đứng nhìn ngôi nhà bác Vũ thị Hiền dạo trước, ngôi nhà có vẻ hoang tàn lạnh lẽo. Tôi có ý định hỏi thăm Nga đã được về chưa? Sau mấy phút ngại ngần, lưỡng lự, tôi đi nhanh đến dốc hàng Than. Sắp bước chân xuống bậc vào chùa, tôi đứng lại nghe tiếng hát ru từ xa vọng lại:


À ơi, Đồng đăng có phố Kỳ lừa,

Có nàng Tô thị, có chùa Tam thanh.

Ai lên xứ lạng cùng anh,

Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em…


Tiếng hát thân quen ấm áp làm sao!

Vào sân chùa, tôi đến góc nhà chùa ngoài, nơi gia đình anh Cương ở, người đi đâu vắng. Một bà tiểu đồng từ chùa trong ra, hỏi:

– Anh hỏi ai?

– Thưa bà, cháu đến thăm bác Cương.

– Bác ấy đang bận dưới bếp, anh đợi một lát.

Bà tiểu đồng này là bà Dậu rất nhân từ, phúc hậu. Sau mười một năm, tôi thấy bà không thay đổi bao nhiêu. Có lẽ do cơ thể tôi quá tàn tạ, già trước tuổi nhiều nên bà không nhận ra tôi nữa. Nói xong, bà tiểu đồng đi nơi khác. Tôi lẻn qua cửa góc chùa để ra một khu vườn nhỏ. Nhìn lại, phong cảnh cũ, cây ngọc lan vẫn như xưa, hoa vẫn toả hương thơm ngào ngạt, đàn chim xanh nhỏ xíu vẫn ríu rít trên cành. Ngoài song cửa chùa trong, vài cành liễu, lá mượt mà, tha thướt rủ. Bên trong đã vắng người xưa. Thay vào chỗ em ngồi là một bình sứ cổ lớn cắm một cành đào hoa nở rộ. Tiếng hát ru thân quen, ngọt ngào âu yếm vẫn văng vẳng bên tai:

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

Năm ở, canh chày…

Lòng tôi bồi hồi, xao xuyến và thầm kêu lên: “Chim ơi, đừng hát nữa, hãy bay đi; Hoa ơi, hãy ngừng toả hương thơm; gió ơi, hãy đứng im để những làn sóng âm thanh kia xô đập vào trái tim ta nhiều hơn nữa để ta hưởng những hương vị thoang thoảng còn vương lại trong dĩ vãng của ái tình thêm giây phút”. Thật khôi hài, trái tim kẻ khốn nạn vẫn rung lên khúc nhạc tình ca!

– Chú Tâm đấy à, về bao giờ?

– Chào anh. Em mới về sáng nay.

Anh Cương gầy và già hơn trước nhiều. Thấy tôi, anh nửa mừng, nửa sợ. Anh gọi nhỏ, âm thanh xào xạc như gió thổi qua một hàng cây. Tôi đang thả tâm hồn bay đến khoảng trời yêu thương, nhớ tiếc, tiếng nói của anh làm tôi giật mình bừng tỉnh.

– Họ cho chú về đâu?

– Về ô chợ dừa ở với chị em.

– Anh mừng cho chú. Cố gắng mà ổn định cuộc sống, tuy khó khăn hơn trước nhiều nhưng thời phải theo thời chứ biết sao?

– Mười một năm xa cách, bao giờ em cũng nhớ và biết ơn anh. Khi em đi, có lẽ để lại cho anh nhiều rắc rối?

– Nay ra đồn, mai lên khu, lên sở suốt mấy năm liền, gần đây họ mới để cho yên. Đúng là quít làm cam chịu tội lây.

– Khối phố họ có nói gì em không?

– Căng thẳng lắm, lần nào họp, công an chẳng nhắc đến chú là tên phản động nguy hiểm.

– Dù sao tai vạ đến với anh cũng đã qua r
ồi.

– Qua à? Chú nói dễ dàng thế? Thời đại này người dân có công họ mới mau quên. Đấy là chưa kể hồi cải cách, hàng vạn người có công hoá thành tử tội. Còn có tội hoặc liên quan với người có tội thì chẳng bao giờ…

– Vâng anh nói đúng nhưng khi em đã được tha, họ không hành anh như xưa nữa.

– Số tôi còn may đấy. Nếu chú trốn thoát thì tôi phải đi tù thay chú, cũng giống như nhiều bộ đội vào Nam chiến đấu lại chạy sang hàng ngũ đối phương để cả gia đình ở miền Bắc chịu tội thay. Tôi cũng mong được sống bình thường, bình thường chứ không phải bình yên đâu nhé.

– À, Nguyệt lấy chồng rồi phải không anh?

– Đã chín năm rồi, nó lấy con ông cán bộ cấp cao ở đầu phố Yên phụ kia kìa – Tôi thoáng nghĩ chồng Nguyệt có lẽ là anh ruột của Vân. Ngừng trong giây lát, anh Cương nhìn thẳng vào mặt tôi, nở một nụ cười hóm hỉnh, anh tiếp:

– Quái lạ, sao chú lại quan tâm, thăm hỏi đến con bé này?

– Vâng, anh thấy lạ lùng à?

– Có thể xưa kia chú đã – Anh Cương ngập ngừng – Chú nên quên mối tình vớ vẩn ấy đi. Tôi tưởng tù tội nhiều năm phải rèn chú thành con người thực tế.

– Không, anh ạ! Trong em bao giờ cũng có hai con người, một con người thực tế chịu đựng mọi nỗi đắng cay, khổ nhục, một con người trừu tượng sống lại những ngày thơ mộng trong quá vãng.

– Thì ra, chú vẫn như xưa. Hàng chục năm tù chỉ đầy đoạ chú về thể xác.

– Vâng, bạo lực chỉ làm thể xác em tàn tạ, còn tâm hồn vẫn thế. Nếu có thay đổi chăng đó là tâm hồn em càng rộng mở?

Chào tạm biệt anh Cương, tôi về đến nhà thì trời đã tối. Gặp tôi, anh Hoàng không hỏi han gì. Anh mỉm cười nhưng nét mặt anh có vẻ đăm chiêu.

Tháng 9 –1976.


Các bạn vừa theo dõi hết Phần thứ nhất “Một ngày giông tố“.

Kỳ tới, mời các bắt đầu theo dõi Phần thứ hai, mang tên “Những kẻ khổ nhục

Tháng Bảy 19, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: