Eventfulday's Blog

Kỳ 24 – NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 4

NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people

NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 4

Mùa thu chậm chạp đến xua vợi cái nắng nóng quái ác của mùa hè. Tôi đang tận dụng mọi cơ hội thời gian để viết cho xong tập hồi ký với những nét đại cương, sơ lược. Tôi muốn khai thác hết nỗi ưu tư về những biến cố của cuộc đời mình và xã hội, muốn sửa lại lời văn cho bớt phần thô thiển và lủng củng nhưng hoàn cảnh khắc nghiệt đâu có ủng hộ tôi. Khi tôi viết, tâm hồn tôi bị chia đôi, một nửa làm tên lính gác đề phòng tai hoạ đến, một nửa gửi về dĩ vãng xa xăm. Trước mặt tôi, ngoài những tờ giấy trắng và vài tờ giấy viết tiếng Anh, không có một tài liệu nào cần thiết cho công việc thì làm sao tôi tránh khỏi những sai lầm.

Một buổi sáng đầu tháng chín mây đen bao phủ, mưa nặng hạt. Trên một tờ giấy trắng, tôi viết: Tiếng hát ru thân quen ngọt ngào, âu yếm vẫn văng vẳng bên tai…

Bỗng tên công an hộ tịch đi thẳng vào chỗ tôi, mặt hắn nghiêm nghị khác thường, có lẽ cấp trên đã cho hắn biết rõ về tôi, hắn hỏi:

– Hôm nay, anh nghỉ à?

– Vâng, nhỡ việc tôi nghỉ mấy ngày rồi.

– Anh đang viết gì đấy?

– Tôi ôn lại tiếng Anh.

– Anh đưa tôi xem.

Tôi đưa cả mấy tờ giấy viết cho hắn. Đọc tờ giấy có câu tiếng Việt vừa viết, hắn hỏi tôi:

– Anh định viết gì mà có câu này?

– À, tôi tập dịch ra tiếng Anh ấy mà.

– Những tờ giấy tiếng Anh còn đâu nữa?

– Tôi viết để ôn lại cho nhớ rồi biến thành giấy loại.

– Nghe nói, ngày nào anh cũng viết, không biết để làm gì?

– Tôi chỉ ôn lại tiếng Anh thôi.

– Anh làm việc gì trước sau chúng tôi cũng biết. Anh chớ nên dùng vải thưa che mắt thánh – Hắn hù doạ, mắt hắn nhìn thẳng vào mặt tôi để uy hiếp tinh thần.

– Xin cam đoan với anh rằng, tôi không bao giờ làm việc gì có hại cho tổ quốc và dân tộc.

– Thôi được… Nói xong, hắn bỏ đi.

Ngày sau đó, tôi viết tiếp mấy chục dòng nữa để kết thúc tập hồi ký đến ngày tôi được ra tù.

Sáng hôm sau, tên công an hộ tịch lại đến, tôi đi làm, hắn hỏi chị Hoa:

– Anh Tâm đâu rồi?

– Em nó đi làm rồi.

– Anh ấy vẫn học hành chứ?

– Em nó học gì đâu. Nghe nó nói, chỉ ôn lại tiếng Anh cho đỡ buồn thôi.

Mấy ngày sau, một cô gái trẻ và đẹp ăn mặc lịch sự đến hỏi chị Hoa:

– Bác cho cháu hỏi thăm có phải anh Tâm ở đây không?

– Vâng! – Chị trả lời – Chị hỏi gì em nó?

– Cháu ở sở đến thăm anh ấy thôi. Nghe nói, gần đây anh Tâm say mê học lắm?

– Sở cho cháu biết, anh ấy thường xuyên viết lách gì đó?

– À, nó học mót được mấy tiếng Anh, đôi khi viết để ôn lại. Có thế thôi.

Chị Hoa kể lại và nói thêm:

– Cậu đừng làm gì đấy nhé! Nguy hiểm cho cậu đã đành, gia đình này cũng không tránh khỏi tai vạ, rắc rối.

– Từ nay em không viết nữa – Tôi trả lời chị và suy nghĩ có thể chúng đã nghi ngờ tôi, cũng có thể chúng răn đe mà thôi.

Tốt hơn cả, để đề phòng rủi ro, tôi quyết định ngay ngày hôm sau đi tàu đến Bắc giang gửi hồi ký bố Khoa, nhân thể thăm ông.

Ba giờ sáng tôi dậy, cho hồi ký và một bộ quần áo vào túi xách. Tôi đi bộ qua phố Khâm thiên, vừa đến đường tàu hoả đầu phố, một gã thanh niên phía sau chạy lại giật túi xách trên tay tôi và tiếp tục chạy về phía ga hàng Cỏ. Tôi toan kêu lên nhưng chợt nhớ ra, mình mang hàng quốc cấm nguy hiểm nên chỉ lẽo đẽo đuổi theo gã, van xin:

– Anh ơi, cho tôi xin lại, trong túi chẳng có gì đáng tiền đâu.

Tôi chạy đến đường Nam bộ nhìn theo nhưng tông tích gã đã mất hút trong màn đêm dưới ánh điện mờ. Lúc đó tôi hoảng hốt như cơn mê sảng. Theo đường Nam bộ, cứ thế tôi đi, không biết mình đi đâu nữa. “Chắc chắn phen này nhận bản án tử hình trong rừng thẳm, số phận ta sẽ giống như cái chết của nhiều người ở công trường 75A Hà nội. Ngoài bọn đao phủ, may ra có thượng đế và Phật tổ Như lai thấy cái chết thê thảm của ta. Không! Không! Ta chưa tuyệt vọng, tập hồi ký không đáng giá một xu với một tên cướp giật, sẽ trả lại ta hoặc đốt đi. CS đã, đang thú tính hoá cái xã hội này, chúng đã thành công lớn nhưng chúng không thể tiêu diệt được tấm lòng nhân ái và dũng cảm. Nếu ta chưa đến ngày tận số khi hồi ký của ta không lọt vào tay một kẻ bất lương… ”

Cái chết và hy vọng cứ thay phiên chen lấn nhau làm đầu óc tôi quay cuồng, đảo lộn.

Hết đường Nam bộ, theo quán tính tôi rẽ sang đường Trần phú. Kế đó, qua đường Phùng hưng, tôi đến ngồi trên ghế đá ở vườn hoa hàng Đậu.

Trời sáng rõ, một người mất cánh tay phải đi qua, anh ta chăm chắm nhìn tôi rồi mỉm cười, hỏi:

– Anh bạn ngồi làm gì ở đây mà buồn thế? Tôi thấy anh bạn có vẻ quen.

Tôi không trả lời, người thương tật đi ra đường nhìn lại. Đi thêm mấy bước nữa, người đó rẽ vào một cổng, lên cầu thang gác. Lúc đó, tôi mới sực nhớ ra người thương tật là Hưng, con bác Vũ thị Hiền. Quả thật tôi không còn lòng dạ nào để hỏi thăm Nga. Vâng, tâm hồn tôi như con thuyền nhỏ đang chòng chành nghiêng ngả trong cơn bão táp điên cuồng của biển cả. Con thuyền mất phương hướng để đi đến một bến bờ số phận và định mệnh. Dựa lưng vào thành ghế đá, tôi thiếp đi và ngủ chập chờn một giấc thật dài. Khi tỉnh dậy, mặt trời đã đứng bóng, tôi đến khách sạn Long biên ăn một bát phở và uống một cốc cà phê đá. Rồi từ đó, tôi đến dốc hàng Than, đứng tựa một thân cây cổ thụ, mông lung suy tưởng. Đàn chim xanh nhỏ xíu năm xưa vẫn ríu rít trên cành, hương thơm thoang thoảng của hoa ngọc lan từ trong chùa bay ra làm tôi nhớ lại những kỷ niệm thời trai trẻ. Bỗng trong cõi lòng tôi được xua tan nỗi lo âu, hoảng sợ để tâm hồn ngược dòng thời gian bay về với thế giới của thần Cupidon. Ngồi bên song cửa, cặp mắt xanh mơ màng nhìn hàng cây rợp bóng, em cất cao tiếng hát ngọt ngào, âu yếm tạo thành những làn sóng âm thanh huyền diệu dội vào trái tim tôi:


Biển rộng bát ngát xanh xanh

Trập trùng dưới ánh trăng thanh.

Về đây khi mái tóc còn xanh xanh,

Về đây với màu gió ngày lang thang,

Về đây với xác hiu hắt lạnh lùng

Ôi lãng du quay về điêu tàn.

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi

Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi.

Thực tế cuộc đời là tàn nhẫn, phũ phàng, chỉ có trong mơ tôi mới tìm thấy niềm vui, li hận của khoảng trời tình ái âu cũng là nguồn cảm xúc. Trong lúc này, ước gì tôi được thả tâm hồn về cõi mộng đến khi nỗi lo âu, hoảng sợ kia tìm ra đáp số. Và ước gì tôi cũng có một giấc mơ như bên gốc liễu của Andersen.

– Chú Tâm làm gì đấy? – Anh Cương đi qua nhìn thấy gọi làm tôi giật mình tan giấc mộng vàng.

– Tại sao không vào nhà? – Anh Cương hỏi tiếp.

– Vâng! – Tôi theo anh Cương vào chùa. Thuở xưa nơi này thân quen, quyến rũ mà ngày nay sao xa cách lạnh lùng? Con chim sơn ca đã bay đi kết bạn đời, còn đâu nữa tiếng chim hót véo von? Ngày xưa em nói: “Anh coi em như bông hoa trong vườn ngự uyển… ”. Vâng, tôi cũng chỉ mong có thế! Ngày nay hoa xuân người đã hái để lại một khoảng trời hiu quạnh, cô đơn.

Anh Cương nói chuyện với tôi thời dĩ vãng: chuyện tổ hợp tác đóng thùng nước mắm, chuyện anh đi bán giang ở chợ Bắc qua. Tiếp đến chuyện anh bị gọi ra đồn, lên khu dạo tôi bị đi tù. Có lẽ thấy tôi lơ đãng, anh hỏi:

– Quái lạ, hôm nay chú làm sao thế?

– Em có sao đâu, vẫn bình thường thôi – Tôi nói dối. Sự thật nỗi lo âu đang nung nấu lòng tôi. Tôi chẳng để ý gì chuyện anh kể.

– Tôi thấy vẻ mặt chú buồn nên nói chuyện xưa cho vui. Hình như chú chẳng nghe.

– Anh nhầm rồi, em vẫn chú tâm đến chuyện của anh.

– Không đúng – Anh mỉm cười hóm hỉnh – Thôi được, ta nói sang chuyện khác. Ngày xưa chú thầm yêu con Nguyệt à?

– Vâng!

– Nó có biết không?

– Có thể Nguyệt còn biết trước em.

– Chú nói gì mà kì quặc thế?

– Nghe có vẻ vô lý nhưng là sự thật. Những ngày tháng em dạy Nguyệt học thêm, khi xa Nguyệt em thấy nhớ, khi vắng Nguyệt em thấy buồn. Chính em cũng chưa hiểu thứ tình cảm lạ lùng ấy thì Nguyệt đã đoán chắc rằng, trái tim em đang rung cảm với cô nàng.

– Nghe chú nói, tôi cho rằng hiện thời chú vẫn còn yêu.

– Vâng, và có thể còn kéo dài mãi mãi.

– Nó đã có chồng con, chú có điên không mà yêu vớ vẩn thế?

– Vị đắng của tình yêu cũng là nguồn cảm hứng cho những tâm hồn văn nghệ sĩ. Em không dám ước mơ là một nhà văn nhưng trái tim em hay đa cảm.

– Phải biết rõ số phận mình để tìm ra lối thoát, chú cứ viển vông mãi thế sao?

– Em biết cuộc đời mình hiện tại và tương lai vẫn chìm trong đau khổ và tủi nhục, trong mơ và suy tưởng em mới thấy vơi bớt phần cay đắng.

Tối hôm đó, tôi ăn cơm nhà anh Cương. Đến mười giờ, tôi định chào anh Cương để về nhà chị thì anh Cương từ bếp lên hỏi:

– Chú có thấy ai vừa vào chùa không?

– Em không thấy.

– Cố nhân của chú đấy. Nghe đâu nó sắp vào Sài gòn, có thể hôm nay nó đến chào những người thân. Chú muốn gặp nó không, tôi vào gọi?

– Không nên anh ạ. Em yêu Nguyệt đơn phương thầm lặng vậy hãy để cho thời gian thầm lặng trôi qua.

Nói thế nhưng lòng tôi vô cùng bồi hồi, rạo rực. Tôi muốn nhìn thấy em lần cuối để rồi mãi mãi cách xa nhau. Khi ấy, tôi đã quên mọi nỗi lo âu, hoảng sợ, quên tất cả sự đời để hình ảnh em rực sáng trong trái tim tôi. Tôi hồi hộp đợi chờ, gần mười một giờ em mới ra về. Nhìn lại người xưa, em già dặn hơn đôi chút, dáng em hơi gầy, thanh nhã vẫn như những tháng năm trăng tròn, cặp mắt em vẫn long lanh toả ánh màu xanh. Em đưa mắt nhìn tôi lạnh lùng, quên lãng. Tôi ra cổng và lên dốc nhìn theo, bóng dáng thướt tha của em chìm dần trong ánh điện lờ mờ.

Một người đàn ông dắt xe, tiến lại hỏi:

– Tôi muốn gặp anh Tâm trong chùa, nếu anh biết làm ơn chỉ giúp?

Tôi chột dạ và tự hỏi: “Hồi ký của ta đã lọt vào tay kẻ bất lương? Đây là cá ngầm chăng? ” Nhìn qua ánh đèn điện, tôi thấy người ấy khoảng bỗn chục tuổi, dáng phong nhã, nét mặt phúc hậu. Anh ta có vẻ bối rối làm tôi bình tâm lại và trả lời:

– Tôi là Tâm, anh gặp có việc gì?

Anh ta siết chặt tay tôi và nói:

– Thật may mắn, tôi rất hân hạnh được gặp anh. Xin lỗi, tôi vừa đọc hồi ký của anh và bây giờ xin trả lại

Tôi sung sướng quá, thân thể run lên khi nhận lại tập hồi ký từ tay anh ấy và nói:

– Cảm ơn anh, tôi lo sợ mất tập giấy này có thể gây cho tôi một tai hoạ khủng khiếp mới, nếu…

– Tôi mới là người phải chịu ơn anh. Anh đã làm sáng tỏ nỗi đau của cuộc đời tôi, và cho tôi thấy một bức tranh đen tối của xã hội.

– Tên anh là Nam?

– Vâng, tôi là người yêu của Bích Hằng, người cùng làm với anh trong tổ hợp tác xưa kia.

– Đây không phải tiếng nói của một nhà văn mà là tiếng kêu tuyệt vọng của một kẻ bị xiếng xích, bị áp bức và bị đoạ đầy. Tập hồi ký lộn xộn, đơn sơ này chỉ vẽ được vài nét thô thiển trong bức tranh rối rắm, phức tạp của toàn xã hội. Vì cả dân tộc là nạn nhân của thời đại. Và mỗi nạn nhân, nhà văn có thể viết thành một thiên tiểu thuyết.

Tôi và anh Nam nói chuyện với nhau về chị Bích Hằng, về tập hồi ký bị cướp giật. Cuối cùng chúng tôi nhận nhau là anh em kết nghĩa. Anh Nam đèo tôi đến cửa Nam. Tôi xuống xe đi bộ về nhà chị và hẹn chủ nhật tôi sẽ đến thăm anh. Sáng hôm sau, tôi lại mang tập hồi ký về Bắc giang gửi.

Buổi sáng hôm ấy, tôi đến bến xe Kim liên, vào ngõ và hỏi thăm nhiều người mới tìm thấy nhà anh Nam – một nửa gian nhà lá điêu tàn, xiêu vẹo, cửa khoá. Tôi đã hẹn hôm nay đến thăm anh, có lẽ anh quên hay vì một lý do nào đó mà đi vắng. Tôi hỏi một bà già nhà bên cạnh:

– Thưa bà làm ơn cho cháu biết chủ nhà này đi đâu?

– Anh quan hệ với anh Nam thế nào mà không biết anh ấy đã chết vì tai nạn ô tô mấy ngày nay? – Bà già nhìn trừng trừng vào mặt tôi tỏ vẻ oán trách.

Tôi hốt hoảng hỏi lại:

– Thưa bà anh Nam chết thật rồi sao?

– Anh ấy bị ô tô kẹp lúc quá nửa đêm trước cửa ga. Anh ở xa đến hay sao mà không biết?

– Thưa bà, cháu ở đây nhưng đi làm ở ngoại thành.

– Anh là bạn thân của anh Nam?

– Cháu mới quen thân anh ấy, có hẹn ước với nhau là anh em kết nghĩa. Không ngờ anh ấy đã vội đi xa…

Tôi không khóc nhưng trĩu nặng nỗi u buồn. Ngày xưa, tưởng như hạnh phúc đang vẫy chào đôi trai gái ấy – anh Nam và chị Bích Hằng, nhưng cái xã hội tàn bạo và thú tính này đã cướp đi tình yêu, hạnh phúc của họ. Họ không một ngày hạnh phúc bên nhau, cả hai đều đau thương, tủi nhục.

– Lần đầu anh đến nhà anh Nam?

– Vâng, thưa bà!

– Quái lạ! Chắc chắn anh phải hỏi nhiều người lắm mới tìm thấy nhà này?

– Vâng!

– Thiên hạ vô tình đến thế là cùng. Anh Nam ở đây đã hai mươi năm, ai mà chẳng biết anh ấy. Thế mà không có người nào nói anh ấy đã chết rồi sao?

– Thưa bà, có thể vì đạo đức bị băng hoại nên người ta đã quên mất nhân tình.

– Khổ, người ấy mẫu mực, hiền lành lắm, chẳng làm mất lòng ai nhưng rất nghèo khổ. Cũng có thể vì thế mà người đời ghẻ lạnh.

– Bà có biết nguyên nhân dẫn anh Nam đến tai nạn như thế nào không?

– Tôi nghe phong phanh được là anh Nam cứ đứng trơ trọi giữa đường trong lúc mưa to. Một chiếc xe ô tô
đi qua, đột ngột anh ấy lao vào bánh sau, chết ngay.

Chào bà già tốt bụng, tôi lặng lẽ cúi đầu ra đường để về nhà chị. Đến đầu phố Khâm Thiên, tôi chợt nghe tiếng gọi:

– Anh Tâm ơi!

Tôi nhìn lên, chợt thấy Nga – con gái bác Vũ thị Hiền.

– Anh còn nhớ em không? – Nga hỏi.

– Quên sao được. – Tôi trả lời và hỏi – Em được về bao giờ?

– Mới có mấy ngày nay. Còn anh?

– Anh về được gần bảy tháng.

– Nghe đâu thời gian trước, anh cùng ở với bố em cùng một toán?

– Sao em biết?

– Anh Hưng nói, khi còn sống bố em viết thư về có nhắc nhiều đến anh. Anh có biết bố em chết vì bệnh gì không?

– Bệnh đau thương, tan nát của gia đình, bệnh tù tội, thế thôi.

– Diễn biến thế nào anh?

Tôi kể tỉ mỉ những tháng bác Lê ngọc Văn ở trại An Thịnh và nguyên nhân dẫn đến cái chết thảm thương của bác. Nga sụt sùi khóc và nói:

– Anh Hưng nhận được giấy báo tử của trại, có đoạn với nội dung: bố em mắc bệnh hiểm nghèo, xuất phát từ chính sách nhân đạo của đảng và chính phủ, trại đã tận tâm chăm sóc, cứu chữa nhưng bệnh không qua khỏi… Em nói ngay với anh Hưng, tin sao được lời lẽ của bọn bịp bợm. Qua mười hai năm tù, em không lạ gì bọn khát máu ấy.

– Nga định đi đâu đấy?

– À, em định đi… – Nga nói ngập ngừng.

– Đi đâu – Tôi hỏi dồn.

– Sáng nay, em đến chỗ anh ở cũ hỏi, người ta bảo anh đã về với chị tại ô chợ dừa. Nhân thể đi dạo xem phố phường, em có ý định đến tìm anh.

– Có việc gì không hay chỉ đến thăm anh?

– Khó nói lắm, tuỳ anh nghĩ thế nào cũng được – Nga tỏ vẻ khó chịu, trả lời – À này, anh còn nhớ chị Bích Hằng không?

– Quên sao được người đàn bà thương tâm ấy. Chị Hằng cùng ở với em à? – Tôi sửng sốt hỏi.

– Cùng ở Hoả lò, cùng đi trại, một ngày, cùng được về một ngày. Dạo ấy, anh không nhìn thấy chị Hằng xếp hàng ở cổng Hoả lò à?

– Không, chị Hằng rồi ra sao nữa.

– Chị Hằng chết rồi. Chị ấy chết cùng với người yêu cũ ở ga hàng Cỏ đêm hôm nọ.

– Trời ơi, Nga nói thật đấy chứ, sự kiện đau thương ấy diễn ra thế nào? – Như sét đánh ngang tai, tôi hoảng hốt hỏi Nga.

– Anh bình tĩnh để em kể có đầu có cuối nhé.

– Em nói mau cho anh biết với?

– Không như em, chị Hằng bị tù oan uổng…

– Chuyện ấy anh biết rồi – Tôi cắt lời Nga – Em kể chị ấy sau này thôi.

– Tuổi ba mươi, khi đi trại chị Hằng vẫn là một phụ nữ quốc sắc, thiên hương. Sắc đẹp của chị ấy làm bọn quản giáo sinh lòng đố kị, ghét ghen. Chị Hằng lại cương nghị nên trở thành mục tiêu để chúng hành hạ nhiều phen khốn đốn. Đến trại mấy ngày, quản giáo gọi chị vào văn phòng hỏi:

– Người đẹp thế này mà làm gái đĩ à?

– Thưa bà, người ta vu oan cho tôi. Nếu có chăng, tôi đã chồng lại quyết liệt một hành động biến tôi thành một món hàng để họ làm tiền.

– Người ta là ai, họ là ai? – Mụ quản giáo quát trấn áp. – Chị bội nhọ người công an nhân dân?

– Thưa bà, đó là sự thật…

– Bằng chứng đâu?

– Thưa bà, bằng chứng trong đầu người có quyền, chân lý bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Những người khốn khổ như tôi trước pháp luật bao giờ cũng sai, cũng phạm tội…

– Câm! Chị này ngang nhiên nói xấu chế độ trước cơ quan an ninh.

– Thưa bà, hiện đang diễn ra hiện tượng lẽ phải thuộc về kẻ mạnh.

– Câm ngay! Bà cho mày biết thế nào là lễ độ, nghe chưa? – Nói xong, mụ đuổi chị Hằng ra ngoài, đến chiều chị bị đi cùm một tháng.

Cuối mùa hè, mụ quản giáo mới thay cao to, có tướng mạo rất ghê, da mặt sù sì đầy trứng cá, cặp mắt lươn. Ngay buổi đầu đến, mụ đã để ý và gọi chị Hằng vào nhà lô, hỏi:

– Mỗi lần bán dâm, chị được trả bao nhiêu tiền?

Chị Hằng nhìn thẳng vào mặt mụ, tỏ vẻ khinh bỉ rồi cúi xuống, không trả lời.

– Chị này láo xược? Tao là quản giáo hỏi mày, mày tỏ thái độ chống đối à? Đồ gái đĩ!

Chị Hằng đầu vẫn cúi xuống, im lặng.

– Mày nói mau, tại sao, tại sao? – Mụ lồng lộn
quát tháo.

– Thưa bà, bao giờ tôi cũng là người lương thiện – Chị Hằng dõng dạc trả lời.

– Mày ngoan cố không chịu nhận tội phải không? Không làm điếm, ai bắt oan mày

– Thưa bà, công an Hà nội bắt oan tôi.

– Chị này to gan thật, dám vu khống cơ quan an ninh – Nói xong, mụ nắm tóc chị Hằng giật mạnh, chị ngã xuống nền đất, mụ tiếp tục đấm đá chị túi bụi. Mụ được học nghiệp vụ nên đòn của mụ hiểm lắm. Đau quá, chị Hằng không đứng dậy được, tù phải thay phiên nhau cõng chị về trại. Lần này chị bị đau ốm đến gần hai tháng.

Mùa xuân năm 1967, tên đại uý chánh giám thị gọi chị lên phòng riêng. Khi về trại, nhiều người hỏi, ông giám thị gặp có việc gì, chị chỉ lắc đầu, vẻ buồn rười rượi. Nhiều đêm nằm bên cạnh, em thấy chị lặng lẽ khóc. Em hỏi, chị trả lời buồn thì khóc. Sức khoẻ của chị từ đó mỗi ngày một suy giảm, sắc đẹp cùng dần tàn héo, mắt thâm quầng vì mất ngủ, chân tay gầy như que củi, má hóp lại, cứ đến chiều tối chị ho và sốt nhẹ. Nhiều lần chị xin nghỉ và xin điều trị, đều bị mụ quản giáo bất nhân cưỡng bức đi làm.

Đến khi chị ho ra máu trước mặt mụ, mụ mới cho nằm ở bệnh xá trại giam. Tuy quen biết và thông cảm với nhau hơn người khác nhưng quá khứ gia đình và cuộc đời của từng người vẫn khép kín. Mãi đến năm 1969, em mới nói với chị Hằng những đau thương, tan nát của gia đình mình, trong đó có thời mẹ em làm ở tổ hợp tác đồ chơi phố hàng Buồm. Từ đó hai người mới thân nhau và giãi bầy bầu tâm sự. Chị Hằng nói, khi làm ở tổ hợp tác, chị rất mến mẹ em, anh và anh Khoa. Anh Khoa là bạn của anh à?

– Là bạn tri tâm. Anh ấy đã bỏ mạng ở trại tăng gia Phúc lập năm 1970.

– Trời ơi, thế là anh Khoa cũng đã chết rồi, đau thương chồng chất đau thương. Nghe chị Hằng nói, tâm hồn anh Khoa lãng mạn lắm phải không?

– Thật vậy!

– Còn anh?

– Anh ấy à? May ra có năng khiếu về khoa học tự nhiên nhưng học hành dang dở, tâm hồn anh cằn cỗi, đơn điệu như đồ thị phương trình bậc nhất. À này, chúng mình lạc đề rồi. Em nói tiếp chuyện chị Hằng đi.

– Vâng! Chị Hằng than thở, buổi gặp tên giám thị cũng diễn ra như sự kiện thằng đội trưởng đội cải cách cưỡng hiếp chị. Sau khi mãn nguyện về thú tính, hắn hăm doạ chị nếu để lộ chuyện, hắn sẽ thẳng tay trừng trị. Chị Hằng trả lời, tôi đang muốn chết, ông hãy giết tôi ngay, xin cảm ơn ông. Tôi không nói với ai về hành động thú vật của ông là do tôi sợ nhục chứ không sợ cường quyền, bạo lực. Tuy nhiên, sau này e ngại dồn chị đến bước đường cùng nên tên giám thị có phần nhượng bộ. Mụ quản giáo nhiều lần đề nghị đưa chị vào nhà kỷ luật nhưng hắn đều bỏ qua. Điều lạ lùng là cơ thể chị càng tàn héo, chị càng yêu và nhớ anh Nam. Em khuyên chị ấy cố quên đi mối tình đầu tan tác ấy, biết đâu người yêu mình hiện tại đang ôm ấp, hoan lạc với một bạn đời khác? Chị nhất mực cho rằng, anh Nam không thể yêu ai ngoài chị…

– Chị Hằng nói đúng, anh Nam vẫn sống cô đơn đến ngày tận số.

– Sao anh biết?

– Do một chuyện rủi ro, anh cũng quen thân với anh Nam mới cách đây mấy ngày.

– Tất nhiên đến nay cái chết của anh Nam đã khẳng định lời của chị Hằng. Sau này cứ gặp chuyện gì căng thẳng thần kinh là chị Hằng bị ngất. Chị nói: “Tôi không còn sống được bao lâu nữa, chỉ có ước mơ duy nhất được gặp lại anh Nam một lần rồi chết”. Chị Hằng cho rằng, nhan sắc của chị là một trong những nguyên nhân dẫn đến thảm hoạ cho gia đình và bản thân mình trong một xã hội không có công lý và đạo làm người. Kẻ có quyền thả sức tung hoành phè phỡn, thú tính được phát huy triệt để…

– Có khi nào chị Hằng nói về đứa con trai của mình không ? – Tôi hỏi.

– Chỉ một lần thôi. Đúng chỉ có một lần chị ấy nhắc đến đứa con trai khốn nạn – sản phẩm của một nỗi nhục. Chị Hằng bảo, giá mà không nghe bố mẹ nuôi, giết nó khi còn trong bụng thì tốt hơn, nhân đức hơn là để nó ra đời phải gánh chịu một số phận khốn nạn. À này, suýt nữa thì em quên mất – Mắt Nga long lanh như phát hiện ra một điều mới mẻ – Chị Hằng nói với em nhiều lần, phải tìm anh và anh Khoa, đề nghị các anh dù khó khăn, nguy hiểm cũng không nên quên viết hồi ký. Nay anh Khoa đã đi xa, trách nhiệm lương tâm ấy thuộc về anh.

– Anh không dám từ chối nhưng cũng chẳng khác gì không có trâu bò phải bắt chó kéo cày.

– Anh hạ mình quá đấy!

– Sự thật là như vậy. Anh cắp sách đến trường vẻn vẹn chưa được năm năm, nghĩa là ngang với thời gian đi học của một học sinh cấp một. Hơn nữa, cuộc đời triền miên bị khổ nhục, như thế cầm bút viết văn sao được, Tuy nhiên, bằng những dòng thô thiển, lộn xộn, anh cũng cố gắng khai sinh một đứa con tinh thần cục mịch, may ra có người rủ lòng thương nó.

– Nếu những người như anh không cầm bút thì còn là ai nữa? Chả lẽ tất cả mọi nỗi đau thương cơ nhục của một dân tộc đều theo dòng chảy của thời gian quên lãng? Ý nghĩ nông cạn của một người đàn bà bất hạnh, em cũng hiểu rằng cầm bút lúc này là đương đầu với tai họa, với tù tội, thậm chí với tính mạng của mình.

– Đúng như em nói, hành động đó là nguy hiểm nhưng anh không qu
an ngại như em. Anh là một trong số hàng nghìn người cầm bút có tâm huyết với tổ quốc và dân tộc, nếu thiếu anh cũng chẳng hệ trọng gì, giống như “cô đi lấy chồng thì chợ vẫn vui”. Dù có trăm phương nghìn kế thâm độc, CS cũng không thể che đậy được tội ác trời không dung, đất không tha của chúng. Ông Phan Khôi nói: “Văn học là nhân chứng của toà án lịch sử ngàn đời.” Văn học là cái vô hạn, chế độ là cái hữu hạn. Cái hữu hạn không thể và không bao giờ thắng nổi cái vô hạn. Dù có điên cuồng, hung bạo, dù có tinh vi xảo quyệt đến mấy, tội ác của mọi thể chế trước sau đều bị phơi bày ra ánh sáng của công lý và lịch sử…

– Em nói tiếp chuyện chị Hằng nhé. Khi đọc lệnh tha, những người có tên đều mừng rỡ, riêng chị Hằng lại buồn hơn. Chị nói: “Với thân tàn, không nhà cửa, không nơi nương tựa thà rằng bỏ xác nơi này còn hơn…”

Em an ủi, chị về Hà nội ở với em, trước hết chị đi chữa bệnh. Bệnh lao ngày nay không phải là bệnh nan y nữa. Sau đó, chị cùng em đi chạy chợ kiếm ăn. Việc cấm chợ ngăn sông, quản lý con người trong thế hệ Lê Duẩn có phần lỏng lẻo hơn thời đại Hồ chí minh dạo trước. Xem ra ngài tổng bí thư còn đam mê trăng gió nên bàn tay siết gọng kìm thống trị không chặt như ông Hồ. Nghe em nói, chị Hằng nhất trí và nhận xét thêm: còn may là tên bạo chúa qua đời trước ngày miền Nam rơi vào tay CS, đồng bào miền Nam bớt được một khối lượng khổng lồ máu và nước mắt, người Hà nội vợi bớt nỗi lo sợ vì câu “làm Hà nội trong sáng như pha lê”. Những “thái tổ” của chính quyền CS, tên nào cũng cực đoan và tàn bạo nhất, chẳng hạn Lénine, Staline, Mao trạch Đông, Fidel Castro… Cải cách ruộng đất là những ngày hội lớn của tên bạo chúa, hẳn linh hồn hắn phải nuối tiếc là không được kéo lê đôi dép lốp đẫm máu vào miền Nam để mở hội…

Gần mười hai giờ đêm, tàu mới về tới ga hàng Cỏ. Em dắt chị Hằng qua đám đông người đứng ở đường. Đột ngột chị Hằng nắm ghi đông xe của một người đang dắt bộ và kêu:

– Anh Nam!

Tức khắc chị Hằng ngất xỉu và ngã vật ra đường. Em ôm lấy chị và gọi hai ba lần, chị vẫn không tỉnh lại. Người đàn ông luống cuống hỏi trống không:

– Người này là Bích Hằng à?

Em trả lời và hỏi:

– Anh tên là Nam?

– Phải rồi!

– Anh cùng quê với chị Bích Hằng?

– Đúng!

Nghe chị Hằng nói, anh Nam tao nhã, ôn tồn, có lẽ gặp lại người yêu tàn héo, đau thương làm anh ấy quá xúc động, không tự chủ được mình. Em nói với anh ấy, anh ấy chỉ trả lời dóng một, dóng hai, gắt gỏng.

Thình lình mưa dội xuống như trút nước kèm theo gió lớn, sấm sét. Em vội bế chị Hằng vào hè phố tránh mưa, mọi người trên đường cũng tìm nơi trú ẩn. Anh Nam, tay dắt xe, vẫn đứng trơ trọi giữa đường. Một chiếc ô tô tải phóng chỗ anh đứng, anh buông tay cầm xe đạp và lao người vào bánh sau chiếc ô tô đó, chết ngay.

Người chờ tàu khoác áo đi mưa ùa ra xem, vây kín thi hài anh Nam, gần một giờ cảnh sát giao thông mới đến làm nhiệm vụ. Lúc đó mưa đã ngớt, chị Hằng tỉnh dậy, hỏi em:

– Ai bị tai nạn đấy?

– Em chưa biết. – Em giả vờ nói thế.

– Người tự sát là Lê Nam quê ở Hưng nhân, Thái bình. Công an vừa kiểm tra nạn nhân, trong túi có chứng minh thư. – Một người đàn bà nói.

– Anh Nam chết rồi à? – Chị Hằng khóc rống lên – Em cũng theo anh. Sau đó chị Hằng lên một cơn ho một hồi, chị thở ra hàng bát máu rồi tắt thở.

Em hoảng quá, khóc và kêu to:

– Các ông, các bà ơi cứu giúp người này với!

Người ta lại ùa đến vây kín chỗ em. Cảnh sát cũng tới, hỏi:

– Người đàn bà này ở đâu đến?

– Chị ấy đi cải tạo được về – Em trả lời.

– Người này với chị quan hệ thế nào?

– Tôi chỉ là người bạn tù. – Em trả lời và thoáng nghĩ, một mình từ trong tù ra làm sao đưa chị Hằng về nơi yên nghỉ? Mà phải, bọn chúng giết chị, bọn chúng phải chôn cất chị, mình trốn đi chịu mang tiếng bất nghĩa vậy.

Em lấy quần áo rách trong gói của chị Hằng giải ra hè cửa hàng ăn quốc doanh và đặt chị nằm trên đó. Móc túi áo chị lấy giấy tha trình công an, hắn đang soi đèn pin đọc thì em luồn qua đám đông trốn về nhà. Đi được hơn một trăm mét, em nghe tiếng tên cảnh sát gọi:

– Cái chị từ trại cải tạo về đâu rồi?

Họ chôn cất anh Nam và chị Hằng ra sao, em cũng không biết nữa. Tất nhiên, cả hai về nơi yên nghỉ đều không có hương hoa cúng viếng, không có tiếng khóc của những người cùng máu mủ. Anh thử nghĩ, đời làm gì có chân lý? Bọn bất lương vẫn ung dung sống trên mồ hôi, máu và nước mắt, còn những người lương thiện sống đau thương, khổ nhục, chết thảm thê.

Nghe Nga nói, tôi lặng người đi vì xúc động. Sau vài phút im lặng, sụt sùi, Nga hỏi:

– Hôm nọ anh ngồi ở vườn hoa hàng Đậu?

– Chắc anh Hưng nói với em?

– Thế ra anh còn nhớ anh Hưng?

– Nhớ láng máng thôi.

– Anh Hưng nói, buổi sáng hôm em được về, anh ấy đi qua vườn hoa thấy anh ngồi trên ghế đá, nét mặt buồn bã lo âu. Anh Hưng nhìn kỹ mới nhớ ra xưa kia anh làm với mẹ em. Anh ấy hỏi anh nhưng không biết vì sao anh im lặng?

– Hôm ấy đầu óc anh quay cuồng vì một tai hoạ có thể đến, khi anh Hưng hỏi, có lẽ anh đang mê mẩn. Anh ấy lên cầu thang vào nhà, anh mới chợt nhớ ra.

– Tai hoạ gì có thể đến với anh?

– Sau này anh sẽ nói với em.

Sau khoảng khắc im lặng, Nga đưa mắt long lanh nhìn thẳng vào mặt tôi, môi em nở một nụ cười duyên dáng, em tiếp:

– Em đã nói chuyện với chị Hằng, lần đầu em gặp anh trên đường Yên phụ. Anh còn nhớ không?

– Quên sao được.

– Chị Hằng bảo, anh và anh Khoa là những thanh niên mẫu mực, hiếm có trong thời đại ngày nay. Ngược lại, em có ý nghĩ anh là một Míchkin hiện đại, đúng không?

– Anh không phản đối. Anh, anh Khoa và cả anh Nam nữa là những người lạc lõng, bơ vơ giữa dòng đời.

– Dạo ấy, em mới mười bảy, ở độ tuổi trăng tròn, em không đến nỗi nào… Có bao giờ anh hối tiếc buổi gặp gỡ đó không?

– Về tâm lý thì có nhưng về luân lý thì không?

– Tại sao?

– Người đàn ông nào chẳng ước mong có một người bạn đời khi đến với mình còn phong nhị. Thế thì tại sao mình lại bẻ cành xuân để rồi chuyên tay cho người khác?

– Nhân sinh quan phong kiến đã bị chôn vùi, ước mong ấy là không tưởng.

– Em nói đúng nhưng anh quyết không trôi theo dòng chảy dù có bị thiệt thòi.

– Rất tiếc Dostoievsky đã qua đời, nếu còn sống, ông ta sẽ có một nhân vật bằng xương, bằng thịt – một thằng đại ngốc – Nga vỗ vào vai tôi, cười khúc khích. Nga hỏi tiếp:

– Hiện nay anh đã có bồ chưa?

– Một tên phản cách mạng ai dám yêu mà bồ với bịch?

– Có đấy! Chỉ ngại quan niệm của anh… Ánh mắt em long lanh như loé lên mọt tia hy vọng.

Còn tôi không thể chấp nhận một mối tình với người đàn bà có quá khứ đầy tội lỗi. Thấy tôi im lặng, Nga lại tiếp:

– Kim trọng dang cánh tay bao dung, độ lượng ra đón nàng Kiều. Em cứ tưởng…

– Anh với em ở một bình diện khác, chưa một lần chúng ta có lời hẹn ước.

– Từ buổi đầu gặp nhau và chỉ một lần ấy thôi, bao giờ em cũng nghĩ đến anh với một tấm lòng trìu mến, thiết tha, kể cả những tháng năm cơ cực, tủi nhục nhất của cuộc đời. Mỗi lần nói chuyện với chị Bích Hằng, em không thể không nhắc đến anh. Chị Hằng cũng cho rằng, hình ảnh anh đã khắc sâu trong trái tim em. Đến nay mới biết, tình em như nước từ nguồn xuôi dòng chảy về biển cả cô đơn.

– Đối với em, anh chỉ có một tình thương, mà tình thương không phải vị hoàng đế của con tim. Tình thương và con tim là đồng minh thân thiện cùng tồn tại trong một góc của tâm hồn. Một cuộc tình duyên đẹp bao giờ cũng bắt đầu từ con tim mới đến tình thương. Đảo ngược lại quy luật đó sẽ chẳng gặt hái được bao nhiêu hạnh phúc.

– Qua anh, em phát hiện ra một điều mới mẻ, đó là một tâm hồn rộng mở nhất cũng vẫn còn những phần khép kín.

– Em nói đúng, ai chẳng có phần ích kỷ? Người ích kỷ về tiền tài, người về công danh địa vị, người về tình ái… Anh không bao giờ chấp nhận một mối tình khi đã biết có thời hoặc một lần đối tượng của mình trao thân cho người khác dù bất cứ lý do nào.

– Ước mơ ấy chỉ thực hiện được trong chế độ phong kiến. Ngày nay khó lắm, nhất là đối với vị trí của anh.

– Anh biết mình chỉ là kẻ khốn cùng, không thể thay đổi được nhân tình thế thái cũng không thể thoát khỏi kiếp phong trần. Có thể bị lừa dối để anh cảm nhận được điều bất hảo của người yêu trong dĩ vãng, như thế còn dễ chấp nhận hơn.

– Hiểu như thế, tại sao anh không chấp nhận một sự thật phũ phàng, anh sống trong ảo tưởng, mình lừa dối chính mình?

– Mất tất cả trong đó có tính mạng, anh có đủ can đảm nhìn vào sự thật, còn tình yêu chắp vá thì không bao giờ… Nhỏ nhen, cố chấp là tính xấu nhưng trái tim anh luôn khép kín, không phục tùng những lời phán quyết hoặc răn dạy của lý trí về lòng bao dung, độ lượng.

– Em không ngờ trong lĩnh vực này, anh tôn thờ những mô hình đạo đức xơ cứng, những thần tượng một cách phi hiện thực, quên mất nỗi đắng cay, bất hạnh của đời thường. Em đã nhầm, hoàn toàn nhầm lẫn về anh. Chào từ biệt nhé! – Nói xong, Nga rảo bước về phía ga.

Sau khi bị dập tắt tia hy vọng, Nga mau lẹ xoay chiều tấn công tôi quyết liệt. Về phần mình, tôi biết đã tàn nhẫn với em. Vì lời tỏ tình của Nga như khoét sâu vào nỗi đau của đời tôi. Tôi muốn trốn chạy một tình yêu nham nhở, Nga lại cố sức săn đuổi, cùng đường buộc tôi phải phản công để tự vệ.

Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 5

Tháng Bảy 18, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Phần 2 - Những kẻ khổ nhục

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: