Eventfulday's Blog

Kỳ 23 – NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 3

NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people

NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 3

Đến tháng sáu, anh Thư đến nói với tôi:

– Làm thuê cho bộ nội vụ là đường cùng, hàng ngày phải giáp mặt, phải giao tiếp với những kẻ bất nhân. Chẳng những thế, tai vạ có ngày. Bây giờ tôi đưa cậu đi một chuyến công du để tìm miền đất mới và thoát khỏi cảnh cùng đường ấy.

– Đi đâu, anh?

– Đến nhà chủ nhiệm 307, xin việc làm ở hợp tác xã đó. Mỗi ngày họ trả công sáu đồng. Chẳng những thế, nhân phẩm của chúng ta được tôn trọng, không đến nỗi phải chui lủi giấu giếm tổng tích của mình như ở bộ nội vụ.

– Thôi, tôi đèo cậu đi ngay.

– Vâng, được làm chỗ khác thì tuyệt vời, em vẫn ước ao thế.

Nhà chủ nhiệm 307 ở ngõ Thổ quan, ông ấy tên là Lý – anh em kết nghĩa với Hoán – người có tấm lòng nhân ái, dũng cảm đã giúp đỡ Lê Cần. Tính tình ông Lý phóng khoáng, cởi mở. Xưa kia ông ấy đi bộ đội, cấp đại uý. Có lẽ tính tình của ông không thích hợp với sự gò bó trong quân đội nên ông xin phục viên và làm thợ nề. Từ đó, dần dà ông làm chủ nhiệm.

Thực ra, các hợp tác xã xây dựng sau này đều biến thành những tổ chức của cai đầu dài. Một ông cai với danh nghĩa là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, trưởng, phó ban kiểm soát, đội trưởng, đội phó… ký hợp đồng xây dựng với các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, cửa hàng… Muốn được thực thi công trình, tất yếu phải hối lộ cán bộ phụ trách xây dựng, tài vụ, ban giám đốc của cơ quan đó. Ngoài ra, phải hối lộ ngân hàng để rút tiền nhanh chóng từ các séc chuyển khoản, hối lộ phòng xây dựng khi duyệt giá. Đấy là chưa kể phải hối lộ các đối tác khác. Kinh phí của công trình cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào tiền hối lộ. Ông cai nào mạnh tay chi những khoản tiền “ngoại giao”, ông ấy có nhiều công trình xây dựng, chất lượng công trình không quan trọng. Chi công cho thợ theo cảm hứng của từng ông cai, không có một quy định nào của nhà nước; CS quan tâm, bệnh vực quyền lợi của người lao động như thế đấy! Do vậy hợp tác xã xây dựng là những tổ chức ô hợp được chính quyền công nhận và bảo vệ, xã viên ra vào dễ như đi chợ.

Ông Lý tuy làm chủ nhiệm nhưng do tính toán kém, không biết tổ chức và quản lý lao động nên ít khi dám nhận công trình. Chúng tôi đến nhà ông Lý, sau khi tự giới thiệu họ tên từng người, anh Thư nói:

– Như anh Cần, chúng tôi là những tên phản cách mạng ông có dám nhận không?

– Không sao, không sao! Các bác phản cách mạng chứ có phản chúng tôi đâu – Ông xiết chặt tay chúng tôi, nét mặt niềm nở, phảng phất một nụ cười đồng cảm – Tôi không vất vả bằng các bác nhưng cũng hiểu đôi điều về xã hội.

– Ông có sợ liên quan không? – Tôi hỏi.

– Nói chung thì mọi người đều sợ, riêng với tôi có khác. Ngày nay những sự vật được coi là thiêng liêng, tuyệt đối thì ngày mai có thể lại là sai lầm và tội ác…

– Bao giờ chúng tôi có thể di làm? – Anh Thư hỏi.

– Hiện tại tôi chưa có công trình. Tôi sẽ đưa các bác đến ông bạn thân ở gần đây. Ông ấy đang cần thợ.

– Ông ấy có thông cảm với chúng tôi không? – Anh Thư hỏi tiếp.

– Các bác khỏi lo. Ông ấy chẳng những thông cảm mà còn có tình chiến hữu. Hơn nữa, về mặt nhân cách của ông ấy, các bác càng yên tâm. Tôi gọi ông ấy là Lã tiên sinh, nhiều người gọi là Mạnh thường Quân tuy rất nghèo. Nói như thế có hơi phóng đại thì ông Lã cũng là một Bình nguyên Quân hay một Tín lăng Quân của thời nay.

Sau đó, ông Lý dẫn chúng tôi đến nhà ông Lã văn Đồng. Ông ấy dáng người bệ vệ, lực lượng, khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm, cặp mắt sáng nhân hậu, chùm ria mép vểnh lên như bức tranh vẽ ria Quan công. Diện mạo của ông làm người ngay phải kính nể và kẻ gian phải sợ. Tính tình ông cương trực, không quỵ lụy, không xu nịnh một ai và giàu lòng nhân ái, vị tha, phù suy không phù thịnh. Trong thời kỳ kháng Pháp, ông nhập ngũ, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường. Bị địch bắt, tra tấn nhiều lần, ông vẫn giữ được khí tiết của người yêu nước. Sau khi kí kết hiệp định Geneva, ông chuyển sang ngành công an. Là một người có trái tim rung cảm trước chân lý, dần dần ông nhận thức được rằng, đảng đã lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để thực hiện mưu đồ Cộng sản. Người dân vẫn lầm than, cơ cực dưới ách cai trị độc tài của đảng. Từ một kẻ cuồng tín ông đã rơi xuống vực thẳm của lòng tin. Ông không mấy khi tham gia ý kiến vào những câu chuyện chính trị, nghe người khác lên án chế độ, ông chỉ trả lời bằng một nụ cười đồng cảm. Cuộc đời ông có nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ. Năm 1959 ông làm đồn trưởng ở ngõ chợ Khâm thiên. Một tên công an cấp dưới bắt được một gã lưu manh. Thấy gã còn trẻ mới mười sáu tuổi, lại đẹp trai, ông thân hành hỏi cung gã:

– Quê mày ở đâu?

– Cháu ở Nam định – Gã trả lời.

– Tại sao mày đi ăn cắp?

– Thưa chú, vì cùng đường cháu phải làm.

– Tại sao lại cùng đường?

– Hồi cải cách, bố cháu bị bắn, mẹ cháu bị bức tử, nhà cửa, tài sản bị tịch thu toàn bộ. Cháu phải bỏ quê hương đi xin ăn. Dần dà cháu theo bon bụi đời và cùng ăn cắp.

– Mày không sợ phải vào tù à?

– Thưa chú, người ta thì sợ, còn cháu đã đế
n đường cùng thì chẳng biết sợ là gì?

– Mày muốn được tha không? – Ông hỏi, lòng ông cảm thương với số phận trẻ thơ bất hạnh này.

– Tuỳ chú, với cháu cũng chẳng quan trọng gì?

– Thằng này lạ nhỉ, mày muốn ở tù à?

– Thưa chú, vào tù thì không ai muốn, nhưng với cuộc sống khốn khổ của cháu thì tù hay không cũng thế thôi.

– Nhưng nếu ra tù mà có cuộc sống ổn định thì sao?

– Đấy là ngoài mơ ước, cháu không dám nghĩ đến.

– Tao sẽ giúp mày, không phải đi tù, lại có một cuộc sống ổn định.

– Cháu đội ơn chú nhưng quả thực cháu không dám tin điều đó.

– Tao nói thực đấy, miễn là mày sống lương thiện.

Nói xong, ông trung uý hủy hồ sơ của gã. Gửi gã tại một nhà quen thân trong ngõ, trích tiền lương để nuôi gã. Kế đó, ông xin nhập hộ tịch và xin việc làm cho gã. Khi mọi việc xong xuôi, gã mới nói với ông:

– Cháu coi chú là người bố thứ hai. Nếu cháu bất hiếu, bất nghĩa sẽ trời tru, đất diệt.

Nghe gã nói, ông chỉ mỉm cười đôn hậu.

Suốt mười bảy năm ròng rã, gã không một lần đến thăm ông, cũng không một lời thăm hỏi. Đến một buổi chiều hè, ông từ Bát tràng đi qua cầu phao, rẽ vào một quán nước. Ông thấy một gã trung niên có vẻ quen quen, ông liền hỏi:

– Xin lỗi, hình như trước đây tôi có biết anh?

– Bác nhầm rồi, tôi chẳng biết bác là ai cả. – Gã nói luống cuống, mặt gã tái đi. Nói xong, gã vội vã ra khỏi quán nước và lên Honda phóng hết ga. Ông trầm ngâm hồi tưởng lại. Chợt ông ta nhớ ra thằng bé mang ơn ông và nhận ông là bố thứ hai có vết sẹo trên trán gần mày trái thì gã vừa rồi cũng thế. Thôi đúng nó rồi! – Ông thầm kêu lên. Ông giúp đỡ người không mong được trả ơn, ông chỉ ước mơ ai cũng giữ được tình người. Tại sao lại có kẻ vong ân, vô lương tâm đến thế? Trong giây lát, ông lại mỉm cười, cặp mắt nhân hậu nháy vài lần liên tiếp. Ông tự an ủi mình, cái xã hội này nó thế mà làm sao tạo ra được những con người có nghĩa, có nhân? Ông chẳng oán trách ai và tự khuyên mình, không vì cơn điêu loạn của đạo lý mà bỏ rơi mất tình người. Ông tin có đức Phật, có đấng tối cao và các vị thần linh. Sau này ông lập miếu để thờ Phật. Hằng ngày, cả buổi sáng ông ngồi thiền, đọc kinh và tập Yoga.

Năm 1960, ông mới ba mươi tuổi. Chàng trai ấy yêu một cô gái con gia đình tư sản, có hai người anh cộng tác với đối phương. Biết chuyện, cơ quan công an tìm mọi cách ngăn cấm và kiểm điểm nhiều lần: lập trường giai cấp và cách mạng để đâu mà một đảng viên, một sĩ quan công an dám yêu một cô gái thuộc thành phần đối lập. Họ giải thích, mọi quan hệ xã hội phải dựa trên tính giai cấp và tính đảng. Tình yêu phi giai cấp của đồng chí là con đường li khai với đảng, trở thành kẻ thù của đảng. Anh lạnh lùng trả lời:

– Xưa kia, tôi tham gia cách mạng là xuất phát từ lòng yêu nước, thương đồng bào. Đối với tôi – riêng cá nhân tôi – quan hệ giữa con người với con người bằng trái tim không có một hàng rào vô hình nào cản trở. Ngày nay để có một tình yêu chân chính mà phải xa rời hàng ngũ đảng, tôi xin vui lòng chấp nhận.

– Đồng chí không nhớ cách mạng vô sản là triệt để nhất trong lịch sử loài người hay sao? Một đảng viên được đảng giáo dục và đào tạo, nhất cử nhất động phải phục tùng sự lãnh đạo của đảng. Phá bỏ mọi phong tục, tập quán cổ hủ, nhân sinh quan và luyến ái quan lạc hậu, đảng tạo ra một mẫu người mới, hoàn toàn mới – con người xã hội chủ nghĩa, yêu và ghét dựa trên lập trường giai cấp. Yêu, ghét không rõ ràng dẫn đến trắng đen lẫn lộn, làm sao đồng chí thực hiện được nhiệm vụ đảng giao. Nếu đồng chí cứ tiếp tục lao vào một tình yêu mù quáng buộc đảng phải khai trừ đồng chí ra khỏi đội ngũ quân tiên phong của cách mạng.

– Tôi xin đảng tha tội. Một lần nữa tôi xin chịu sự kỷ luật của đảng.

Từ đó, anh trở thành người dân thường nhưng cấp ủy không buông tha anh, mở một cuộc điều tra bới lông tìm vết. Rốt cuộc anh bị đi tù vì tội ăn hối lộ – cái tội mà mọi người có chức, có quyền đều phạm phải. Về phần mình, anh cũng lên án, xám hối hành vi thiếu đạo đức ấy – một vết đen duy nhất trong cuộc đời. Sau khi mãn hạn tù, anh cưới vợ và làm mọi việc nặng nhọc để xây tồ ấm, có thời anh đã đi thồ cua, ốc từ Hòa bình về Hà nội bán. Năm 1970, anh mua một chiếc máy ép mì sợi, đem lên Hoà bình kinh doanh, khách hàng mua hàng mỗi ngày một đồng. Anh quy định, người nghèo khổ không có tiền mua đến xin thì cho trước. Kế đó là những người mua chịu. Thứ ba đến người làm thuê và cuối cùng là cơ quan nhà nước. Sau khi trả công người làm thuê, chi tiêu, ăn uống, anh cho tiền lãi vào một ống bương to, chỉ có hai loại tiền năm đồng và mười đồng. Cứ thế, gần hai năm thấy ống tiền đã chặt, anh ngừng làm việc và về Hà nội. Hàng trăm khách nợ, anh hẹn đúng ngày tháng ấy năm sau sẽ lên đòi. Đến hẹn, anh đi ô tô đến nơi làm việc, mời khách nợ đến. Nhiều người kêu ca năm ấy mùa màng thất bát, anh chỉ mỉm cười. Nhờ người đi mua rượu và lạc rang về, anh nói:

– Như đã hẹn với bà con năm ngoái, hôm nay tôi đến đây xin thanh toán nợ, song nghe tin xã nhà mất mùa, tôi chỉ mang theo bốn mươi đồng, chi hai đồng vé ô tô khứ hồi, còn lại ba mươi tám đồng mua rượu, lạc rang mời bà con uống với nhau cho vui. Và tôi tuyên bố xoá nợ tất cả.

Ai cũng cảm động vì cử chỉ hào hiệp của anh. Có người mừng, có người áy náy, nói:

– Nợ mà không trả được là một nỗi nhục, nay bác có hảo tâm xoá nợ cho mọi người, chúng tôi vô cùng cảm ơn bác. Tuy nhiên, chúng tôi phải mang một món nợ đời, khi nào trả được mới yên.

Anh mỉm cười tỏ lòng thương cảm, trả lời:

– Bà con ạ, muốn xã hội tốt đẹp thì sự công bằng chưa đủ. Ai chẳng có lúc trái nắng, trở giời, khó khăn, hoạn nạn. Do vậy, phải tồn tại cái cao hơn sự công bằng, đó là tình thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Hôm nay tôi giúp bà con, ngày mai có thể bà con lại giúp đỡ tôi hoặc người khác. Theo kinh nhà Phật “sinh ký, tử quy”, cuộc đời con người là cái có hạn trên cõi thế, cái vô biên thuộc về cõi Phật. Chúng ta sống với nhau như thế nào cho có tình người, ai cũng có một món nợ, đó là món nợ tình người. Người có tâm huyết với cuộc đời phải trả đầy đủ món nợ này trước ngày quy Phật.

Nghe anh nói, ai cũng khen anh là một người chí lý, chí tình. Nếu có nhiều người như thế, thiên hạ ắt phải thái bình. Anh từ tốn trả lời:

– Bà con quá khen tôi đấy. Người nào cũng có cái xấu, cái tham, không tham tiền của thì tham danh, tham địa vị hoặc háo sắc. Tựu chung đều là tham lợi. Khổng tử nói: “Lợi là cái gốc của loạn”, bậc thánh hiền mới không tham lợi. Khi nào loài người không còn ai tham lợi mới thực sự thái bình, điều đó là hoang tưởng.

Từ giã những người khách nợ, về Hà nội anh dặn vợ:

– Số tiền ta kiếm được hãy chia ra ăn dần, khi nào gần hết thì báo cho anh biết.

Anh nằm đọc sách ròng rã. Tiêu những đồng tiền cuối cùng, anh lại đi kiếm sống và bắt đầu làm cai thầu xây dựng.

Một hôm, đứa con trai thứ hai bị hai gã côn đồ đánh mặt mày sưng húp, thân thể, chân tay nhiều chỗ tím bầm.

Hôm sau, thằng Dũng cùng ba thằng bạn đi đánh phục thù. Khi bắt được một hung thủ, thằng Dũng nói:

– Các bạn ạ, tôi đã đau rồi. Bây giờ mình đánh nó, nó cũng chịu đau. Là một trận hành hung thì chẳng hay gì, tôi xin các bạn tha cho nó.

Cả bọn kéo về kể lại cho ông Đồng nghe, ông vô cùng sung sướng, nở một nụ cười kiêu hãnh, gọi vợ:

– Em ơi, con chúng ta đã trưởng thành rồi, mình phải mở tiệc ăn mừng,

Bà Hà rất tâm đầu, ý hợp với chồng. Hành động cao thượng của con làm bà cảm động quá đến rơi nước mắt. Ông luôn nhủ các con:

– Bố cho phép các con được đánh nhau trong những trường hợp đặc biệt, nhưng chỉ được đối địch với những kẻ lớn hơn mình để giữ thể diện, không được phép lấn át những kẻ yếu. Gặp sự bất bình trên đường phố, hãy bênh vực lẽ phải, bênh vực kẻ yếu hơn, đừng bao giờ a dua, phù thịnh.

Làm ở hợp tác 307, ông có một người bạn gái nhiều tuổi hơn, giàu có. Khi bà này đi định cư ở Tân tây lan, nói với ông:

– Tôi giúp chú mười lăm nghìn để chú xây nhà mà ở cho đỡ khổ.

Ông ngẩng mặt lên mái nhà, cười và nói:

– Trong nhà nhìn thấy trời, mây, trăng sao là nhà của Đồng. Nhà lợp mái ngói hay đổ mái bằng là nhà bà Ngọc. Em xin cảm ơn chị, khổ thì em chịu, em không thích ở nhờ.

Ông là đứa con độc nhất. Trước năm 1945, cụ thân sinh ra ông từ Hải phòng vào Sài Gòn làm việc và có ý định mang theo cả vợ con. Cụ bà không có anh em trai nên nói với cụ ông rằng, anh vào trước, em ở lại chăm sóc bố mẹ cho tròn chữ hiếu, vài năm sau, em và con sẽ theo anh. Lúc đó, cụ bà mới ngoài ba mươi tuổi. Nhiều người theo đuổi nhưng bà đều chối từ, ở vậy nuôi con. Khi thân quen với gia đình, tôi hỏi cụ bà:

– Tại sao hồi còn trẻ, bà không sang sông lần nữa?

– Mỗi khi có người dạm hỏi, hình ảnh bố anh Đồng như đứng trước mặt tôi. Nghĩ đến ông ấy, một người mẫu mực, tôi không thể…

Có lẽ do hoàn cảnh éo le đó mà cụ bà rất khó tính, ông Đồng hết lòng trông nom, phụng dưỡng mẹ già.

Ông Đồng và bà Hà là một cặp vợ chồng hoà thuận đồng thời cũng là một đôi bạn tri tâm. Sau này ở độ tuổi trên dưới lục tuần, ông bà vẫn thường xuyên ngồi bên nhau rủ rỉ tâm tình như những buổi đầu của tình yêu nồng thắm. Cả hai đều ham đọc sách. Những buổi nói chuyện về văn chương, về đối nhân xử thế của cặp vợ chồng lý tưởng này hình như kéo dài vô tận. Cả hai đều đồng nhất về nhân sinh quan, xã hội quan. Bà tôn thờ, phục tùng, chăm sóc ông, ông hết lòng thương yêu bà.

Nhà ông Đồng ở bên đường Đê la thành. Hồi đó, đúng như ông Lý nói, ông ta nghèo, nhà xiêu, vách nát. Khi mưa rào trong nhà như ngoài sân. Mảnh đất nhà ông lại thấp cứ mưa to là bị ngập.

Sau khi ông Lý giới thiệu chúng tôi với ông, ông nói:

– Đúng là hiện nay tôi đang cần thợ nhưng điều tôi mong muốn hơn cả là những trái tim đến với nhau cùng nhịp đập. Chúng ta cùng quây quần bên nhau để tồn tại. Tôi tự giới thiệu mình là một cai đầu dài, vâng, tôi đích thực là như vậy. Tôi không dám khẳng định rằng trong số hàng trăm ông cai hám lợi, bất nhân lại dẫn đến một ông trọng nghĩa khinh tài. Tuy nhiên, trước khi chúng ta làm việc với nhau nên nhất trí một quan điểm: buôn đầy bán vơi là có tội, mua một bán mười không có lỗi gì. Đấy là lẽ công bằng. Còn một bình diện khác quý hơn, làm sao khu xử với nhau cho có tình người.

Theo sự điều động của ông Đồng, ngày hôm sau, anh Thư và tôi vào trại thương binh Mưu nha làm. 4h30 sáng tôi và cháu Biển phụ nề có mặt ở nhà anh Thư để đi ô tô vào đó. Khô
ng biết có chuyện xích mích gì giữa anh và mẹ, anh quát tháo bà cụ ầm cả phố. Trên đường đi, anh không nói với tôi một lời nào, có lẽ vì tức giận với bà mẹ mà tôi cũng bị vạ lây. Tôi bị say ô tô, đầu óc quay cuồng, nôn mửa. Đến chín giờ xuống xe, tôi phải nằm ở vệ đường một hồi lâu mới vào được trại.

Buổi chiều, sau một giờ làm việc, có một thanh niên khoẻ mạnh đi xe đạp Phượng hoàng đến đưa cho anh Hương, tổ trưởng một bức thư của anh Đồng. Nội dung như sau: “Tôi nhờ bác Thư làm cho hai vỉ kèo nhà dân ở bờ sông. Các cháu sẽ đèo bác và đồ dùng về chiều nay”. Anh Thư không nhận lời, vì anh không muốn chịu trách nhiệm một việc gì. Anh nói:

– Cậu Tâm làm thay tôi.

– Ông Đồng tin tưởng bác – Anh Hương nói – Tôi chỉ sợ anh Tâm…

– Không sao, tôi xin khẳng định.

– Cháu đèo anh Tâm về để ngày mai làm nhé – Anh Hương quay sang chỗ tôi, anh tiếp – Anh có thể đảm nhận được không?

– Vâng – Tôi trả lời và về ngay buổi chiều hôm ấy.

Đến buổi chiều hôm sau, ông Đồng đến công trình. Lúc đó, hai vỉ kèo đã dựng xong, cặp mắt ông Đồng nháy vài lần, ông mỉm cười nói:

– Kèo dựng ngay ngắn lắm. Thế mà tôi cứ tưởng…

– Bác tưởng cái gì ạ? – Tôi hỏi trong lòng nghi ngại.

– Xin lỗi chú, chẳng có gì quan trọng cả

Chiều thứ bảy, cháu Biển ở trại Mưu nha về, nói với tôi:

– Cháu cứ tưởng bác Thư quý cậu lắm.

– Có việc gì đã xảy ra?

– Tối hôm cậu về, bác ấy nói chuyện với chú Hương, thợ thuyền gì nó. Tôi thương nó không nhà cửa đưa nó đi làm và tâng bốc nó thế thôi.

– Bác nói thế thì chết tôi rồi – Chú Hương sửng sốt nói – Tôi tin bác là anh Tâm làm tốt nên mới dám thưa ông Đồng, điều anh ấy về.

– Tôi muốn cho nó một ví dụ là nếu không có tôi, nó chẳng làm được gì?

– Hỏng việc của ông Đồng là lỗi tại bác nhé.

– Bác cứ yên tâm, tôi sẽ dồn khuyết điểm lên đầu thằng Tâm là xong việc.

– Không được, bác ạ. Ở đây tôi là người chịu trách nhiệm cơ mà. Thôi được, ngày mai tôi về Hà nội sớm để điều người khác làm.

Sáng sớm hôm sau, chú Hương về không gặp được ông Đồng, lại không biết địa chỉ công trình ấy nên viết thư để lại. Chú Hương lo lắng hai ngày sau đó, khi biết tin công trình đã lợp ngói, chú ấy mới yên tâm.

Cháu không hiểu những người đồng cảnh như cậu đối xử với nhau ra sao nữa? Chiều nay, bác Cần đi xe đạp mini về Hà nội, ra đường thì bác ấy đâm xe xuống ruộng, người và quần áo đầy bùn. Bác Thư nhìn thấy, bác cười khanh khách và kêu to:

– Chúng mày ơi, ra xem thằng Cần đâm đầu xuống ruộng kìa!

Chúng cháu vội lội xuống giúp bác Cần đưa về trại tắm giặt. Bác Thư tiếp tục cười thích thú…

Nghe Biển kể, tôi im lặng, trong lòng não nề, buồn chán. Cùng ăn cơm cân một thời gian dài còn vô cớ gây cho nhau nỗi bực bội nữa là… Tôi biết tính đố kỵ của anh Thư, anh ghen ghét với những người hơn anh dù là ở lĩnh vực nào. Anh làm mất uy tín tôi cũng chỉ vì anh sợ nghề mộc tôi hơn anh. Cái nghề bất đắc dĩ này hơn hay kém, giỏi hay không, làm sao anh phải bận tâm! Mặt khác, do tính thất thường, anh nói bừa để vơi bớt khối mâu thuẫn đang chất chứa trong đầu. Anh gây ra nỗi buồn bực cho người để anh biến thành nguồn giải trí. Anh làm điều tốt không mấy ai sánh kịp nhưng anh ác khẩu cũng không mấy kẻ ngang tầm. Có lẽ chính xác hơn, nhiều người nói anh là một thằng điên.

Làm tại trại thương binh Mưu nha, có một cô gái tên là Thái thổ (thổ là ngõ Thổ quan cũng có nghĩa là nhà thổ)

Ả làm cấp dưỡng cho thợ. Mặc dù đã có vợ con ở Cầu diễn, anh Thư vẫn săn đuổi Thái thổ. Anh còn hứa cho ả chiếc mini vừa mua lại của anh Cần. Thái thổ không ưng, than thở với anh Hương:

– Chú Thư cứ tán tỉnh cháu.

Anh Thư biết chuyện, buổi tối anh đạp xe ra Hà nội, đến nhà Thái thổ. Anh nói với bố mẹ ả.

– Con gái ông bà xấu lắm, nay bờ bụi, mai bướm hoa với nhiều người. Tôi cũng đi lại với con gái ông bà năm lần. Bốn lần tôi đã thanh toán sòng phẳng, riêng lần đêm qua, tôi đến trả tiền cho ông bà. Nói xong, anh Thư ném năm đồng xuống bàn rồi đi ngay làm bố mẹ Thái thổ ngẩn người ra như chết đứng, chẳng kịp hỏi han gì.

Để trả đũa một người mà anh không vừa ý, anh có thể bịa đặt trắng trợn mọi chuyện, không ai lường được. Tất nhiên, nhất thời anh bôi nhọ được đối thủ của mình. Và sau khi sự thật được phơi bầy ra ánh sáng sẽ phản tác dụng là anh bôi nhọ chính mình. Anh hành động theo cảm tính không cần biết hậu quả ra sao, xấu hay tốt. Anh chỉ thích nghe lời ca ngợi mình, không tán thành một ai góp ý kiến dù sai hay đúng. Anh coi cái tôi là tuyệt đối, cái tôi bao trùm lên tất cả. Phê bình anh là sự xúc phạm, ngay tức khắc anh coi người đó là kẻ thù. Cuộc đời anh, thù nhiều hơn bạn, thù là mãi mãi, còn tình bạn chỉ là nhất thời, tạm bợ. Trong tâm hồn anh không có lòng bao dung và độ lượng nên không thể có thù hoá bạn, ngược lại bạn hoá thù đối với anh như một quy luật.

Mỗi lần nói chuyện với anh, tôi phải lựa lời, dò ý như người dò dẫm bước vào một bãi mìn. ấy thế mà t
ừ khi ra tù, anh là người tôi gần gũi nhất, anh giúp tôi nhiều nhất.

Phải chăng đây là một mối duyên nợ của hai tâm hồn đối nghịch nhau về nhân sinh quan?

Anh Thư được về trước tôi gần hai năm, ngoài vài bộ lao động, anh không sắm được một thứ gì có giá trị, bữa ăn của anh hằng ngày rất đạm bạc, một cạp lồng cơm và vài chục hạt lạc kho. Đại bộ phận số tiền anh kiếm được, anh mở những cuộc viễn du đến Nam định để tìm kiếm bạn đời mới. Anh là kẻ dại gái, hão huyền, rốt cuộc xôi hỏng, bỏng không.

Cuối tháng sáu, ông Đồng nhận thi công cho xí nghiệp Nam thái một nhà kho trên mảnh đất hình thang, một đầu hồi mười mét, đầu hồi kia sáu mét. Theo bản vẽ của bên A, làm hai vỉ kèo quá giang chồng. Xí nghiệp gần ô chợ dừa nên anh Thư bảo tôi về nhà chị Hoa để kiểm tra lại kích thước vỉ kèo trước khi làm. Lòng tôi ái ngại khi phải đưa anh Thư về nhà chị, dễ dàng xảy ra hiện tượng không hay. Anh Thư mang theo bảng số logaritte, anh nói:

– Tôi có cái này để tính toán, đồng thời để bọn xí nghiệp biết rằng đầu óc mình không đặc như dùi đục.

– Không cần đến bảng số đâu, anh ạ. Ngược lại, nếu họ biết rằng mình dùng cái này, họ sẽ cười cho.

– Thế à, tôi tưởng là phải cần đến…

Anh chỉ khoa trương thế thôi, thực sự anh chẳng biết tra bảng số.

Khi xem xét lại vỉ kèo, tôi thấy một vài chi tiết tính toán sai, tôi nói với anh Thư, phải đến xí nghiệp chỉ cho họ biết. Lúc đó đã gần trưa, anh Cần cũng đến chơi. Chị Hoa mời hai người ở lại ăn cơm. Anh Hoàng ở nhà làm tôi càng áy náy, không biết nói thế nào cho phải. Trong bữa, anh Thư, anh Cần và tôi vừa ăn, vừa nói chuyện. Anh Hoàng chau mày lại, nói:

– Ăn cho nhanh lên!

Anh Thư trừng mắt nhìn anh Hoàng. Tôi nín thở vì sợ, cũng may mà thời gian trôi qua trong im lặng. Sau bữa, anh không uống nước, vội rủ tôi, anh Cần đi khỏi nhà chị. Anh Thư trách tôi:

– Thế mà cậu không cho chúng tôi biết trước.

– Rất tiếc là đã không nói trước với các anh về tính keo bẩn của người anh rể. Còn hôm nay, em vô cùng khó xử.

– Tôi định ném bát vào mặt thằng Hoàng nhưng nghĩ cậu còn phải ở nhờ nhà hắn nên thôi.

– Cảm ơn anh đã kiên nhẫn được.

– Có lẽ cậu ở đấy nhục lắm?

– Vâng, số phận đã trói buộc em vào nơi nhục nhã này.

– Ừ, CS tha mình ra khỏi nhà tù và buộc mình phải ở một nơi chứ có được lựa chọn đâu? Muốn mua nhà riêng thì phải có tiền, đúng là từ một nhà tù hẹp ra nhà tù rộng.

Chiều hôm ấy, gặp tay trưởng phòng kỹ thuật, anh Thư nói:

– May mà chúng tôi kiểm tra lại bản vẽ trước khi làm, bản vẽ của các anh có chi tiết bị sai.

– Ông phó mộc nói gì khôi hài thế? Chả lẽ phòng chúng tôi toàn kỹ sư lại không bằng mấy ông phó mộc? – Giọng tay trưởng phòng đầy vẻ mỉa mai, chế giễu.

Mặt anh Thư tái lại, mặt đỏ lên vì tức giận. Anh nói to như quát lên:

– Đây các anh xem lại những chi tiết này. Các anh muốn áp đặt chân lý cho những con số chăng?

– Anh Thư để em nói với anh ấy – Vừa nói tôi vừa kéo anh Thư ra ngoài – Anh không phải bận tâm để em khu xử với họ.

Để anh Thư ở ngoài, tôi lại vào gặp tay trưởng phòng.

– Ông phó nhỏ thấy tôi nói có đúng không? Sống mỗi người một nghề, chết mỗi người một mồ, các ông cầm cưa, cầm đục, còn chúng tôi cầm bút. Tính toán là nghề của chúng tôi.

– Các anh được học hành, đỗ đạt cao hơn chúng tôi, việc đó không cần tranh luận. Tuy nhiên, anh nên hiểu rằng, thần thánh cũng có lúc nhầm. Ở đây chúng tôi chỉ đề nghị các anh xem lại mấy chi tiết thôi.

– Hài hước thật, mấy ông phó mộc lại kiểm tra sự tính toán của những kỹ sư. Thôi được…

– Không có gì là phức tạp, chúng ta chỉ đi đến một chân lý rất đơn giản…

Chợt thấy một nhân viên vào, tay trưởng phòng nói:

– Này đồng chí kỹ sư Quý. Thợ nói bản vẽ nhà kho đồng chí tính sai, đồng chí hãy coi lại để chiều mấy ông phó.

– Thợ bảo em tính sai à? – Quý hỏi lại, hắn mỉm cười đắc thắng – Thú vị nhỉ!

– Ừ, cứ coi lại rồi chỉ cho họ biết.

– Có sai chúng tôi cũng không chịu trách nhiệm về việc mất công, tốn vật liệu nếu cứ làm – Tôi nói.

– Ông thợ ngồi đây chờ tôi ít phút – Quý nói, rồi cầm bản vẽ, máy tính ra xem lại.

Khoảng nửa giờ sau, Quý nói:

– Em tính nhầm mấy chi tiết, anh Ban ạ.

– Đồng chí làm ăn thế à? Tôi không ngờ cái đúng lại thuộc về mấy ông phó mộc – Ban mặt đỏ, tía tai vì tức giận.

– Nhầm lẫn cũng là chuyện bình thường thôi ông trưởng phòng ạ. Ông nói khôi hài cũng đúng, khôi hài ở chỗ ông tự cho mình quyền độc đoán về chân lý – Tôi ra ngoài gặp anh Thư, tôi nói:

– Việc xong rồi, anh ạ.

– Cái đúng thuộc về ai?

– Về chúng ta. Chỉ tức cười là họ quá tự đắc, tự ái về cương vị.

– Bọn ngu! Cộng sản chỉ đào tạo lấy số lượng để tuyên truyền, lừa bịp.

– Cái chung, anh nói đúng nhưng trong trường hợp này, họ chỉ vô trách nhiệm và giàu lòng tự ái.

– Tại sao tính toán sai nếu không phải là trình độ?

– Không phải lập phương trình đường bay của con tàu vũ trụ, ở đây chỉ là những phép khai phương rất giản đơn, họ thừa khả năng. Như em đã nói, họ vô trách nhiệm. CS đào tạo ra một khối lượng khổng lồ trí thức hưởng lương theo địa vị, chẳng muốn làm gì động óc. Người nhiệt tình với công việc cũng giống như người ngồi chơi xơi nước về quyền lợi miễn là đủ ngày đến cơ quan. Do cơ chế kinh tế chỉ huy của chủ nghĩa xã hội đã tạo ra đội ngũ tri thức với bộ óc theo quán tính ì. Tính năng động có chăng là việc giành giật mua hàng căngtin, tham ô và ăn hối lộ.

– Cậu nói với ông Đồng cho một vài thợ phụ mà làm. Tôi vào trại Mưu nha đây.

– Sao anh không làm với em cho vui?

– Tôi rất thích làm với cậu nhưng hàng ngày phải giáp mặt với bọn kĩ thuật, tôi không chịu được, có khi xảy ra chuyện không hay.

Nói xong, anh Thư lại đạp xe vào trại Mưu nha. Ông Đồng điều đến cùng làm với tôi một thợ phụ.

Khẩu độ vỉ kèo lớn, phải làm ở nơi không có bóng mát, trời nóng như dội lửa, chúng tôi uống rất nhiều nước mà vẫn khát. Buổi tối về nhà chị, tôi vẫn uống nước nhiều, anh Hoàng nói:

– Cậu uống ít nước chứ!

Tưởng là lời thiện chí của anh, uống nước nhiều có hại, tôi trả lời:

– Làm dưới trời nắng nóng, khát nước không thể nào chịu nổi, anh ạ.

– Ở cơ quan, xí nghiệp sẵn nước, sẵn chất đốt cậu nên uống thật nhiều. Còn ở nhà, nước khó khăn, dầu củi ít, cậu nên uống ít thôi.

– Ra thế – Tôi thoáng nghĩ – Nếu hạn chế được mình thở, có lẽ anh ấy cũng không từ. Linh hồn của Moliere nếu biết được tính keo kiệt của anh Hoàng, chắc ông phải hối tiếc vì đã viết Appagon.

Mấy ngày sau, tôi bị sốt cao, cửa hàng thuốc chỉ có khung chỉ chữa bệnh cảm cúm. Buổi chiều, anh Hoàng về đến cửa nhà, anh vội chạy ra sân kêu to:

– Ốm hết, ốm hết!

Nửa tỉnh, nửa mê nghe anh Hoàng nói, tôi hỏi:

– Có việc gì đấy anh?

– Kể từ nay khi bị ốm, cậu ra sân mà uống thuốc.

– Vâng – Tôi trả lời và ngẫm nghĩ, nơi đây có thể còn khắc nghiệt hơn nhà tù.

Cũng may là bệnh sốt mau qua, mất hai ngày phải nghỉ, tôi lại đi làm. Một buổi tối, chị Hoa nói với tôi:

– Anh ấy và các cháu phàn nàn, cậu có mười một cân lương thực trong sổ không đủ cho cậu ăn. Do đó cậu phải đóng thêm tiền đong gạo ngoài.

Thực ra, tôi không muốn ăn ở nhà nữa. Anh Hoàng thấy miếng ăn là tối mắt lại. Anh tham lam, đối phó mất tư cách tối thiểu nhất của một con người. Nhưng tôi chỉ ngủ nhờ mà không ăn ở nhà chị sẽ là cái cớ để gia đình này gây sự với tôi nhiều hơn nữa. Do vậy tôi trả lời:

– Chị cho em ăn một bữa vào một buổi chiều.

– Còn bữa trưa, cậu ăn ở đâu?

– Em ăn ở ngoài.

– Chỉ có ở ga được bán cơm nhưng đắt lắm, em làm không đủ ăn đâu. Còn mậu dịch bán cơm thu tem phải xếp hàng chờ chực, nếu chậm cũng hết.

– Buổi trưa, mua được cái gì em ăn cái đó, không có cơm thì ăn cái khác. Dù sao em chịu khổ cũng quen rồi.

Chị Hoa gật đầu đồng ý. Chị làm ca ở xí nghiệp dệt bạt hàng Chuối. Chị làm ca sáng thì bữa ăn của tôi bình thường. Chị làm ca chiều, bữa ăn của tôi ở nhà chị là một nỗi bận tâm. Anh Hoàng trực tiếp lấy gạo theo đúng mức ăn của từng người ghi trong sổ để nấu cơm. Đến bữa cơm, anh xới hai bát to, ấn thật chặt, anh nói:

– Một bát để mẹ chúng mày về ăn thêm, còn một bát để chúng mày ăn sáng mà đi học.

Bữa nào cũng thế, tôi ăn được hai bát thì cơm trong nồi hết, tôi đứng dậy. Anh Hoàng và các cháu lại chia nhau ăn hai bát cơm kia, những thủ đoạn đối phó với miếng ăn thật vô cùng ghê tởm. Sau bữa tôi lại ra đầu ô ăn thêm một bát phở hoặc một cái bánh mì.

Nhà chị nóng như hun, điện thất thường, lúc có, lúc mất. Nhiều đêm tôi ngủ ngoài sân không buông màn cho đến sáng, muỗi nhiều tay vơ được, tôi vừa mê ngủ vừa đập muỗi. Những đêm mưa rào, trời mát, cả nhà phải thức để chống lụt bởi nền nhà thấp hơn ngoài sân, sân lại thấp hơn đường đi đến hơn một mét. Hễ mưa to là nước xối xả chảy vào nhà, chị Hoa, anh Hoàng gọi các con thức dậy, tất bật lấy đất đắp thành con đê nhỏ ngăn nước. Về mùa hè, nhất là ngày nắng nóng, các vòi nước ở ô chợ dừa đều không chảy, người ta dùng xe đạp thồ nước từ phố Quốc tử Giám, Ngô sĩ Liên. Nơi lấy nước cũng không dễ dàng gì, xếp hàng mấy chục đôi thùng, thành ra thức suốt đêm, lấy được một vài gánh nước là may mắn. Có bữa nhà chị không có nước để nấu cơm. Tôi không tắm giặt ở nhà chị, nếu chỗ làm không có điều kiện thì vào nhà tắm công cộng. Đối với người dân nghèo thành phố, nước lã cũng thành mặt hàng xa xỉ.

Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 4

Tháng Bảy 18, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Phần 2 - Những kẻ khổ nhục

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: