Eventfulday's Blog

Kỳ 19- Nhà tù – Trại cải tạo Vĩnh quang (3)

Hồi ký Một ngày giông tố – Kỳ 19

HỒI BA – Nhà tù

III Trại cải tạo Vĩnh quang (3)

Lý thuyết đấu tranh giai cấp là xương sống của chế độ Cộng sản, nó không bao giờ từ bỏ. Còn thực thi thứ lý thuyết kích thích thú tính ấy thì làm gì có hoà giải hoà hợp dân tộc thực sự. Thế mà sau hiệp định Paris hàng ngày báo chí và đài phát thanh tuôn ra không ngớt những luận điệu giả nhân, giả nghĩa:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Tình cốt nhục nghĩa đồng bào là trọng, môi hở răng lạnh, máu chảy ruột mềm vv… và vv…

Tôi cười ra nước mắt thương xót đồng bào miền Nam, nhất là hàng ngũ sĩ quan, binh lính Việt nam cộng hoà, họ vẫn nghe, vẫn tin tiếng nói của loài quỷ đỏ. Khi nào họ biết thì đã muộn cũng như hàng triệu người miền Bắc xưa kia khi thấy chúng hiện hình là loài yêu quái đã nằm gọn trong nanh vuốt của chúng. Đường Tăng mắc lừa yêu quái, có Tôn ngộ Không giải thoát, còn người miền Nam mắc lừa Cộng sản thì biết trông cậy vào ai nếu Hoa kỳ bỏ cuộc.

Tất nhiên lịch sử sẽ thay đổi nhưng vài ba thập kỷ đối với lịch sử là ngắn ngủi, còn đối với một đời người thì dài lắm. Đến lúc đó, nếu chúng tôi đã gục ngã gần hết, người còn lại cùng con cháu mình phải mang sổ ra thanh toán cho công bằng, cho sòng phẳng theo đúng luật đời: kẻ chơi gươm phải chết vì gươm. Tuy nhiên, tôi cũng ý thức được rằng, lấy máu để rửa máu sẽ không bao giờ sạch, sẽ không bao giờ hết mùi tanh hôi, sẽ hoá thành phân bón cho mầm oán hờn nảy sinh và phát triển.

Cuối mùa hè năm ấy, ông đại tá Lê hữu Qua, cục trưởng quản lý nhà giam đến trại. Nhờ sự có mặt của ông, mỗi thằng tù được mấy miếng thịt trâu. Trước ngày ông đến, bọn cai ngục tấp nập chuẩn bị để đón tiếp vị thủ trưởng của mình: Dọn vệ sinh đường sá phong quang, sạch đẹp, nhà cửa gọn gàng. Một con dê béo nhất đàn được mổ để làm món tái thui, mấy con lợn nặng hàng tạ được làm thịt để giã giò. Chim, gà và các loại gia cầm khác được làm lông không biết bao nhiêu? Ông đến trại có một ngày, từ chiều hôm trước đến trưa hôm sau. Ông đến vì mục đích bí mật gì không ai biết, nhưng bọn cai ngục chuyển lên xe ông đầy ắp thực phẩm, nông sản và lâm sản: bê thui một đùi, giò lụa vài ba chục ký, gà sống thiến vài ba chục con, trứng gà vài sọt hàng nghìn quả, đậu xanh hàng tạ, chè hảo hạng vài yến… Người ta bảo mấy chục ông cục trưởng cục công an thì ông cục trưởng cục quản lý nhà giam có nhiều đặc quyền, đặc lợi nhất cũng không ngoa, ông nắm trong tay tính mạng của hàng chục vạn tù. Ông đến trại để thu chiến lợi phẩm từ một cuộc chiến kéo dài hết năm này qua năm khác nhằm vắt kiệt sức những thằng tù, đồng thời đập tan ý thức phản cách mạng của chúng. Một xe hàng chiến lợi phẩm của ông là kết tinh của hàng trăm xe chứa mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu, thịt, xương của những thằng tù.

Giữa mùa thu, ông giám thị thiếu tá Nguyễn văn Chuân tập họp tù, nói chuyện vào ngày chủ nhật.

– Có anh hỏi chúng tôi, tại sao đài và báo chí đảng kêu gọi hoà giải, hoà hợp dân tộc mà tù không được tha hết. Tôi xin trả lời, đó là sách lược tuyên truyền của đảng đối với kẻ thù đang cầm vũ khí. Lập trường của cách mạng, không bao giờ người Cộng sản ngồi chung bàn tiệc, bàn trà với kẻ thù. Nếu bọn ngụy miền Nam có hạ vũ khí, cảnh cửa trại tập trung mở rộng để đón chúng. Còn các anh, nếu cải tạo tốt sẽ được tha với điều kiện có lợi cho cách mạng. Tôi nói thẳng, chúng tôi không hoà giải, hoà hợp với các anh.

Gần đây, tôi được nghe báo cáo, một phạm nào đó đã nói, nếu Việt nam có sự kiện như Chi lê sẽ gấp một trăm lần Chi lê. Anh ấy nói đúng, có thể gấp một nghìn lần cũng nên. Chúng tôi biết, đảng càng biết rõ hơn, nhưng cách mạng luôn cảnh giác, sự kiện đó không bao giờ có thể xẩy ra. Các anh nên biết, nếu có biến loạn cũng như trước đây nếu địch Bắc tiến cách trại một trăm cây số, chúng tôi có quyền tiêu diệt các anh rồi.

Một vấn đề nữa cũng cần nhắc đến để các anh rõ. Vừa qua ông cục trưởng về thăm trại, một số anh báo cáo việc chúng tôi đối xử với các anh thiếu nhân đạo. Ở đây có một số anh học cao, chắc cũng hiểu định nghĩa: nhà nước là một công cụ của một giai cấp để thống trị các giai cấp khác. Đương nhiên nhà nước của giai cấp vô sản, của đảng Cộng sản phải thống trị, chuyên chính với kẻ thù của mình. Kẻ thù đó, trước mặt chúng tôi là các anh. Người Cộng sản chỉ sợ mất lập trường giai cấp khoan nhượng, thương xót kẻ thù. Ở trại giam để một tên phản cách mạng trốn thoát, chúng tôi có tội với đảng. Ngược lại, thẳng tay trừng trị các anh, chúng tôi chẳng hề gì. Như ở trại An Thịnh, một thời tôi là đại uý chánh giám thị, có hàng trăm tù bỏ mạng chúng tôi vẫn được đảng tin cậy. Người Cộng sản bảo vệ và bênh vực quyền lợi cho nhau là điều hoàn toàn đúng, không có gì sai với chủ trương của đảng. Quả thật là nhiều anh ở đây còn ngây thơ lắm.

Ông giám thị nói đúng. Những ai đó đã quá ngờ nghệch nên mới báo cáo cuộc sống đói khổ của trại giam với ông cục trưởng. Đã là loài hổ báo thì con nào chẳng biết ăn thịt người, càng to càng hung dữ.

* *

*

Năm 1974, báo chí đăng nhiều lần tin về sự tuyên bố tuyệt thực của bà Ngô bá Thành trong trại giam của chính quyền Sài gòn làm tôi nhớ lại năm 1972 ở trại giam này, có một trung sĩ biệt kích là Phạm ngọc Ẩm trong chiến đoàn Lôi hổ. Ẩm phạm kỷ luật, trước toàn trại, cai ngục ra lệnh cùm Ẩm hai tuần. Ẩm tuyên bố: “tôi sẽ tuyệt thực để phản đối”. Anh không biết rằng, một ngườ
i dân thường tuyên bố như anh cũng phải ngồi tù mọt gông, còn trong nhà giam của Cộng sản, nếu tuyệt thực phải tuyệt luôn cả nước uống. Có gan làm được điều đó để chết cũng là mong muốn của họ. Nếu là người miền Bắc có gia đình, chỉ cần một giấy báo tử đổ vạ cho bệnh tật là xong xuôi, ai biết đến? Thời gian đó, anh đức Ân cũng trong xà lim nói với Ẩm:

– Cậu còn khờ dại lắm, chưa hiểu gì tàn bạo của Cộng sản. Đang mùa hè, nếu cậu không đủ nghị lực chịu khát sẽ trở thành một trò cười, một nỗi nhục.

Hai ngày sau, Ẩm đầu hàng vô điều kiện. Tên thiếu úy Vọng, cán bộ giáo dục đến xà lim hỏi Ẩm:

– Mày có gan tiếp tục tuyệt thực nữa đi? Có phải mày bắt chước kiểu đấu tranh của cái gọi là thế giới tự do không? Nên nhớ là người Cộng sản không khoan nhượng bất cứ một hình thức đấu tranh nào. Đấu tranh hoặc phản đối chế độ là hành động tự sát.

Nếu bà Ngô bá Thành cũng ở trong trại giam Cộng sản mà tuyên bố tuyệt thực, không biết bà có gan chịu được mấy ngày?

* *

*

Sau khi tha một số, đến tháng tám năm ấy, phần lớn tù phản cách mạng chuyển lên trại Phong Quang. Tháng tư năm 1975, trại Vĩnh Quang chỉ còn lại mười một người, trong số đó có Lê Cần là đặc biệt. Cuộc đời Cần vừa bi vừa hài lẫn lộn, chẳng những thế, vừa đáng thương, vừa hèn hạ, bất nhân. Đầu năm 1955, sau khi đã đi Nam, Cần trở về Hà nội tìm người yêu không thấy, Cần trọ ở khách sạn Đồng lợi ăn chực nằm chờ máy bay vào Nam. Hắn có biết đâu kế hoãn của Cộng sản. Khi hết thời hạn đi lại giữa hai miền, Cần bị bắt vào Hoả lò với tội danh phản quốc. Có thể Cần chỉ là một hạ sĩ quan nhưng hắn lại khai là thiếu tá. Cần bị toà án xử phạt năm năm tù. Năm 1960, Cần bị chuyển sang tập trung cải tạo đến nay đã hai mươi năm tù. Cả thời gian dài dằng dặc ấy, với bản chất hèn hạ và bất nhân, Cần trung thành với bọn cai ngục, hành hạ, ức hiếp tù nhân. Đầu những năm của thập kỷ sáu mươi, tù sợ toán trưởng hơn sợ bọn cai ngục. Toán trưởng như ông vua của một toán tù. “Ông vua” bất nhân như Cần, muốn bịa đặt để hại ai cũng được, chỉ một câu vu oan “nói xấu chế độ” có thể bị cùm đến chết trong xà lim. Người có gia đình tiếp tế, của ngon, vật lạ phải biếu toán trưởng, hắn nhận cho là điều may, từ chối hãy coi chừng, cùm kẹp hoặc các nhục hình khác đến dễ như chơi. Đến nỗi, một giám thị còn chút lương tâm có lần phải thốt lên:

– Chúng tôi không ngờ rằng, trong cái nhà tù này lại có thêm một bộ máy kìm kẹp nữa là các anh toán trưởng.

Ở trại An Thịnh, có lúc tù đang chết đói, Cần làm toán trưởng nhà bếp, ngoài việc đối xử với đồng cảnh tàn nhẫn hơn cai ngục, hàng ngày hắn còn bớt gạo tiêu chuẩn của tù với cái gọi là tiết kiệm, rút ra hàng tấn gạo trả lại bọn cai ngục. Mười hai năm làm toán trưởng, Cần tiếp tay cho bọn cai ngục hành hạ, giết hại nhiều người. Cần đã khai thác mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của đồng cảnh để đổi lấy lời khen của bọn cai ngục. Khi nào Cần bi quan với cuộc đời tù tội, thèm khát tự do thì tức khắc hắn được ăn bánh vẽ. Có lần cai ngục tuyên bố tha Cần, sau đó gọi hắn lên văn phòng, cán bộ giáo dục giải thích như sau:

– Hiện nay, anh là người tự do, nhưng có khó khăn là anh không có gia đình ở miền Bắc, vậy tha anh về đâu? Anh hãy lưu lại trại một thời gian, vẫn làm toán trưởng nhưng phải tốt hơn. Chúng tôi sẽ liên hệ với bộ, đưa anh đến một nơi thuận lợi để anh sinh cơ lập nghiệp làm lại cuộc đời.

Cần hân hoan chờ đợi một năm, hai năm… đến gần một chục năm, hắn như quả chanh – quả chanh đắng vắt hết nước cho đồng cảnh uống – bị vất ra bãi rác, hắn mới tỉnh ngộ, quyết định tha hắn chỉ là một màn kịch.

Năm 1973, Cần bị mù. Là chó săn trung thành với chủ không còn tác dụng, hắn giả vờ xám hối tội lỗi trước Chúa. Do vậy, hắn được các tu sĩ, giáo dân dang cánh tay bao dung, giúp đỡ, chăm sóc. Năm ấy, đang trong giai đoạn đầu thi hành hiệp định Paris, đấu tranh chính trị, hắn được đưa về Hà nội chữa mắt. Nhân đây, tôi dám khẳng định với ngài linh mục Nguyễn văn K… rằng, bản chất của Cần không thay đổi, hắn chỉ lợi dụng lòng tin và lòng bác ái của ngài.

* *

*

Tổng thống Mỹ Richard Nixon dính líu vào vụ Watergate phải từ chức, tạo ra một cơ hội để Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam. Tháng 3 – 1975, chúng xé bỏ hiệp định Paris, mở đầu cuộc tấn công vào Buôn ma Thuột.

Cả tháng tư, tôi trải qua một cơn khủng hoảng về tinh thần như kẻ mất hồn. Nỗi băn khoăn, tia hy vọng nhỏ nhoi cho một nửa đất nước đến nay đã hoàn toàn bị dập tắt. Miền Nam đã rơi vào tay Cộng sản. Từ nay Sài gòn sống trong im lặng, không còn những cuộc biểu tình sôi động như xưa, nhưng không phải im lặng trong thanh bình, mà là im lìm, ngột ngạt dưới ách thống trị tàn bạo của Cộng sản. Những con chim họa mi Khánh Ly, Lệ Thu, Giao Linh… cũng từ nay ngừng hót trong các đài phát thanh và nhà hát ở các đô thị miền Nam. Thay vào đó là những bài ca cách mạng hừng hực chí căm thù và chiến thắng.

Trong lúc này, ông Nguyễn văn Thiệu ở hải ngoại, ông nghĩ gì về sự thất bại nhục nhã của quân đội chính phủ do ông làm tổng thống? Ai cũng biết, trước khi rời nhiệm sở, ông đã không tiếc lời nguyền rủa Mỹ đã bán đứng miền Nam cho Cộng sản. Nhưng sự sụp đổ của chính phủ Việt nam cộng hoà do nhiều nguyên nhân khác nữa, Mỹ bỏ cuộc chiến chỉ là điều kiện làm cho quân đội ông thất bại nhanh chóng mà thôi.

Ở miền Bắc, một đứa trẻ lên ba đã bi bô “bác Hồ kính yêu”, lên sáu tuổi đã biết căm thù “giặc Mỹ xâm lược”. Từ lũ trẻ ở trườn
g mẫu giáo đến các trường trung học, đại học, từ báo chí đài phát thanh đến văn học nghệ thuật, từ các tổ dân phố, xí nghiệp, nhà máy, công nông trường, bệnh viện, từ hải đảo xa xôi đến các vùng rừng núi hẻo lánh, ngày đêm họ không ngừng tuyên truyền bịp bợm và xuyên tạc. Người dân miền Bắc vốn đã không biết thế nào là nhân quyền, họ cam phận nghèo đói, mất tự do như một bản năng thì sự tuyên truyền của Cộng sản đã thấm vào máu thịt của nhiều người. Họ tin tưởng và sợ đảng hơn con chiên ngoan đạo kính chúa. Mấy ai trông thấy ma quỷ nhưng người nào cũng sợ, đó là truyền thuyết lâu đời. Người miền Bắc chưa một ngày sống dưới chế độ Tư bản nhưng qua sự tuyên truyền xảo quyệt, tinh vi, đổi trắng thay đen mấy chục năm, họ sợ chế độ Tư bản hơn sợ quỷ. Có người coi lính Mỹ ăn cả thịt người. Một bầu không khí chính trị bị đầu độc cực kỳ nghiêm trọng chưa từng thấy trong lịch sử.

Trong khi đó ở miền Nam, qua sự quảng cáo tuyệt vời, người dân coi chủ nghĩa Cộng sản là ước mơ của họ, là cái bánh thơm ngon, mới mẻ, đầy hấp dẫn hợp với khẩu vị tưởng tượng của họ hơn mọi loại bánh có từ trước đến nay.

Ngoài ra, nhiều người quan niệm rằng, cuộc chiến này giữa Mỹ và Cộng sản, không can dự và ảnh hưởng gì đến họ.

Nó làm cho guồng máy tâm lý chiến của ông vốn ngây thơ, ngờ nghệch trở nên vô hiệu. Nó dẫn chính phủ ông và chính phủ Hoa kỳ thất bại về mặt ngoại giao. Không kể đến thường dân và binh lính, ngay các tướng lĩnh và sĩ quan nhiều người không hoặc chưa hiểu được bản chất nham hiểm của Cộng sản. Một thầy thuốc không biết bệnh gì thì chữa làm sao cho khỏi bệnh? Một đoàn quân không biết bản chất và mưu đồ của kẻ thù thì làm sao có sự đồng tâm, hiệp lực để chiến đấu và chiến thắng? Cộng sản như bóng ma lúc hiện, lúc ẩn làm cho sức mạnh quân sự của Hoa kỳ giống như võ sĩ siêu nặng đấm vào bị bông hoặc đấm xuống nước, buộc người đồng minh Hoa kỳ phải bỏ cuộc chiến. Nếu chiến binh Việt nam cộng hoà chỉ hiểu một điều đơn giản là hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện, Cộng sản sẽ không tha tội, phải lần lượt vào các trại tập trung tẩy não, một điều đơn giản đó thôi, chắc chắn tình hình đã thay đổi. Không thể diễn ra một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh: hàng triệu quân được trang bị hiện đại không dám chống lại kẻ thù mà tháo chạy như vịt và đầu hàng. Nếu mọi trận chiến đấu đều như tử Xuân lộc do chuẩn tướng Lê minh Đảo chỉ huy thì Cộng sản không dễ dàng gì chiếm được miền Nam.

Một sự kiện nữa cũng cần nhắc tới, cái gọi là phong trào các đô thị miền nam nghĩa là những cuộc biểu tình chống chính phủ của nhân dân, sinh viên và tín đồ các giáo phái… Chắc ông hiểu rằng những hành động đó đều do Cộng sản tổ chức và xúi giục, khác với các cuộc biểu tình, bãi công phản đối vì mục đích kinh tế ở các nước Phương tây. Mặc dù người dân bị mê hoặc, tại sao ông để họ ủng hộ Cộng sản dễ dàng như diễu hành, dạo chơi mà không bị trừng phạt? Tại sao ông không ra lệnh nghênh tiếp những hành động đó bằng đại bác và súng máy? Đất nước đang có chiến tranh như võ sĩ lên võ đài, quyết định thắng bại phải do những nắm đấm, không thể áp dụng nền dân chủ kiểu phương tây trong giai đoạn đó.

Chưa kể đến thời kỳ 1955 – 1965, không biết đoàn kết lại để chống kẻ thù nguy hiểm, các phe phái chống nhau, nay đảo chính, mai lật đổ, tự mình làm suy yếu mình vì tranh giành địa vị. Trong giai đoạn này phải nói đến một sai lầm hết sức nghiêm trọng của ông Ngô đình Diệm về cái gọi là độc lập quốc gia. Nếu ông ta biết Hà nội chỉ là tay sai của phong trào Cộng sản quốc tế phát động chiến tranh nhằm Cộng sản hoá miền Nam thì tại sao ông lại không muốn sự hiện diện của quân đội đồng minh. Chính quyền của ông ta làm cách nào để chống lại cả phe Cộng sản?

Đồng minh lớn của chính quyền ông ta là Hoa kỳ, về chiến lược và chiến thuật, họ cũng mắc những sai lầm nghiêm trọng trong cuộc chiến ở cả hai miền.

Để xâm lược nam Triều tiên, không còn đường nào khác, quân đội của Kim nhật Thành phải tấn công qua vĩ tuyến 38. Còn cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng sản Bắc Việt nam vào miền Nam lại khác. Sau hiệp định Geneva, Cộng sản để lại những cán bộ nằm vùng, đưa quân đội theo đường mòn Hồ chí Minh, dùng Campuchia và Lào làm căn cứ địa để xâm nhập vào miền Nam, tạo cho chúng một công cụ tuyên truyền “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Tại sao quân đội Mỹ và đồng minh không vượt biên giới các nước đó để tiêu diệt kẻ thù ngay trong sào huyệt của chúng? Cuộc chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc, ngoài chiến lược sai lầm “leo thang từng bước” của tổng thống Johnson, nói chung biện pháp chiến tranh của Mỹ vẫn dè dặt, cầm chừng. Phải trả một giá rất đắt mà Mỹ không thực hiện được bao nhiêu trong mục đích làm rối loạn hậu phương của kẻ thù.

Tháng 4 –1975, thời gian Cộng sản tổng tấn công miền Nam là cơ hội Mỹ giành thắng lợi mau chóng nhất nếu họ tiếp tục tham chiến. Tại sao? Cộng sản vừa đánh vừa nghe ngóng sự phản ứng của Mỹ nên thời gian cưỡng chiếm miền Nam mới kéo dài gần hai tháng. Chúng lo sợ một sự kiện diễn ra giống như ở Triều tiên.

Từ năm 1965 đến năm 1972, Mỹ và đồng minh phải đi tìm và diệt quân chủ lực của kẻ thù trong rừng rậm không thu được mấy hiệu quả thì tháng 4–1975, chiến xa, thiết giáp và quân chủ lực của chúng đã xuất hiện phần lớn trong các đô thị miền Nam, Mỹ chỉ cần dùng hoả lực cực mạnh để bẻ gẫy xương sống của kẻ thù.

Đồng thời ở miền Bắc sự phòng thủ của Cộng sản rất yếu ớt vì đại bộ phận quân chính quy đã đưa vào Nam, còn lại chủ yếu là dân quân tự vệ. Xã hội miền Bắc từ năm 1974 không còn ổn định nữa. Nông dân bất mãn vì đời sống đói khổ trong các hợp tác xã nông nghiệp, nhất là giáo dân bị đàn áp thô bạo, đại đa số tu sĩ và con chiên ngoan đạo phải vào trại tập trung. Nhiều t
hanh niên khi bị bắt lính đã trốn tránh để ngồi tù. Ngay ở Hà nội, vấn đề an ninh không còn được giữ vững, nhà văn Nguyễn Khải viết một bài về thủ đô đăng trên báo nhân dân, đã phải thốt lên: “… Tôi đã trót nhận viết cho tờ báo đảng…”. Mặt khác, quan hệ Việt – Trung từ năm 1972 đã có nhiều mâu thuẫn, nhiều người Việt gốc Hoa phải đi tù, nhiều bài xã luận đăng trên báo nhân dân, quân đội nhân dân, Hà nội đã ám chỉ công kích Bắc kinh. Hơn nữa quan hệ Mỹ – Trung trong thời điểm đó đã được cải thiện. Trước thời cơ thuận lợi đó, tại sao Mỹ không chiếm một vùng đồng bằng sông Hồng, tạo điều kiện bắt Cộng sản phải triệt thoái hoàn toàn ở miền Nam. Nếu làm được như vậy, trong một thời gian ngắn với chi phí đổ thêm vào cuộc chiến không lớn, Mỹ trở thành kẻ chiến thắng.

Cũng phải nói thêm rằng, Mỹ bỏ miền Nam gây ra tâm trạng hoảng loạn trong quân đội của ông, dẫn đến thất bại vô cùng mau chóng và nhục nhã. Tôi không ngờ rằng, trong lúc miền Bắc rệu rã thì miền Nam lại nát bét hơn.

Phải bỏ miền Nam là nỗi nhục lớn nhất của Hoa kỳ trong hai trăm năm dựng nước. Nỗi nhục này còn kéo dài. Là một siêu cường về kinh tế và quân sự, bao nhiêu năm nữa Mỹ mới xoá được hội chứng Việt nam (Vietnam syndrom)

Khi Sài gòn sắp thất thủ, báo chí phương Tây đưa tin sẽ xảy ra cuộc tắm máu ở miền Nam. Qua đó tôi cho rằng, phương Tây chưa hiểu cách giết người tân kỳ của Cộng sản sau cải cách ruộng đất. Cộng sản chỉ tàn sát đẫm máu những người chống lại hoặc cản đường chúng còn đoàn quân bạc nhược, mất hết tinh thần, Cộng sản sẽ không gây ra cuộc tắm máu, chúng biến đoàn quân ấy thành bầy nô lệ làm ra của cải để không mang tiếng với thế giới là tàn bạo. Để máu của từng người lính, sĩ quan cộng hoà rỉ dần trong các vùng rừng núi, nếu có biến động gì, cho bầy nô lệ ấy lặng lẽ yên nghỉ trong rừng sâu rồi đổ lỗi cho bệnh tật là êm đẹp. Phương tây cần biết rằng, đối với thế giới, quỷ đỏ Việt nam luôn đóng vai những vị thánh sống giả nhân, giả nghĩa.

* *

*

Đầu tháng bảy năm ấy, chị Hoa và đứa con thứ hai của chị – cháu Biển đến thăm tôi. Đối với một người đa sầu đa cảm, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, cuộc đời triền miên bị đầy đoạ, mỗi lần được gặp người thân quả là một phần thưởng tinh thần vô giá. Tinh thần tôi đang suy sụp như đứng chơi vơi trong vũ trụ bao la không điểm tựa, việc đến thăm của chị và cháu mang lại cho tôi một nguồn sinh lực, một nguồn tình cảm. Tôi ghi nhận, đó là một công ơn. Tuy nhiên, tôi biết chị thương em không phải xuất phát từ lương tâm, ý thức bền vững “máu chảy ruột rà” mà theo cảm hứng xuất hiện một thời điểm nào đó rồi chợt tắt.

Cũng trong thời gian ấy, còn lại năm tù cách mạng, cai ngục chuyển sang toán chăn nuôi. Từ khi đó, chúng tôi đi làm không có vũ trang quản chế. Về toán này, tôi gặp lại Tạ Cung làm cùng toán xây dựng với tôi trên trại An Thịnh. Cuộc đời Cung là một chuỗi ngày đắng cay nối tiếp nhau. Năm 1951, Cung lên mười tuổi, cả nhà gồm bố mẹ, anh chị em bị một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn. Riêng Cung đến chơi nhà bà ngoại nên thoát chết. Năm sau, bà ngoại mắc bệnh qua đời, Cung phải sống nhờ gia đình cậu, anh bị mợ đối xử tàn nhẫn. Do vậy năm 1953, Cung lên Hà nội bán báo kiếm ăn, ngày làm việc, đêm ngủ nhờ hè phố. Năm 1955, Cung bị bắt vào Hoả lò và sau đó đưa đến trại giáo dưỡng. Lúc đầu, Cung xác định tuy mất tự do, đói khổ nhưng là chỗ dung thân trong giai đoạn anh chưa đến tuổi trưởng thành. Những năm tháng gian nan cầm cố cứ kéo dài ra mãi, ngoài hai mươi tuổi, Cung nhận thấy tương lai cuộc đời mờ mịt, anh chán chường, ù lì, cả ngày chẳng nói một lời. Quản giáo toán tên nào cũng ghét anh, bởi vì Cung chẳng muốn làm gì nữa. Vì lẽ đó, Cung đã nếm nhiều hình phạt khắc nghiệt của trại giam.

Một hôm cả buổi sáng Cung chỉ chơi, đến trưa tù về trại ăn cơm, riêng Cung, quản giáo giữ lại, bắt làm. Hắn nói:

– Anh muốn về trại ăn cơm phải bào cả buổi trưa nay.

Cung chẳng nói năng gì, quét cầu bào rồi nằm nghỉ. Tên quản giáo lồng lộn quát:

– Anh không chịu cải tạo, muốn vào xà lim à?

– Tội tôi không cải tạo được. Đời thuở nào lại có tội vô gia cư? Tội ấy phải tù đến bao giờ? Còn xà lim, ông đừng doạ, tôi cũng quen rồi. Nếu bây giờ ông ra lệnh phải vào xà lim, tôi xin chấp hành ngay. Trưa nay ông không cho tôi về trại ăn cơm cũng chẳng can gì, để tối hoặc ngày mai ăn cũng được. Đôi khi muốn có một bữa no, tôi phải nhịn ăn hai ngày liền.

Tên quản giáo này mới bước vào nghề làm cai ngục. Những buổi trưa, hắn phải ra rừng, đứng trước cây chuối, tay chỉ trỏ, miệng la hét. Hắn coi cây chuối là đối tượng của mình để tập sự. Trưa hôm ấy, trước thái độ cứng rắn của Cung dồn hắn đến chỗ phải nhượng bộ:

– Hôm nay tôi tạm tha anh, cho về trại.

– Tôi xin ông, đã hơn một chục năm, chẳng khi nào về mùa hè tôi được nằm mát buổi trưa thế này, ông cho tôi nghỉ ở đây đến chiều làm luôn.

Tên quản giáo và Cung lời qua, tiếng lại mãi, anh mới về trại.

Sau mười lăm năm tù, Cung được tha ra nông trường làm việc. Cuộc sống mới đối với Cung cũng chỉ là đám mây đen. Người cùng làm việc luôn mạt sát, chế giễu anh là thằng lưu manh. Cung làm đơn gửi ban giám đốc nông trường xin giải quyết nhưng không ai chú ý đến lời kêu cứu của một đứa dân đen. Cuối cùng, để bảo vệ thể diện, Cung đã đánh nhau. Ở nông trường được sáu tháng, Cung lại vào tù với tội danh chưa chịu cải tạo thói xấu, gây rối trị an.

Cung nói với Cần:

– Anh đã hai mươi năm tù, tô
i có kém gì anh! Tôi phạm tội vô gia cư, anh đáng tội hơn tôi là xỏ nhầm giầy. Đã đi rồi còn quay lại để đâm đầu vào hang sói, như thế anh còn mắc tội ngu. Trong nhà tù, anh hoá thành thằng hèn, từ hèn dẫn đến tâm hồn lưu manh hoá, bất nhân.

– Cậu cứ bảo tớ là một thằng tướng cướp cũng được – Cần nói.

– Thế thì đề cao anh quá. Anh làm gì được cái vinh hạnh mang danh một tên tướng cướp. Bởi vì tướng cướp chỉ tàn bạo và gây tội ác chứ nó không hèn.

Tôi hỏi Cung:

– Anh có biết chuyện thằng Đồng và thằng Chí thế nào không?

– Tôi biết rõ – Cung trả lời.

– Nghe thằng Thưởng ở giáo dưỡng bên An Thịnh, nó bảo chuyện đó li kỳ lắm phải không?

– Với xã hội hiện nay thì chuyện đó cũng thường thôi. Tôi kể qua cho anh nghe nhé. Một ông giám đốc có tên là Tình, vợ chết sớm, lấy một người vợ kế vừa trẻ vừa đẹp. Hai đứa con riêng của ông ấy là Đồng và Chí hơn kém nhau một tuổi, hai đứa đều là đảng viên và cán bộ, cưới vợ cùng một năm. Thành ra, ba bố con có vợ sàn sàn nhau. Hai cô con dâu tham tiền, chài và làm tình với bố chồng. Còn dì ghẻ lại thèm của lạ với thanh niên nên làm tình với hai con riêng của chồng. Khi sự việc vỡ lở, ông Tình có quyền chức cao hơn, đưa hai con trai đi tù với tội cưỡng dâm dì ghẻ. Hai đứa trong tù lúc đầu thân nhau lắm, sau một thời gian hai đứa cùng nhận được thư của vợ đòi li dị và tố cáo lẫn nhau: anh là nhân tình của vợ em và ngược lại. Từ đó hai đứa cắn xé nhau khốc liệt. Em chém anh gẫy một dẻ xương sườn. Khi anh điều trị lành lại chém vào tay em. Đồng và Chí còn nói, khi được về sẽ hỏi tội bố theo luật giang hồ. Tóm lại, đó là một gia đình loạn luân theo cách quần hôn thời nguyên thuỷ và trở nên cảnh phụ tử, huynh đệ tương tàn. Xã hội này vẫn còn chán vạn chuyện ghê tởm hơn nhiều, tuy nhiên chuyện này thể hiện đầy đủ tính cách của tình đồng chí, hợp với vần thơ của ông Tố Hữu: “Rồi mai đây tất cả sẽ là chung”

Ngừng vài giây, Cung tỏ vẻ buồn rầu nói tiếp:

– Tôi biết bên các anh có ác cảm hoặc thành kiến với những tù nhân mang số chẵn, cho rằng họ không còn nhân phẩm nữa. Đành rằng ý nghĩ đó không sai, bởi vì những tội phạm giết người, cướp của, hiếp dâm, lừa đảo, trộm cắp… đều mang số chẵn. Nhưng các anh có hiểu rằng những số phận bất hạnh nhất của xã hội này cũng là những người mang số chẵn hay không? Như tôi chẳng hạn, chiến tranh đã cướp đi tính mạng của những thân nhân trong gia đình, tôi trở thành đứa con côi cút không nơi nương tựa, không được học hành, ngày kiếm sống ở đầu đường, xó chợ, đêm trú ngụ tại hè phố, gầm cầu. Từ cảnh đau thương cơ nhục ấy là cái tội dẫn tôi đến cuộc sống tù đầy đã hai chục năm và không biết còn tiếp diễn đến bao giờ? Ấy thế mà tôi còn một điều may mắn anh Tâm ạ. Điều may đó là tôi vẫn còn tỉnh táo để cảm nhận nỗi đau của mình và những người đồng cảnh. Bi thương hơn cả là những người đã, đang chịu nỗi đau, cơ nhục mà không còn cảm nhận gì ngoài những bản năng của một sinh vật để tồn tại. Anh còn nhớ thằng Hiệu ở trại An Thịnh không?

– Còn nhớ chứ – Tôi trả lời.

– Tôi chắc nhiều người biết và nhớ thằng mắc bệnh tâm thần ấy nhưng nguyên nhân nào đã xô đẩy nó đến cuộc sống man dại, mất vệ sinh có thể hơn cả người nguyên thuỷ thì ít ai tường. Tôi cũng kể qua về nó cho anh nghe nhé.

Bố mẹ thằng Hiệu khi lấy nhau rất nghèo, ngoài gian nhà tranh vách đất, không có một tấc đất cắm dùi. Được cả vợ lẫn chồng đều tham công, tiếc việc, thức khuya, dậy sớm, ăn sẻn để dành. Cả đời bố mẹ nó không dám bỏ tiền ra ăn một bát phở, thậm chí khi đi chợ mua sắm một thứ gì, có khát nước cũng không dám uống một bát chè tươi. Thị trấn Đức thọ cách nhà nó không xa mà bố mẹ nó chưa bao giờ đến vì sợ mất thì giờ làm việc. Nhờ vậy mà bố mẹ Hiệu xây được một ngôi nhà ngói và mua được một mẫu ruộng. Ngược lại, có một cặp vợ chồng được thừa hưởng một tài sản của ông cha rất khá: nhà cao, cửa rộng, vườn trên, ao dưới, tư điền vài ba mẫu. Nhưng cặp vợ chồng này chỉ muốn ăn ngon, lười biếng, bán dần tài sản để tiêu xài. Đến năm 1953 chỉ còn lại một túp lều tranh, vách nát. Thật trớ trêu vì thiên hạ đổi đời, hồi cải cách gia đình này thuộc thành phần cơ bản cố nông và cả hai vợ chồng đều là cốt cán. Còn gia đình thằng Hiệu bị quy lên địa chủ, tài sản bị trưng thu, đội chỉ cho lại gia đình nó một gian nhà tranh, tường đất trước kia vừa là bếp, vừa là chuồng lợn. Ngôi nhà ngói chia cho hai gia đình cố nông, trong đó có cặp vợ chồng ăn hoang, lười biếng ấy. Thằng Chí là đứa con của chúng, nhiều tuổi và lớn hơn thằng Hiệu. Khi dọn nhà đến ở một ngày, Chí quát bảo Hiệu:

– Hiệu! Từ nay, mỗi lần thấy tao, mày phải nói, chào ông nông dân ạ.

Không chịu nổi, Hiệu phản ứng lại:

– Mày còn trẻ con như tao, việc gì tao phải chào mày?

Thế là Chí chạy lại đánh Hiệu hộc máu mồm, máu mũi ra. Hiệu chạy vào nhà, bố mẹ nó khóc và khuyên:

– Con hãy gắng chịu, lúc này nó đánh con chết cũng được nữa là…

Hiệu chạy sang nhà nhà Chí, nói với bố mẹ thằng này, cả hai đều mắng, đuổi Hiệu về. Một sự ngẫu trùng quái ác: bố Chí tên là Hồ. Bực quá, Hiệu chạy ra sân chửi lại. Nếu chửi riêng rẽ từng người một thì không nguy hiểm mấy. Khốn nỗi, tên vị cha già dân tộc từ trẻ thơ đến người lớn cũng thuộc lòng như một phản xạ vô điều kiện, thằng Hiệu vô ý buột mồm ra:

– Cả lũ Hồ chí Minh mất dậy!

Lão Hồ chạy ra tóm cổ Hiệu dập đầu
xuống sân gạch, Hiệu bị ngất lịm. Bố mẹ nó từ trong nhà nhìn ra vừa khóc vừa van xin. Ngay khi đó, có một cán bộ đội đến, Lão Hồ kể lại sự việc, tên cán bộ nói:

– Đây là hành động chống phá cải cách, lăng mạ lãnh tụ của địch, đồng chí bắt ngay tên Hiệu giam lại.

Theo lệnh, lão Hồ xách Hiệu ra trụ sở đội trói gò cánh khuỷu lại trong lúc Hiệu vẫn hôn mê. Từ chiều đến tối, Hiệu tỉnh lại thì tên đội trưởng quát:

– Mày phải nhận tên Trù (bố Hiệu) đã xúi giục mày chửi bác, chống phá chính sách cải cách của đảng.

Hiệu một mực van xin:

– Thưa ông đội, không ai xúi con cả, con vô ý nói thế thôi, con lạy đội tha cho.

Tên đội trưởng ra lệnh trói Hiệu treo lủng lẳng trên xó nhà suốt đêm. Sáng hôm sau, bố Hiệu bị bắt, bị bức cung bằng nhiều biện pháp tra tấn dã man liên tục, không cho ăn uống gì, sau ba ngày ông tắt thở thì đội tha Hiệu. Nó mắc bệnh tâm thần từ đó. Trước cảnh đau thương ấy, mẹ Hiệu thắt cổ tự tử. Và cũng từ dạo đó Hiệu đi lang thang. Lúc đầu nó đi sang các làng bên, may có nhiều giáo dân thương người, cho nó ăn uống tử tế. Bệnh tâm thần mỗi ngày một nặng thêm, dần dà Hiệu đi không biết đường về nữa, nó cứ đi, đi mãi. Khi đói, Hiệu nhặt mọi thứ ăn được cho vào mồm: rau sống, quả xanh, ngô khoai sống, ếch nhái v v… Khi khát, vớ được nước gì Hiệu cũng uống: sông, hồ, ao, rãnh, vũng trâu tắm… Khi mệt Hiệu ngủ và vạ vật bất cứ chỗ nào: vệ đường, dưới gốc cây, bụi rậm…

Một xã hội thối nát nhưng luôn được tô son, trát phấn bề ngoài, ai cho phép Hiệu sống lang thang man dại làm ảnh hưởng đến cảnh quan mỹ miều của xã hội này? Tất nhiên những người như Hiệu phải tập trung lại một nơi với cái tên đượm lòng từ thiện: “trại giáo dưỡng”. Trời đất hỡi, chỉ có chúng tôi và may ra thượng đế mới thấu hiểu nơi gọi là giáo dưỡng con người ấy cũng tàn bạo và man rợ đến nhường nào, cũng giống như mọi nhà tù hà khắc khác không hơn, không kém.

Anh thử nghĩ xem, những cuộc hành quyết người tập thể của Staline hay lò thiêu người của Hiller tuy khủng khiếp nhưng không bi thảm như cuộc đời thằng Hiệu. Nếu cứ ngồi mà kể lại những truyện đau thương, ghê tởm của thời đại, và trường thọ đến hai ba trăm cũng không sao kể xiết.

Cung hỏi thêm:

– Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, có toà án Luxemberg xét xử những tên tội phạm, liệu sau này có toà án xử lũ vô thần đã gây thảm hoạ cho dân tộc mấy chục năm qua không?

Tôi trả lời:

– Chiến tranh thứ hai kéo dài sáu năm làm khoảng sáu mươi triệu người thiệt mạng. Còn chủ nghĩa Cộng sản sinh ra và tồn tại hơn nửa thế kỷ qua làm khoảng một phần ba nhân loại lầm than, cơ cực, hàng trăm triệu người thiệt mạng hoặc bị tù đầy nghiệt ngã. Chẳng những thế, nếp sống đạo đức, văn hoá của nhiều dân tộc bị suy đồi và đảo lộn. Phát xít và Cộng sản là hai anh em ruột của loài quỷ sứ. Phát xít gây tội ác bằng những cuộc chiến tranh đẫm máu với nước khác, bộ mặt tàn bạo của chúng sớm bị lộ nguyên hình, nên nhân loại hiệp sức lại tiêu diệt chúng. Còn Cộng sản với cái gọi là đấu tranh giai cấp chúng chỉ gây tội ác với người cùng dân tộc, cùng quốc gia. Tội ác của chúng lại được ngụy trang bằng guồng máy tuyên truyền bịp bợm khổng lồ, trong đó chúng vẽ ra một viễn cảnh huy hoàng, cái thiên đường trên cõi thế, làm cho quảng đại quần chúng của những nước lạc hậu vừa cuồng tín, vừa hoảng sợ, không phân biệt được giữa chân lý và sai lầm, giữa cái ác và cái thiện, tạo cho chúng một cơ hội trường tồn gấp nhiều lần phát xít. Tôi cho rằng, mai sau để chứng minh công lý thắng bạo tàn, nhân loại phải thành lập một toà án xét xử những kẻ đã gây ra tội ác khủng khiếp nhất trong lịch sử. Chúng ta cứ tạm đặt tên là toà án quốc tế Kremly.

– Sau này sự kiện ấy diễn ra, nếu mình còn sống, anh có ước vọng gì? – Cung hỏi.

– Tổ quốc mình máu đã nhuộm đỏ đất, tôi không muốn cảnh máu chảy, đầu rơi thêm nữa. Tôi hằng mong ước con người hãy khu xử với nhau bằng lòng khoan dung, độ lượng, gạt bỏ mọi oán thù. Bởi vì dùng một biện pháp tàn bạo để thanh toán một thế lực bạo tàn khi nó đã suy tàn không phải là cái đẹp của nhân bản trong một xã hội văn minh.

Trong toán chăn nuôi có mười hai người đi làm tự giác, hai người phạm tội tham ô, ở tù đã lâu, được giảm án sắp về.

Một người phạm tội giết người – Anh Trương văn Hội tuổi khoảng bốn mươi. Sáu tháng trước, anh còn là một đại uý bộ đội hậu cần. Một hôm anh đi công tác về khuya, đến nhà lúc một giờ đêm. Đèn vẫn sáng, vợ anh chưa đi ngủ, tóc rối tung, quần áo tả tơi, đang ngồi khóc tấm tức. Anh hỏi vợ đến lần thứ ba, vợ anh mới trả lời, chị vừa khóc, vừa kể lại: Trên đường đi làm về, em đến chợ xanh thì mưa nặng hạt, đường vắng ngắt, không ai qua lại. Ngược chiều, một lũ trẻ tuổi khoảng mười bảy, mười tám, chúng chặn em lại cướp giật xe và kéo em vào quán nước vắng chủ, tối tăm. Chúng trói em lại và nhét giẻ vào mồm rồi thay phiên nhau hiếp. Đứa thứ sáu, có lẽ vừa đến, em nhận ra tiếng nó:

– Trâu chậm uống nước đục, chúng mày cho tao cái xái năm vậy. Đúng là thằng Sơn, nhục quá anh ơi, đúng là con mình rồi. Em cố hết sức, cựa tuột dây trói và cào vào mặt nó. Hành động xong, chúng bỏ đi, một mình em thất thểu đi bộ về nhà.

Nghe vợ kể lại, ông đại uý run lên như lên cơn sốt. Ông định đi tìm con thì thằng Sơn dẫn xác về nhà, vết cào của mẹ trên mặt máu còn dính. Anh trói con vào song cửa, đóng vai quan toà:

– Mày biết mẹ mày tối nay thế nào không?

– Thưa bố, con không biết.

Anh bắt con cung khai hết tội của đồng bọn, anh ghi lại ra trình đồn và tuyên bố:

– Các đồng chí đi bắt ngay dồng bọn, còn thằng Sơn, tôi tự xử.

Về nhà mặc những lời van xin của vợ, đứng trước mặt con, anh tuyên phạt con án tử hình và bắn hai viên đạn súng ngắn vào thái dương con. Anh bị toà án phạt mười năm tù.

Người thứ hai, phạm tội làm nhục cô giáo đang giờ lên lớp – Nguyễn văn Lợi, mười bảy tuổi. Được nuồng chiều, Lợi ăn chơi lêu lổng. Cậy bố có quyền hành, Lợi chẳng coi ai ra gì. Có lần hắn hiếp một bé gái mười ba tuổi, nhiều người biết, bố mẹ em phẫn uất, muốn làm đơn tố cáo nhưng sợ đùa với lửa chẳng ai dám làm nhân chứng.

Lợi đang học lớp mười. Một cô giáo toán mới chuyển về trường, ngoài hai mươi tuổi, rất xinh. Lợi cùng bọn mất dạy bàn chuyện gẫu:

– Cô giáo đẹp, chắc cái ấy của cô cũng hấp dẫn lắm đấy?

– Nếu được nhìn thấy, nhịn ăn một tuần để tưởng tượng cũng không thấy đói.

– Chúng mày có thách tao không? – Lợi nói – Tao sẽ cho cả lớp xem, chỉ một chầu bia thôi.

– Chúng tao đố mày đấy.

– Xin cam đoan – Lợi bắt tay đồng bọn nhận lời thách thức.

Đến tiết toán, có một bài phương trình lượng giác, Lợi xung phong lên bảng giải. Cô giáo mỉm cười nói:

– Hôm nay, Lợi tiến bộ nhỉ, thật lạ lùng!

Nhưng công thức lượng giác không nhớ, Lợi lúng túng, mặt cứ nghệt ra làm cả lớp cười ầm lên. Cô giáo quay bảo học sinh trật tự thì bất ngờ Lợi móc tay vào cạp quần cô giáo kéo mạnh làm cả quần ngoài và quần lót của cô tụt xuống quá đầu gối, cô vội ngồi xuống nền nhà và hô hoán. Trước công luận của một trường trung học, Lợi bị bắt và xử mười tám tháng tù.

Đấy mới là con ông thiếu tá công an, các quan cách mạng, quyền chức càng cao, chẳng những bản thân mà con cái cũng tha hồ sống vô kỷ cương, tung hoành ngoài vòng pháp luật. Tôi được biết, đại đa số con cái các ông to đều sống ngoài kỷ cương như vậy mà cảnh sát, công cụ của nền chuyên chính cũng đành phải bó tay.

Còn lại tám người mắc tội hiếp dâm, tôi kể qua vài ba tội phạm.

Hà mạnh Tước ngoài năm mươi tuổi. Cuối năm 1974, Tước còn là trưởng phòng cấp bộ: vợ Tước ở quê cùng ba con gái lớn: hai mươi hai, hai mươi và mười tám tuổi, chưa ai có chồng nhưng đều có người yêu. Bà vợ nghe nhiều lời đồn đại về hiện tượng dâm ô của đức ông chồng, bảo con gái cả lên hầu hạ bố, đồng thời giám sát hành vi bất lương của Tước. Hắn nói với con:

– Mày lên đây sống với tao là thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn, được ở giữa thủ đô văn minh, tràn đầy ánh sáng. Chẳng những thế, mày không phải con một thường dân, mày sẽ có một tương lai huy hoàng với một thằng chồng là cán bộ. Nếu đã trót yêu thằng nào ở quê hãy cắt đứt ngay, mày vương vấn gì với cái xứ quê nhọc nhằn, khổ sở. Sau khi làm công tác tư tưởng, con gái hắn khấp khởi mừng thầm thì Tước cưỡng bức con làm tình với hắn như một cặp vợ chồng. Đến khi con gái có mang, Tước vội gả con cho một nhân viên cùng phòng. Tuy nhiên, ai được là rể ông trưởng phòng cấp bộ là một điều vinh hạnh.

Đứa con gái thứ hai cũng diễn ra tương tự nhưng đến đứa thứ ba trung thành với người yêu, chống lại quyết liệt trò loạn luân của bố. Cô ta tường thuật lại đầu đuôi với mẹ, hai chị biết chuyện em cũng than phiền tình cảnh của mình. Vợ Tước nổi cơn tam bành, làm đơn tố cáo chồng với cơ quan của Tước. Cơ quan chỉ kiểm điểm Tước. Nhiều ý kiến cho rằng: “Đồng chí Tước tận trung với đảng, một tấm gương sáng của cơ quan về đạo đức cách mạng, không thể vì những sai sót trong gia đình mà phủ nhận công lao của đồng chí”. Nhưng bà vợ có người anh họ chức quyền cao hơn Tước, đã tố cáo tội loạn luân của hắn trước cơ quan pháp luật. Tước phải đứng trước vành móng ngựa nhận tội. Tuy nhiên, vì có công cách mạng nên Tước chỉ bị phạt một năm tù.

Trương hữu Chung, ngoài hai mươi tuổi, người ở thành phố Hải phòng. Chung có một chị và ba em gái tuổi san sát nhau. Là đứa con trai độc nhất, Chung được bố mẹ nuông chiều quá đáng. Chị và các em Chung đều sợ gã như sợ cọp. Chung lần lượt cưỡng hiếp các em nhiều lần. Chị đã có chồng, Chung cũng không tha, gã nói:

– Rất tiếc trước khi chị đi lấy chồng, tôi còn khờ dại, nếu lớn như hiện nay, tôi phải dùng trước.

Đầu năm 1974, Chung lên đường nhập ngũ. Khi vắng Chung, chị và các em gã mới dám tỉ tê than thở cùng bố mẹ. Sáu tháng sau, Chung được nghỉ phép về nhà chuẩn bị vào Nam chiến đấu. Vì sợ ảnh hưởng đến lý lịch của con, bố gã chỉ vỗ vai bảo nhỏ

– Vừa qua ở nhà, mày mất dạy lắm, chị và các em làm tuốt.

Chung ngang nhiên phản đối:

– Ông cổ hủ, quê mùa lắm, đẻ ra không dùng trước thì tôi phải dùng thay ông chứ còn gì nữa?

Nghe con nói trắng trợn, ông bố nổi giận lôi đình liền lấy gậy đánh Chung. Bằng mấy miếng đặc công vừa học được, gã phản công lại bố. Bố gã bị ngã phải đi bệnh viện. Ba em gái phẫn uất với người anh vừa loạn luân, vừa hỗn láo, làm đơn tố cáo.

Khi ra toà, Chung được giấy của đơn vị bộ đội gửi đến, viết: “… Anh Chung có ý thức học tập và rèn luyện tốt. Chúng tôi cho rằng, sai sót của anh Chung trong phạm vi sinh hoạt gia đình. Vậy đề nghị toà
chiếu cố, không vì một lỗi lầm nhỏ mà sự nghiệp cách mạng mất một chiến sĩ dũng cảm…”. Toà phạt Chung mười tám tháng tù.

Vũ đình Quản, hai mươi tuổi, dáng người thanh nhã, trắng trẻo, đẹp trai. Năm ngoái, gã còn là sinh viên năm thứ ba. Quản có một người dì ở Hà nội nên thường vào ngày chủ nhật, gã đến nhà dì chơi. Vì gia đình nghèo nên gã còn nhờ dì giúp đỡ để vượt qua những thiếu thốn ở trường đại học.

Dì Quản gần ba mươi tuổi, trước đi xung phong chống Mỹ, sau ba năm được về Hà nội làm kế toán một tổng công ty. Từ một cô gái nông thôn nghèo khổ, nay được sống ở thủ đô, dì ước mơ thoát khỏi cái lốt quê mùa, đua đòi, ăn diện để phô với làng xóm, quê hương. Nhưng tiến lương có hạn, dì phải tính sao đây? Dì không đẹp nhưng có duyên thầm, cặp mắt lẳng lơ. Để thực hiện ước mơ, dì tấn công ông phó tổng giám đốc bằng những làn sóng tình cực mạnh. Ông phó tổng giám đốc cũng xuất thân từ một nông dân, tham gia cách mạng từ thời kỳ chống Pháp. Nhiều năm được học tập và rèn luyện, ông vẫn trong vòng luẩn quẩn đần độn, kém phần nhạy cảm.

Tuy vậy, ông cũng nhanh chóng nhận được tín hiệu phát ra từ trái tim em. Nghĩ đến người chung chăn gối vừa già, vừa quá quê mùa, lòng ông xót xa ngao ngán. Ông quyết tâm làm cuộc cách mạng của cuộc đời mình và đáp lại tiếng gọi của tình yêu. Vì thế, ông tìm cách li dị vợ và lấy dì Quản.

Sau khi những ham muốn về tiền tài, ăn diện, nhà cao cửa rộng được mãn nguyện, dì lại nảy sinh bệnh đói về tình dục do đức ông chồng ngoài ngũ tuần không còn đủ sức đáp ứng cho thoả mãn. Nguy hiểm hơn nữa, dì thèm khát trò chơi lạ – cái sinh lực mãnh liệt của tuổi thanh xuân. Dì muốn đi ăn vụng ngoài nhà sợ lộ, dì dùng bí quyết “đóng cửa trong nhà bảo nhau”. Thế là Quản trở thành con mồi hấp dẫn của dì.

Khi ông chồng đi công tác vắng nhà, dì nói mở đầu với Quản:

– Anh tưởng tôi sung sướng lắm phải không? Được sống trên nhung lụa mới là một mặt, còn mặt khác là tình yêu tôi thua kém nhiều người.

Tưởng câu nói bình thường, Quản phân bua:

– Dì ạ, đời người có mấy ai được toàn vẹn, được mặt này, mất mặt khác.

– Nếu anh có thiện chí sẽ bù đắp cho tôi được một phần, xin anh hãy vì tôi mà giảm bớt sự thua kém ấy.

Quản còn ngơ ngác thì dì đóng cửa lại, cởi hết quần áo mình đến ôm lấy Quản, năn nỉ:

– Có gì đâu, anh vì tôi thế này thôi, anh cũng chẳng mất gì mà cả hai ta đều…

Không đủ lí trí để cưỡng lại thú tính, Quản ngoan ngoãn làm tình với dì. Từ hôm đó, không còn nhớ đến luân lý, đôi trai gái ấy trở thành cặp tình nhân vụng trộm, không được toà án lương tâm công nhận, lẽ dĩ nhiên cái trò ăn vụng bao giờ cũng hấp dẫn hơn sự bình thường. Theo yêu cầu của “em”, những ngày đức ông chồng đi vắng, sau giờ học “anh” phải có mặt để cùng truy hoan những trận mây mưa cuồng loạn với chu kỳ ngắn nhất, có vầng dương lẫn chị Hằng chứng giám. Rồi đến một buổi chiều thu ảm đạm, lất phất mưa rơi, cuộc hoan hỉ bướm hoa tưởng chừng đã kết thúc nhưng “em” vẫn ghì chặt lấy “anh” mơ màng hưởng lạc. Đột ngột đức ông chồng đẩy cửa vào nhà, phản ứng vô cùng mau lẹ, dì hất Quản ra và kêu to:

– Ối trời đất ơi, nó cưỡng hiếp tôi, nó cưỡng hiếp tôi! Anh ơi may quá, anh đã về kịp thời để bắt thằng loạn luân này.

Đức ông chồng tưởng vợ thật lòng, gọi công an bắt Quản. Ông quá yêu vợ, lại đần độn không phân biệt nổi trắng đen đứng về phía gian dâm buộc tội Quản. Rốt cuộc, Quản phải lĩnh án năm năm tù, đời gã cũng bắt đầu ảm đạm như chiều thu ấy.

Những phạm nhân như trên được ưu tiên, được tin dùng trong trại. Ngoài việc chăn nuôi tự giác, họ còn được làm trật tự, văn hoá trại, cấp dưỡng hoặc các toán trưởng tù hình sự. Những tấm gương cải tạo tốt cũng được lựa chọn trong số họ.

Tôi nhớ lời anh Phạm ngọc Đồng người Huế năm 1967 tại trại An Thịnh:

“Cô đầu, nhà thổ là một thực trạng xấu nhưng lại là nhu cầu của một xã hội chưa có nền văn minh cao. Trong chế độ phong kiến, con người nhất là phụ nữ bị ràng buộc khắt khe bởi lễ giáo Khổng mạnh, vậy mà các lầu xanh vẫn tồn tại. Còn xã hội hiện nay, về đạo đức, ngoài lòng tin tuyệt đối vào đảng và lòng căm thù… Không còn một tiêu chuẩn nào ràng buộc con người. Mặt khác, họ ca ngợi chủ nghĩa khoái lạc của Epicure, cộng thêm với sự khủng hoảng nghiêm trọng từ thời kỳ cải cách ruộng đất, con người được tự do hành động phi đạo lý mà không có toà án lương tâm xét xử. Trong khi đó, nhà nước lại ngăn cấm cô đầu, nhà thổ, một trong những nguyên nhân tạo ra những tội ác kì quái, hiếm có trong xã hội loài người…”

Một xã hội âm u xám xịt với vô số sự kiện vô luân lý, thế mà đài phát thanh, báo chí thường ca ngợi: “Thời đại ra ngõ gặp anh hùng”. Mai sau những nhà sử học, những nhà văn chân chính phải sửa lại là: thời đại ra ngõ gặp kẻ phạm tội. Cũng cần phải nói thêm rằng, một dân tộc có nhiều anh hùng thì dân tộc đó thường đê hèn, với đau thương và tàn phá của chiến tranh; anh hùng thường xuất hiện từ máu và nước mắt cũng như “nhất tướng công thành vạn cốt khô”.

Mời các bạn đón đọc phần tiếp theo: HỒI BỐN – Ngày về

Tháng Bảy 19, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Nhà tù CỘNG SẢN

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: