Eventfulday's Blog

Kỳ 25 – NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 5

NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people

NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 5

Ông Minh tù ở trại Vĩnh quang, được về năm 1974. Năm 1963 ông lên đường vào trại, gia đình bị cưỡng bức đi kinh tế miền núi. Năm 1969, gia đình ông cũng như hàng vạn gia đình khác liều lĩnh về Hà nội, đang trong tình trạng chiến tranh nên đảng khoan nhượng. Ông có tám người con, khi ông vắng nhà, vợ đi ngoại tình và ly dị. Chẳng phải riêng ông, phần lớn những người đi tù đều rơi vào cảnh vợ bỏ, con hư. Đầu năm 1976, vợ ông vào Nam. Bốn đứa con ra ga tiễn mẹ, chúng thấy bà khoác vai một gã kém tuổi đứa con trai cả của bà. Gã này đã có thời là con rể tương lai. Cả bốn đứa đứng xa khóc nhìn mẹ rồi bỏ về.

Tám người con của ông đều hư hỏng, bội bạc. Với tuổi gấn sáu chục, biết không thể trông cậy vào con, ông mở nhiều cuộc công du để tìm người bạn đời khác trên miền đất lạ. Ròng rã nhiều năm, ông lui tới miền quê tỉnh Nam hà nhưng đều xôi hỏng, bỏng không. Ông lại tiếp tục mở những cuộc hành trình lên miền thượng du, cuối cùng ông đã thực hiện được mục đích. Người tình của ông ở Mù cang chải, sinh được một bé gái mấy tháng thì ông về cõi. Ông làm nghề mộc, năm 1974 anh Thư được về cùng làm mộc với ông. Tháng tám năm 1976, ông ký hợp đồng làm nhà tạm cho công ty vận tải cấp một với danh nghĩa là tổ trưởng mộc của hợp tác xã 307. Đương nhiên, ông là cai của mười một người, trong đó có tôi và anh Thư. Sau đó, tổ mộc làm cho ông Lã văn đồng theo giá khoán thoả thuận. Tôi nói với ông Minh:

– Khi bác nhận công trình của cơ quan, bác là cai, cháu làm thuê. Còn hiện tại đều làm thuê cho ông Đồng, vậy tiền công phải được chia công bằng, sòng phẳng.

Ông Minh đồng ý. Khi làm việc, tôi có thói quen theo dõi nhân công (nhớ chứ không ghi) và kết quả công việc để tiên liệu hiệu quả lao động. Qua ba công trình liên tiếp, ông Minh thanh toán tiền công rất thấp so với sự tính toán của tôi, buộc tôi phải tìm ra số liệu xác thực qua ông Lã văn Đồng. Thì ra ông Minh tăng số công lên và bớt khối lượng công việc đã làm để ăn chặn với những bằng chứng ông Minh không thể chối cãi. Tôi quyết định không làm với ông Minh nữa. Người chống lại tôi quyết liệt là anh Thư. Anh nói:

– Quả thực ông Minh có bớt lại một số tiền để mua hàng hối lộ kiếm việc làm.

– Hối lộ cho ông Đồng hay ông cai nào? – Tôi biết anh Thư cũng chẳng xơ múi gì, chỉ vì nghe những lời đường mật mà anh Thư bênh vực cái sai “gà què ăn quẹn cối xay”.

– Cậu nói khôi hài quá, việc gì phải hối lộ cai? Ông Minh hối lộ cán bộ nhà nước để có công trình.

– Nếu thế ông Minh sẽ là cai. Thử hỏi, công trình nhà tạm ở công ty vận tải, em được bảy đồng một công, trong khi đó ông Minh có thể được hàng trăm đồng một ngày, ông có chia cho ai không?

– Không cần nói dài dòng, tôi quyết định cậu phải làm ở hội mộc này. Nếu cậu ly khai, cậu sẽ chịu hậu quả.

– Sao anh lại có quyết định sai trái ấy?

– Nếu cậu không nghe tôi, thành phố Hà nội không phải là nơi cậu dung thân. Tôi sẽ làm bất cứ giá nào để ngăn chặn việc làm của cậu.

– Tuỳ anh – Vì chịu ơn anh nên tôi không có lời phản ứng cứng rắn, Khi làm một việc gì, tôi suy tính rất kĩ càng và khi đã quyết thì thực hiện đến cùng.

Tổ mộc chia thành hai nhóm. Nhóm ông Minh có anh Thư, ba đứa con trai của ông ấy và hai người nữa. Nhóm của tôi có ba thanh niên mới học nghề nhưng có sức khoẻ và nhiệt tình. Anh Thư đến nói với ông Đồng:

– Chúng tôi thương thằng Tâm, thực sự nó chưa đảm nhận được việc gì. Nếu ông giao việc cho nó là hoàn toàn hỏng, bán nhà cửa để đền có ngày.

– Tôi xin lỗi bác. Chú Tâm đến với tôi bằng trái tim. Vì vậy tôi cũng đón tiếp chú ấy bằng một tấm lòng chân thực. Tôi nghĩ rằng, quan hệ với nhau lấy nhân tình làm gốc sẽ không bao giờ có hại.

– Không biết làm dẫn đến bê bối thì sao?

– Mộc xây dựng là một nghề đơn giản, tôi không tin là chú Tâm chịu bó tay. Nếu gặp khó khăn chúng tôi sẽ mau chóng tìm ra lối thoát. Các bác là những nạn nhân của sự bất công, tại sao lại cư xử bất công với những người đồng cảnh của mình? Nếu không giúp đỡ, thương yêu nhau được nên để mỗi người một nẻo đường kiếm sống.

Sau một thời gian anh Thư tìm mọi cách để bôi nhọ uy tín của tôi không có kết quả gì, anh viết một bức thư gửi chị Hoa với nội dung như sau: “Kính gửi anh Tâm. Anh làm ơn cho tôi xin lại bộ đồ mộc để tôi kiếm ăn. Tôi lưu ý anh phải trả ngay, không được chậm trễ. ”

Không biết cá tính của anh Thư, chị Hoa cứ trách tôi, tôi đành ngậm ngùi im lặng, không dám nói với chị về sự đổ vỡ này. Còn bộ đồ mộc anh Thư cho tôi, tôi dùng đến thời điểm đó đã hỏng gần hết. Tôi có thể trả lại anh Thư những đồ tôi mới sắm nhưng trước hết tôi phải nghỉ việc vì thiếu đồ dùng. Tối hôm ấy, tôi đến nhà anh Thư để thương thảo. Thật lạ lùng, anh Thư lại vô cùng niềm nở. Anh nói:

– Từ nay, chúng ta khép kín quá khứ lại, mở đầu những trang quan hệ tốt đẹp mới. Tôi lại cộng tác làm ăn với cậu.

– Còn ông Minh?

– Để ông ấy đi con đường riêng. Không làm với cậu tôi thấy buồn và nhớ lắm.

Nói xong anh Thư siết chặt tay tôi. Từ hồi đó, quan hệ giữa hai người không có gì nổi sóng. Anh Thư dành cho tôi một tình cảm thân ái. Tuy nhiên do tính khí thất thường về cách đối xử của anh với người khác và công việc có những chặng thời gian anh Thư xa tôi.

* *

*

Ba ngày liền, khi tôi đi làm thì ở nhà chị có người đến hỏi tôi, họ nói là cán bộ sở công an. Ngày thứ tư tôi nhận được giấy gọi với nội dung sau: “… Đúng hai giờ chiều ngày 3 – 12, Nguyễn Tâm có mặt ở 87 Trần hưng Đạo. Nếu sai phải hoàn toàn chịu trách nhiệm… ”

Chiều hôm ấy, tôi đến cổng gác công an thành phố đã có người đợi sẵn, hắn khoảng năm mươi tuổi, tiếng nói lơ lớ miền Trung.

– Anh là Nguyễn Tâm?

– Vâng, thưa ông!

– Anh theo tôi – Hắn ra lệnh.

Hắn dẫn tôi đến phòng số chín, có hai người ngồi chờ. Một người khoảng bốn mươi tuổi, mắt xếch, khuôn mặt hung dữ tợn, một thanh niên khoảng hai mươi nhăm tuổi, có thể gã này đã nhiều lần đến nhà chị tôi. Gã mắt xếch đi đóng kín các cửa lại, bật hai đèn ống, và ra lệnh cho tôi ngồi xuống đối diện với ba người của gã. Gã miền trung nói mở đầu:

– Từ ngày anh được về đến nay, chúng tôi thường xuyên cử người đến thăm hỏi, tìm hiểu cuộc sống của anh. Được biết anh có việc làm, sinh hoạt hàng ngày ổn định, sở có phần yên tâm. Vậy hôm nay, chúng tôi gọi anh đến đây để nghe anh trình bày, cho rõ ràng hơn.

– Cảm ơn ông, từ ngày tôi về cuộc sống cũng bình thường như nhận xét của ông…

– Anh hãy im – Gã mắt xếch trừng trừng nhìn thẳng vào mặt tôi quát – Bình thường cái gì? Chúng tôi muốn anh phải trình bày cho rõ. Từ ngày được về đến nay, anh đã quan hệ với những phần tử nào nói xấu chế độ ra sao, viết lách những gì đề chống đảng?

– Tôi vô cùng ngạc nhiên về câu hỏi nặng nề của ông – Tôi bình tĩnh trả lời – Nếu tôi có sai phạm gì xin ông cho biết?

– Chúng tôi muốn sự thành khẩn của anh. Nếu ngoan cố, pháp luật tiếp tục thẳng tay trị tội. Anh quan hệ với tên Thư thế nào?

– Cùng làm mộc ở hợp tác xã 307, chỉ có thế thôi, thưa ông.

– Còn ngoan cố à? Hai tên phản cách mạng làm việc với nhau hàng ngày mà không nói xấu chế độ?

– Cùng ở một nhà tù ra, cái gì tôi biết thì anh Thư cũng chẳng lạ gì. Thưa ông, chẳng còn gì để nói với nhau.

– Trong tù, hai anh thân nhau, hay nói chuyện với nhau à? – Gã miền Trung ôn tồn hỏi.

– Thưa ông, trong tù chúng tôi đều có thể trao đổi, chuyện trò, không cứ gì anh Thư.

– Các anh có hay nói xấu chế độ không?

– Không, chúng tôi không nói xấu chế độ, mà chỉ nói sự thật.

– Anh cho một ví dụ?

– Thời thực dân phong kiến, người bị áp bức có thể tha phương, cầu thực. Còn thời nay không thể, bị trói lại, bịt mắt, bịt mồm để đánh.

– Như thế mà không phải nói xấu chế độ à?

– Thưa ông, đó là sự thật chứ không phải nói xấu.

– Tôi hỏi anh, ai bị áp bức? – Gã mắt xếch lại quát.

– Chúng tôi, thưa ông!

– Anh bị áp bức thế nào? – Gã thanh niên ngồi giữa làm thư ký cũng hỏi xen vào.

– Thưa ông, tôi đi học thì bị đuổi, khi trưởng thành không xin được việc làm để kiếm sống vì lý lịch gia đình. Như thế có phải là bị áp bức không?

– Cách mạng chỉ mang lại quyền lợi cho nhân dân lao động. Các anh thuộc thành phần đối lập phải chịu thiệt thòi – Gã miền Trung giải thích.

– Chúng tôi bị áp bức, bị vùi dập đã đành. Còn người dân mới được hưởng những lời hứa tốt đẹp của đảng mà thôi.

– Mày phủ nhận tính ưu việt của chế độ đối với người lao động à? – Gã mắt xếch quát to và lấy tay đập mạnh xuống bàn.

– Tôi xin ông hãy bình tâm. Ông có to tiếng trấn áp tôi thì cũng chỉ làm cho ông mệt. Với tôi đã quen rồi.

– Còn gì nữa, anh nói tiếp đi? – Gã miền Trung hỏi.

– Tôi cho rằng, hiện tại quyền lợi là của đảng, còn tương lai là của nhân dân…

– Đảng đã, đang mang lại quyền lợi cho người lao động. Do vậy nhân dân ta tin tưởng tuyệt đối vào đảng, một lòng một dạ đi theo cách mạng. Điều đó đã được minh chứng bằng công cuộc chống Mỹ, cứu nước thu được thắng lợi hoàn toàn. Anh nghĩ gì về sự kiện trọng đại này? – Gã miền Trung hỏi.

– Thưa ông, chiến thắng quân sự không có sức thuyết phục về tính ưu việt của chế độ. Những chiến tích của quân Nguyên, Macédoine, Napolêon, Hitler… không minh chứng được rằng các thể chế đó là được lòng dân.

– Theo anh, sự nghiệp của đảng rồi cũng sụp đổ như các đế quốc đó chăng?

– Thưa ông, đúng thế.

– Mày đừng có mơ tưởng hão huyền. – Gã mắt xếch lại quát – không bao giờ cách mạng mất cảnh giác để bọn phản cách mạng trỗi dậy, nghe chưa?

– Thưa ông, chính học thuyết Marx cũng viết “mọi sự vật đều biến đổi phát sinh, phát triển và diệt vong”. Với sức tàn, lực kiệt, chúng tôi không có hy vọng gì cuộc đời mình nữa. Và có thể trọn
đời phải sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên mọi thể chế tất yếu phải có ngày cáo chung. Chỉ có thời gian và vũ trụ là vĩnh tồn.

– Hàng chục năm tù, mày vẫn chưa chịu cải tạo?

– Thưa ông, bạo lực không thể ép buộc con người nhận thức sai một chân lý. Thời gian tù tội làm cho con người yếu sức đi, cơ thể bị tàn phế. Và từ đó có thể làm cho người đó hoảng sợ trước hình phạt mà thôi. Đương nhiên, tôi cũng hiểu rằng chân lý thuộc về kẻ mạnh.

– Lời nói và thái độ ngoan cố của mày trước cơ quan pháp luật là chứng cớ để tiếp tục đưa mày vào trại – Gã mắt xếch lại nặng lời.

– Thưa ông, nếu tôi nói trước đám đông hoặc rải truyền đơn, các ông mới có thể buộc tội phản tuyên truyền. Còn hiện tại các ông hỏi, tôi phải nói thật những ý nghĩ của mình. Chả lẽ đảng không muốn nghe những lời nói thật? Còn những kẻ trước các ông tỏ thái độ khúm núm, vâng dạ thì đó chỉ là những cử chỉ và lời giả dối. Xin lỗi, tôi vốn tin vào số mệnh, nếu có một biến cố nào lại đến với tôi để chấm dứt hoặc rút ngắn cuộc đời khổ nhục, vô vọng, biết đâu cũng là một điều may? Thưa các ông, con vật khi bị đánh còn được kêu, huống chi con người khi bị đòn đau, đảng cũng nên ân xá cho tội khóc than.

– Chúng tôi gọi anh đến đây để xem xét thái độ của anh với cách mạng. Còn trại tập trung hiện nay phải dành cho bọn ngụy quyền Sài gòn. Tất nhiên kẻ nào vẫn ngoan cố chống lại thì cánh cửa nhà tù sẽ mở rộng để đón vào – Gã miền Trung nói.

– Thưa ông, pháp luật của nhà nước giờ đây có thay đổi gì không? Như xưa kia, các trại tập trung tiếp tục xây dựng thêm mới chứa hết người, mà thực tế có mấy người dám chống lại đảng đâu.

– Chính sách của đảng trước sau như một. Những kẻ có tư tưởng không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa tức là chống lại, tức là kẻ thù của đảng – Gã mắt xếch nói – một xã hội còn giai cấp đối lập, còn tồn tại các tôn giáo là còn kẻ thù của đảng. Thế giới còn các thế lực đế quốc phản động cho các giai cấp đối lập thì những người Cộng sản phải phát động những cuộc chiến tranh cách mạng để tiêu diệt chúng.

– Chúng tôi thay mặt sở yêu cầu anh thực hiện hai vấn đề. Thứ nhất anh phải kịp thời tố cáo những sai phạm của kẻ khác, thứ hai anh phải tạo điều kiện xây dựng gia đình. Làm được việc này, cuộc sống của anh sẽ ổn định và chúng tôi cũng bớt phần phải chú ý đến anh. – Gã miền Trung nói.

– Thưa ông, tôi xin trả lời vấn đề thứ nhất, tôi cũng như mọi người đi tù về ngày đêm phải lo kế sinh nhai không còn thời gian nào để quan tâm đến viêc khác. Vả lại, đất nước đã thống nhất, vũ khí tuyên truyền sắc bén trong tay đảng nên chẳng ai dại gì gây tai vạ vào thân. Vấn đề thứ hai, chúng tôi cũng đang mong ước thế nhưng thực hiện được xem ra còn xa lắm. Các ông chẳng lạ gì, do sự tuyên truyền của đảng, đại đa số người dân coi chúng tôi như những bệnh lậu, giang mai, ghẻ lở… liệu có người đàn bà nào dám lấy? Mặt khác, muốn xây dựng gia đình thì phải có nhà riêng, trong lúc tay làm hàm nhai còn chật vật, lấy tiền đâu ra mua sắm?

– Muốn có tương lai, anh phải cố gắng dành dụm tự tạo ra phương tiện. Còn đối tượng, nếu anh xác định được vị trí của mình thì chẳng khó khăn gì lắm. Xưa kia các cụ có câu: môn đăng hộ đối, ngày nay cũng thế thôi. Anh có vết đen với đảng thì nhiều người đàn bà có vết nhơ với xã hội. Chẳng hạn gái làm tiền, lừa đảo, buôn gian, bán lậu phải đi cải tạo về. Thực ra, xếp hạng thứ trong xã hội họ còn cao hơn anh đấy. Vết nhơ của họ được đảng dễ dàng tha thứ hơn vết đen của các anh nhiều – Gã miền Trung trả lời.

– Tôi cảm ơn lời nói chí tình của ông. Chúng tôi cũng biết rõ vị trí của mình.

Từ đầu đến cuối buổi thẩm vấn, trấn áp, gã thanh niên chỉ hỏi một lần, thời gian còn lại, gã cắm đầu viết liên tiếp. Viết xong, gã bảo tôi kí vào biên bản, kí vào lề từng trang, cuối cùng ghi rõ họ tên.

– Các anh gọi tôi đến đây như một buổi hỏi cung?

– Tội phản cách mạng, một vết đen khắc sâu vào cuộc đời mày. – Gã mắt xếch quát – Nay đảng tạm tha nhưng vết đen còn đó. Bất cứ lúc nào sở cũng có thẩm quyền gọi mày đến hỏi tội.

Tôi lặng lẽ bước ra khỏi phòng, gã miền Trung dẫn tôi ra cổng gác. Gã ôn tồn nói:

– Anh chưa trực tiếp đứng trong hàng ngũ đối phương cấm súng chống lại cách mạng, tôi khuyên anh hãy sống lương thiện và lập gia đình. Chắc chắn thành kiến của xã hội đối với anh sẽ mờ dần.

– Tôi cảm ơn ông.

Tôi thất thểu đi bộ về nhà chị, tâm hồn chìm đắm trong nỗi suy tư. Có thể sắp đến đại hội đảng, chúng gọi tôi đến sở để uy hiếp tinh thần. Tôi đang sống những tháng năm vô vọng, khổ nhục, quá khứ, tương lai vẫn triền miên như thế. Không tìm thấy một nguồn an ủi, không hẹn một niềm vui, tôi sẽ chết dần mòn trong cảnh cô đơn, tủi nhục vò xé.

Bóng chiều chạng vạng tôi mới đến nhà chị. Cả nhà im lặng nhìn tôi. Chị Hoa lạnh lùng hỏi:

– Họ hỏi cậu chuyện gì?

– Chuyện cũng bình thường thôi chị ạ.

– Công an sở gọi hỏi tội mà chuyện bình thường à? – Lập nhìn tôi, mỉm cười chế giễu, hỏi.

– Đối với tôi, khổ nhục, tù tội là chuyện bình thường. Nếu được sống bình yên mới là chuyện bất thường…

– Cháu chào cô chú, anh chào các em – Thằng Vinh con anh Q
uang đến.

– Cháu ở đâu về? – Chị Hoa hỏi.

– Cháu vào Nam chiến đầu đã ba năm. Từ thị xã Kontum, cháu ra nghỉ phép. – Vinh trả lời.

– Cháu biết ai đây không? – Chị Hoa chỉ vào tôi hỏi.

– Không, cháu hoàn toàn không biết.

– Thế ra bố cháu không nói với anh là còn chú Tâm – chú ruột anh nữa à?

– Không, thưa cô! Bố cháu bảo ở Hà nội, chỉ có cô và chú Đản đã chết vì bom bi Mỹ năm 1967, thế thôi.

– Bố mẹ anh vô tâm đến thế là cùng. Đây là chú Tâm, em ruột bố anh.

– Ra thế! Đến nay cháu mới biết có chú.

– Trí nhớ của anh tồi đấy. Khi tôi xa quê hương, anh đã lên sáu. Năm 1963, bố con anh lên chơi Hà nội, chính tôi dẫn đến thăm gia đình ông Nghiệm ở phố hàng Vôi. Qua hồ Gươm, tôi mua kem cho anh ăn.

– Bác Quang không nói gì cho anh Vinh là đúng lắm. – Lập nói vẻ hồ hởi – không ai muốn có một người nhà như cậu. Cậu chỉ mang lại nỗi nhục hoặc ảnh hưởng xấu đến gia đình.

– Sao lại ảnh hưởng xấu? – Vinh hỏi Lập.

– Mắc tội chuẩn bị vượt tuyến vào Nam theo địch phải đi cải tạo hàng chục năm. Như thế có ảnh hưởng xấu đến người nhà không?

Nghe Lập nói, mặt Vinh hơi biến sắc. Vinh ngồi lùi xa tôi hơn. Nó nói:

– Nguy hiểm thế cơ à? Bố cháu không nói có phần sai, cũng có phần đúng. Sai là về tình cảm. Đúng là nếu địa phương cháu biết chú đi tù, chúng cháu sẽ bị vùi dập. Trước mắt đường tiến thân của cháu – vào đại học và kết nạp đảng – sẽ bị ngăn cản.

Nghe Vinh nói, tôi rùng mình hoảng sợ. Ghê tởm chưa, đường tiến thân của cháu tôi là gia nhập một tổ chức tội phạm đã thiết lập nên một chế độ tàn baọ dã man nhất trong lịch sử?

Được mệnh danh là một con người, ít ra nó không thể quên mối hận thù ai đã bắn ông nội nó, ai đã dồn ông ngoại nó đến chỗ phải tự kết liễu cuộc đời, ai đã cướp hết tài sản gia đình nó, ai đã áp bức bố mẹ nó phải từ bỏ quê hương đi đến một cuộc sống khắc khoải ở nơi rừng thiêng, nước độc.

Đến nay nó phủi sạch nỗi đau thương, nhục nhã ấy để muốn đi cùng đường với lũ vô thần, khát máu.

Hơn ba thập kỷ đàn áp và bịp bợm, có lẽ Cộng sản đã thành công trong sự nghiệp thuần hoá một dân tộc để con người lẫn lộn trắng đen, lẫn lộn giữa cái vinh và cái nhục, phủ nhận ông cha, coi chúng là thiêng liêng, tuyệt đối về chân lý và sức mạnh:

Thuở anh chưa ra đời,

Trái đất còn nức nở,

Nhân loại chưa thành người,

Đêm ngàn năm man rợ.

Thấy tôi im lặng, Vinh nói tiếp:

– Cháu cũng biết thế hệ bố cháu và chú bị vùi dập nhưng tại sao chú lại hành động điên rồ như vậy? Tại sao chú không cam tâm chịu đựng như hàng triệu người cùng số phận để mặc cảm của xã hội đối với gia đình mình được phai nhạt, tạo cho con cháu bớt phần tủi hổ.

Cũng may là mỗi người sống một địa phương nên bản lý lịch của cháu coi như không có chú. Nhưng nếu họ điều tra thấy thì số phận anh em cháu sẽ ra sao? Tất nhiên là bị đuổi học, bị cản trở mọi đường tiến thân.

– Vâng, tôi sai, xin lỗi các anh – Tôi nghẹn ngào trả lời cho qua chuyện. Vì tôi có giải thích về xã hội hoặc phản ứng trong lúc này chẳng những vô ích như mang đàn gẩy tai trâu mà còn bị tra tấn bằng những lời nhục mạ nặng nề hơn.

– Cháu kể cho chú nghe chuyện một người cùng đơn vị cháu. Hoàn cảnh gia đình anh ấy cũng giống như chú. Hồi cải cách, bố bị bắn, mẹ bị bức tử, tài sản bị tịch thu toàn bộ. Anh ấy ở nhờ chị gái đang học sư phạm sơ cấp thì bị đuổi. Muốn bỏ trốn khỏi quê hương không được, anh ấy bị chính quyền địa phương hành hạ, chèn ép, sống vô cùng khổ nhục. Năm 1973 nhận được giấy báo nhập ngũ, anh ấy sung sướng như người chết đi sống lại, cho rằng đây là bước ngoặt trọng đại trong cuộc đời mình. Thời gian chiến đấu ở miền Nam, anh ta lúc nào cũng tỏ rõ tinh thần ngoan cường và dũng cảm. Nhiều đồng đội hỏi về động cơ của tinh thần đó thì anh ta trả lời: “các anh chiến đấu vì sự nghiệp thống nhất tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lý tưởng Cộng sản. Riêng tôi, chẳng những thế mà còn để rửa nỗi nhục về tính giai cấp của ông cha tôi để lại… ”. Đến năm 1974, trong một trận đánh chống bọn nguỵ quyền Sài gòn lấn chiếm, anh ấy bị thương nặng. Trước khi tắt thở, anh ấy yêu cầu người chỉ huy: “Cuộc đời tôi đã hy sinh cho cách mạng, đảng cho phép tôi được có tên trong tầng lớp nhân dân lao động”. Tuy không được kết nạp đảng nhưng anh ấy được tuyên dương danh hiệu chiến sĩ quyết thắng. Từ tấm gương của một người biết chết để đổi lấy danh dự, xoá bỏ mặc cảm của xã hội, cháu mong chú hãy nghiêm khắc với lỗi lầm của mình.

– Xin lỗi, anh dạy tôi thế đủ rồi. – Tôi muốn hét lên mày và cả thằng ấy nữa là những con vật biết nói tiếng người, may mà kiềm chế được.

– Cháu góp cho cậu một ý kiến thôi. – Thằng Lập nói – nếu cậu không dám chết, không biết chết như tấm gương trên ít ra cậu cũng phải biết sống thế nào để con cháu và họ hàng khỏi oán trách mình.

– Vâng, tôi đã sai, xin các anh tha lỗi – Nói xong, tôi bỏ ra ngoài đường và ngẫm nghĩ, đúng là một thời đại loạn lăng nhăng, châ
n lý bị đảo lộn.

Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 6

Tháng Bảy 17, 2009 - Posted by | Hồi ký: Một ngày giông tố, Phần 2 - Những kẻ khổ nhục

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: