Eventfulday's Blog

Đọc Hồi ký Thép đen: Về CS

Đã  có  những  nhà  ngoại  giao,  những  chính  phủ  chưa  hiểu  rõ  được
Cộng Sản, chỉ vì họ cứ nhìn sự việc từ một ống kính của một nước tư
bản để soi rọi, suy xét ở một nước Cộng Sản, cho nên hầu hết đều bị
lầm. Để rồi kết quả sự việc xẩy ra lại khác hẳn, thì họ lại đổ cho lý do
mới, còn vẫn khăng khăng cho sự nhận định của họ  trước đây vẫn  là
đúng. Vì thế, những lần sau lại tiếp tục lầm nữa.
Thí dụ 2 quan điểm về cùng một sự việc:
1/ Lòng nhân đạo.
Tư bản: Đơn thuần, thấy ai sắp chết thì cứu. Thấy ai quá đau đớn thì
chữa cho họ khỏi đau v.v…
Cộng Sản: Phải có  tính giai cấp. Trước hết phải xem người sắp chết
đó là loại nào? Nếu nó là một tên chống phá lại đảng, nó là một tên ở
giai cấp bóc lột, thì cần phải đâm thêm cho nó chết ngay. Nhân đạo là
tiêu diệt cái thiểu số, để cứu cái đa số mà chúng bịp bợm gọi là “nhân
dân”.
2/ Sự công bằng.
Tư bản: Mọi người ai cũng như ai. Được đối xử như nhau trước pháp
luật. Ai có  tài  thì được dùng, không hề có cái gì gọi  là “tính giai cấp”
nào ở đây cả.
Cộng Sản: Trước đây anh là chánh tổng, lý tưởng. Như vậy là cường
hào ác bá đè đầu, cỡi cổ đám dân nghèo khổ, bây giờ đảng bắt chúng
mày xuống nghèo khổ cho công bằng. Trước đây anh là tư sản, bóc lột
người nghèo, bóc  lột công nhân  lao động, bây giờ để cho công bằng,
đảng sẽ  lấy hết  tài sản của anh để  trả  lại cho người nghèo, cho công
nhân  thì học  lại  trở  thành  giầu,  thành  tư  sản. Bởi  thế, hãy  để  chính
phủ, để nhà nước giữ vậy.
Trên đây chỉ là hai thí dụ nhỏ, trong muôn ngàn khía cạnh, của xã hội
con người. Ngay cả về tình cảm, giữa hai xã hội, quan điểm cũng hoàn
toàn  khác  nhau.  Bởi  vậy,  hầu  hết  các  nước  dân  tộc,  tư  bản,  nếu  vị
nguyên thủ quốc gia bị giết hay bị chết bất ngờ, thì thường xã hội có
nhiều  thay  đổi. Nhưng  dưới  chế  độ  Cộng  Sản  thì  hầu  như  chẳng  có
chuyện gì xẩy  ra. Lãnh đạo đất nước  là một  tập  thể, gồm những  tên
trong bộ chính trị, chúng quyết định mọi đường lối chính sách. Vậy nếu
chỉ định  tên này  làm  thủ  tướng,  tên kia  làm chủ  tịch v.v… Đều chỉ  là
một cái khung, một đường dây loa mà thôi. Cho nên có mất hay chết
một  tên này, hay vài  tên khác  thì nó vẫn như  thế, chả có gì đổi thay
cả.

Điều này cũng đã giải thích vì sao, hầu như tất cả các nước Cộng
Sản, những tên lãnh tụ cứ đi phây phây mà không đứa nào bị ám sát
cả. Vì người  ta đã hiểu  rằng, có  tốn công,  tốn  tiền,  tốn người để ám
sát một tên lãnh tụ Cộng Sản, thì cũng vậy mà thôi. Bài học được rút
ra từ trường hợp của tên Lénine bị ám sát trước đây.
Cho nên rất buồn cười, có rất nhiều những chính khách, thấy một tên
đại diện, hoặc một  tên  lãnh  tụ Cộng Sản đi ra nước ngoài để họp hội
nghị hay công cán, họ đã cố gắng mồi chài, lôi kéo để lấy cảm tình. Cứ
tưởng  như  nếu mua  được  tên  đó,  là mua  được  cả  chế  độ  của  nước
Cộng Sản ấy vậy.

Tháng Mười Một 9, 2010 Posted by | CỘNG SẢN, Hồi ký chính trị | Để lại bình luận

Đọc Hồi ký Thép đen: Nghệ Thuật Tuyên Truyền Của Cộng Sản

Tôi đã ở miền Nam, tôi đã ra miền Bắc. Tôi đã nhìn góc này, khía kia
qua  cả  thực  tế  cũng  như  trên  sách  báo.  Tôi  lấy một  hình  tượng  rất
giản đơn để so sánh:

Tôi nhớ lại những ngày tôi còn lang thang trên khắp phố phường của
Hà  Nội  trước  khi  bị  bắt  vào  Hỏa  Lò. Một  lần  tôi  vào một  hiệu  sách
Nhân Dân trước cửa chợ Đồng Xuân. Tôi lục lọi xem, tìm một số sách
vở,  thoáng  thấy một  cuốn  tự điển  chính  trị  thật  dầy  của  Liên Xô  đã
được dịch ra tiếng Việt. Mở thoáng đọc một số trang, tôi nhìn thấy chữ
“nghệ  thuật  tuyên  truyền”  được  định  nghĩa như  sau:  “Cái  không  có,
mà nói cho người ta tin là có, đó là nghệ thuật tuyên truyền.”

Ngày nay, hầu hết chúng  ta, qua  thời gian và  thực  tế đều để hiểu:
thế giới tự do, thực sự đã mang cơm no, áo ấm, tự do hạnh phúc cho
mọi người. Nhưng trước đây, người dân lại không tin như vậy. Họ chỉ
thấy  là đế quốc,  thực dân bóc  lột,  là “Ngụy”,  là phi chính nghĩa v.v…
Như vậy  “ta  có mà người  ta  lại không  tin  là  ta  có.” Ngược  lại, Cộng
Sản, ai cũng thấy chúng bóc lột đến giấc ngủ cũng không yên. Nhưng
trước đây, khi người ta chưa nhìn thấy thực chất của Cộng Sản thì hầu
hết  lại  tin  rằng Cộng Sản  là  chính  nghĩa,  là  đã  đem  độc  lập,  tự  do,
hạnh  phúc  lại  cho  nhân  dân.  Xã  hội Cộng Sản  là  xã  hội  công  bằng,
không có cảnh người bóc lột người.

Như vậy, hiển nhiên ta thấy: Cộng Sản không có cái công bằng, dân
chủ, nhưng chúng đã  tuyên  truyền để mọi người  tin  là chúng có. So
sánh, chúng ta thấy rõ ràng như ban ngày: Cộng Sản tuyên truyền cái
“không có” cho người  ta  tin  là  “có”. Đấy  là nghệ  thuật  tuyên  truyền!
Là nghệ thuật bậc thầy. “Có” mà tuyên truyền cho người ta tin là “có”.
Là nghệ thuật học trò.

Nhưng đây, thế giới tự do của chúng ta “Có” mà người dân lại không
tin  là  có. Như  thế,  về  lãnh  vực  tuyên  truyền  ta  chỉ  là  bậc  cháu  của
Cộng Sản. Nghĩa  là  ta  chỉ đáng  là học  trò  của học  trò Cộng Sản mà
thôi!

Huống  chi, Cộng Sản  đã  tìm  và nhìn  đúng  loại  đối  tượng  để  tuyên
truyền. Đó là những đám nông dân, công nhân, những người lao động
nghèo khổ,  ít học. Mà trong nước ta thành phần này chiếm đến 90%
của dân số. Họ chỉ biết suốt ngày cặm cụi làm việc vất vả để mưu sinh
cuộc sống. Bởi thế, giả dụ: khi Cộng Sản nói trên đài, đăng trên báo:
ở một khu vực nào đấy, có một tiểu đội du kích. Do lòng căm thù giặc
sâu sắc, do đường  lối anh minh của đảng và cách mạng soi sáng chỉ
đường, đã dùng mưu  lược đánh đuổi được một  tiểu đoàn của  “ngụy”
chạy tóe cứt, vãi đái ra quần v.v… Họ vẫn tin đấy! Vì họ có thì giờ và
kiến thức đâu mà suy luận, phân tích thời cuộc làm gì cho nó mệt óc,
nhức đầu? Mà một khi quần chúng có niềm tin thì trở thành sức mạnh
rồi.

Ngược  lại, phía chúng  ta, những người Quốc Gia của  thế giới  tự do.
Nếu có một tờ báo nào đó cũng đăng một cái tin: ở một địa khu nào
đó  có một  tiểu  đội  địa  phương  quân,  do  lòng  sôi  sục  hận  thù  Giặc
Cộng; do lý tưởng nhân bản, tự do dẫn đường, vạch lối, đã dùng mưu
lược trận đồ đánh tan một tiểu đoàn chính quy của cộng phỉ. Tiêu diệt
hơn 100 tên, bắt sống 26 tên và thu nhiều vũ khí quân trang v.v…

Chưa nói về độc giả. Ngay những tờ báo bạn, những cơ quan thông
tin cùng một phe đã gửi  thư, viết bài đăng báo phản đối, chửi bới  là
nói  láo; nói còn để cho người ta nghe được chứ! Nói ngu như thế mà
nói được à v.v…. Độc giả như bác với cháu, hay Gôm, Nhu chẳng hạn,
sẽ ném vất tờ báo đi, không thèm đọc. Tờ báo đó còn đăng những tin
láo khoét như vậy,  thì  sẽ không mua nữa.  Như vậy,  tờ báo  đó nếu
không muốn bị các bạn chửi bới và sẽ bị chết vì không còn ai mua báo
nữa  thì  chỉ  còn một  cách: không bao giờ dám đăng những  tin  tuyên
truyền loại đó nữa.

Từ đấy  suy  ra, vô hình  chung  các  cơ quan ngôn  luận  tuyên  truyền
của ta chỉ tập trung cố gắng để làm vừa lòng, chiều theo thị hiếu của
cái số độc giả có học, có kiến  thức hiểu biết. Mà cái  thành phần này
trong quần chúng chỉ chiếm 10 phần trăm. Nhưng lại nực cười nữa là
cái số 10 phần  trăm có kiến  thức này như bác, Gôm, Vân, Khải v.v…
không những không cần  tốn công sức, giấy mực để  tuyên  truyền,  lôi
cuốn; mà  có  đẩy,  xô  sang  phía  Cộng Sản  thì  chắc  chắn  cũng  bỏ  cả
cha, cả mẹ chạy vội về phía quốc gia tự do rồi. Tóm lại, chúng ta phải
nghiên  cứu  toàn bộ  lại phương  cách  tuyên  truyền  của  chúng  ta hiện
nay. Dù không nói láo như Cộng Sản, nhưng phải hữu hiệu hơn.

Tháng Mười Một 6, 2010 Posted by | CỘNG SẢN, Hồi ký chính trị | Để lại bình luận

Đọc Hồi ký Thép đen:Những sai lầm của thế giới tự do…..

http://namdatviet.com/thep_den/0/

Những sai lầm của thế giới tự do…..

Về tới cổng xà lim, chợt tôi nghe tiếng loa léo nhéo nói về miền Nam: Nào là,
Nguyễn Văn Thiệu đang củng cố uy quyền, đưa phe cánh vào những khâu chủ
chốt,…..Nào là, sau khi lập nền đệ nhị Cộng Hòa…kêu gào Mỹ tăng cường viện
trợ để chống đỡ với tình hình càng ngày càng nghiêm trọng, v.v…Tôi nghe, lòng
vẫn lửng lơ, man mác bâng khuâng nhớ chiếc cửa của một căn nhà trên lưng
đồi vắng. Một cánh cửa đóng hững hờ, còn một cánh mở. Cánh mở để nhìn
thấy, suy lý, dựa trên những cơ sở thực tế của miền Nam, của miền Bắc, của
phe Cộng Sản và thế giới tự do: Ông Thiệu đâu phải là đối thủ của Cộng Sản
miền Bắc. Còn cánh đóng: Dù hiểu như vậy, nhưng hãy đè chặt trong lòng,
miễn bình luận; vì ở trong một cái thế là nói ra càng tan rữa lòng người, chỉ có
cái lợi cho kẻ thù mà thôi.
Tôi đã vào buồng, đóng cùm, đóng cửa rồi, lòng tôi vẫn nặng chĩu những suy
tư về đất nước, về cuộc đời.
Tôi cứ nhắm mắt, mặc cho đầu óc mình bềnh bồng trôi nổi đó đây, suốt về
miền Nam, lại ra miền Bắc, lại chạy về Nam…..Tôi nhìn toàn bộ khung cảnh xã
hội miền Nam. Tôi nhìn toàn bộ khung cảnh xã hội miền Bắc.
Xã hội và con ngƣời có nhiều sự việc, về một phía, thật bao la phức tạp
muôn màu, nghìn sắc; nhưng về phía khác, cũng rất giản đơn. Nếu ai đó, không
bị mờ mắt vì địa vị, vì tiền bạc, nghĩa là không bị cái bả quyền lợi cá nhân che
lấp mắt, đều nhìn thấy rõ rành rành.
Muốn hiểu vấn đề xã hội, nhiều khi xét từ một tập thể, có khi từ một cá nhân;
bởi vì, có nhiều điều liên quan, tương tự, đôi khi giống nhau như một khuôn đúc.
Điều chính, cá nhân là một đơn vị. Một đơn vị không thể tách, chẻ nhỏ hơn, để
xây dựng nên xã hội.
Nhìn về xã hội miền Nam, nhìn về thế giới tự do, điều nổi bật nhất, cái gốc cổ
thụ để sinh đẻ ra trăm nghìn cái khác, là đã để chủ nghĩa cá nhân lấn áp tập thể,

lấn át xã hội, lấn át Dân Tộc, Tổ Quốc. Đấy là đầu nguồn để sinh sôi, nảy nở ra
ngàn đường, trăm nhánh; đến nỗi nhiều người khi nhìn một sự việc nào đó,
tưởng như hoàn toàn không có liên quan gì đến cái gốc, là chủ nghĩa cá nhân
lên cao. Nhưng, nếu người ta chịu khó mày mò truy nguyên, từ cái này sang cái
kia, rồi cuối cùng về đến cái gốc của nó, chính là chủ nghĩa cá nhân
; nhiều
ngừời sẽ phải ngơ ngác, giật mình.
Vì vậy, nếu thấy một người lính không có tinh thần chiến đấu; một người
công chức tham nhũng, thái độ cựa quyền; người dân lạnh lùng bàng quan
(nhất là người dân đó nhìn người thương binh lủi thủi, lặc lè trên đường); đến cả
người thanh niên trốn quân dịch, v.v…; đừng ngạc nhiên lắm. Chính đó là
những cái quả, của cái nhân là chủ nghĩa cá nhân mà thôi.
Từ cái gốc căn bản sai lầm đó, sai lầm này đẻ ra sai lầm khác, cứ như thế
chất chồng. Xã hội đầy rẫy những hiện tượng tắc trách, thiếu trách nhiệm trong
công tác; hời hợt, cưỡi ngựa xem hoa đối với công việc mình phải làm. Trong
hàng ngũ cán bộ của chính quyền ở mọi lãnh vực, từ hành chính, chính trị cho
đến quân sự, v.v…loại cán bộ này chiếm đại đa số. Những hiện tượng này chỉ
biến mất khi người đứng đầu quốc gia thực lòng vì dân vì nước lấy bản thân
mình làm gương sáng, mang tâm hồn và khí lực ngày đêm xả thân lo lắng, để
có một đội ngũ cán bộ trung ương được đào tạo, thử thách nhiều công phu.
―Vạn sự khởi đầu nan!, cần sao gây được những hạt giống tốt lúc đầu. Tuy
nhiên, phải mang tâm huyết chịu đựng vất vả, gian khổ để tìm được chỗ khơi
nguồn. Khi nguồn đã được khơi, sau đấy tự nó sẽ chảy thành sông. Tất nhiên
còn đòi hỏi nhiều vấn đề khác để hộ trợ, cũng như khích lệ và thúc đẩy, để chủ
trương của mình được hiện thực. Chỉ mới sơ khởi như thế, và nhìn về miền
Nam lúc này, bộ mặt nào làm được như vậy? Ngay đến cụ Ngô cũng còn một
số sai lầm. Nếu cụ còn sống, dù cũng chả làm gì được miền Bắc, nhưng chắc
miền Nam đã không mất.

Huống chi, trong khi Mỹ là người anh cả, là nước chịu
trách nhiệm vì mình và vì người, giúp đỡ các nước anh em trong thế giới tự do,
cũng đã mắc 3 sai lầm trầm trọng:
–  Thứ nhất: Bắt những nước được giúp đỡ phải theo những quy chế, những
khuôn thước dân chủ tự do nhất của thế giới hiện nay là nước Mỹ.

–  Thứ hai: Giúp người, nhưng lại vì quyền lợi của mình nhiều hơn.

–  Thứ ba: Quá nghiêng nặng nề về đồng tiền và vũ khí.

Từ ba điểm trên, đã đẻ ra rất nhiều những sai lầm nhỏ khác, để cuối cùng
hầu như đa số các nước mà Mỹ giúp, đã không đạt được kết quả, không đạt
được mục đích. Và, ngay nước Mỹ, không những không được người ta biết ơn,
còn bị chửi là thực dân mới, chỉ vì tư lợi thương mại, tìm thị trường tiêu thụ,
v.v… Sau đây, ta khái niệm mổ xẻ, phân tích từng điểm:

Điểm thứ nhất: Bắt những nước được giúp đỡ phải theo những quy chế, những khuôn thước dân chủ tự do nhất của thế giới hiện nay là nước Mỹ.

Nói về nền tự do dân chủ thực sự trong thế giới loài người
hiện nay, không ai có thể phủ nhận được nước Mỹ là một trong những nước có
nền dân chủ thực sự tiên tiến. Từ đấy, ta thấy chế độ Cộng Hòa Dân Chủ của
Mỹ là chế độ tiến bộ của loài người hiện nay. Nhìn nền dân chủ ưu việt của
những nước Anh, Pháp, Mỹ, v.v… những ai thực lòng vì dân vì nước mà chẳng
mong muốn nhân dân và đất nước họ cũng được hưởng một nền dân chủ, tự
do như thế.
Muốn được như vậy, phải cần có một điều kiện, đó là đất nước ấy phải có
một số hoàn cảnh giống như nước Mỹ, nước Pháp, nước Anh. Bởi vì, thời đại
ngày nay, thế giới đang đảo điên, nghiêng ngửa với cái nạn Cộng Sản. Cộng
Sản tàn bạo, khát máu nhưng lại che mắt thế giới bằng cách khoác lên những
bộ mặt của Chúa Jesus, của Phật Thích Ca, của Mohamed, v.v…
với những đôi
mắt giả nhân giả nghĩa từ bi ngấn lệ thương đồng bào, đồng loại; mồm méo
xệch cứ lẩm bẩm những lời tha thiết cứu nhân độ thế; làm cho biết bao nhiêu
người ngộ nhận, để rồi tán gia, bại sản, tàn lụi cả cuộc đời…
Hơn nữa, như một công lý, mỗi người một khác nhau, mỗi nước một khác
biệt. Cơm, gạo, bột là những món ăn tốt để nuôi sống con người. Món ăn bổ và
ngon như thế đấy, nhưng người ăn mức độ cũng khác nhau.

  • Một người khỏe, ăn 1kg, cơ thể không sao; một người đang có bệnh, ăn 1kg, ―ngủm‖!.

Vậy mà Mỹ, như cơ thể của một người khỏe, lại muốn bắt một nước, đang
như một người bệnh, ăn những món ăn giống mình và nhiều như mình; rồi cứ
bảo phải ăn đi, nó bổ lắm. Nó dân chủ lắm, nó dân quyền lắm, v.v…Thử hỏi,
nước đó sẽ ăn làm sao được.

Ăn thì chết! Không ăn, Mỹ bảo là phản dân chủ, là
độc tài, là… bướng; nay đe cắt giúp đỡ, mai đe cắt viện trợ, v.v…

Còn nói về tự do, dân quyền: Để làm sáng tỏ vấn đề này một cách đơn giản,
Khổng Phu Tử, hơn hai ngàn năm xưa, đã nói: “Nói mà không thí dụ, và thí dụ
mà không đơn giản, thì không sáng tỏ”.

Thí dụ hỏi một người:
– Anh có biết trái cam không?
Người đó trả lời:
– Chưa hề trông thấy trái cam bao giờ!
Vậy ta hỏi tiếp: – Thế anh có biết trái bưởi không?
Người kia vui vẻ trả lời là anh ta không lạ gì trái bưởi.
Lúc đó, ta chỉ cần nói đơn giản:
– Trái cam giống hệt trái bưởi, nhưng bé hơn và ngọt hơn!
Chỉ cần đơn giản như thế, người kia hiểu ngay về trái cam. Chứ ta tuyệt đối
không nên cầu  kỳ, dùng danh từ hoa mỹ, triết học giải thích nào là: quả cam
màu vàng, hình cầu, được bọc một lớp vỏ mỏng, có những túi dầu để duy trì
bảo vệ nước cam ở trong được tươi lâu, bên trong có những cái bọc hình bán
nguyệt, trong cái bọc này, v.v…và v.v…
Nói nhiều, dùng những triết này, thuyết kia đẻ ra vẻ giai cấp trí thức; cuối
cùng người kia chả hiểu, chả biết anh nói cái quái gì cả.
Vậy, lý luận về tự do và dân chủ, cụ thể là ở miền Nam Việt Nam lúc này, tôi
cũng xin lấy một thí dụ đơn giản để làm sáng tỏ.
Ở cùng chung một căn nhà có 4 người là A, B, C, và D. Lúc hòa bình, không
có chuyện gì cả, tình người và tình đồng bào thắm thiết, nào chào hỏi, nào hàn
thuyên, tay bắt mặt mừng rối rít mỗi khi gặp nhau. Mọi người tha hồ tự do. Anh
này muốn đi chơi đâu mặc anh; anh kia nấu nướng ăn gì cũng kệ; anh khác ngủ
đến 11, 12 giờ trưa đó là quyền của anh; v.v… Mỗi người đều tự do làm theo ý
mình.

Nhưng sau đó, vì một lý do nào đó, do những điều kiện và hoàn cảnh tạo
nên, 4 người này trở thành kẻ thù không đội trời chung của nhau, và vẫn phải
cùng ở một căn nhà. Lúc này, mỗi anh thủ một con dao, rình cơ hội để hạ đối
phương để chiếm toàn bộ ngôi nhà, và vì sự sống còn của mình.

Vậy, lúc này, tình trạng sẽ ra sao? Mọi người có còn được tự do, ăn lúc nào
thì ăn, ngủ lúc nào thì ngủ, thích chỗ nào thì nằm chỗ đó nữa hay không?
Lúc này, ai cũng thấy sáng tỏ là tự do trong cảnh đó, là tự do chết!

Căn nhà Việt Nam lúc này ra sao? Một nửa nhà là miền Bắc, Cộng Sản đã
chiếm đóng; nửa còn lại là miền Nam, Cộng Sản đã đặt được một bàn chân
vững chắc là:‖Mặt Trận Giải Phóng‖. Ngay trong chính quyền Sài Gòn, cũng đầy
dẫy những người của Cộng Sản.
Tóm lại, căn nhà Việt Nam giống hệt như căn nhà tôi đã trình bày thí dụ ở
trên. Bây giờ, ta tự do cho biểu tình, hội họp,  đảng đối lập, v.v… và v.v…như
khuôn thước của xã hội Mỹ, miền Nam sẽ ra sao? Một cậu bé ngây thơ 15, 16
tuổi cũng thấy ngay là miền Nam mất đi, không có gì là lạ nữa. Nếu có lạ là lạ tại
sao miền Nam lại chưa mất!
Đó, nếu báo chí và tuyên truyền chỉ can đơn giản trình bày như vậy với quần
chúng, riêng về góc cạnh tự do, như trên, lúc đó, nhân dân sẽ ý thức được
ngay. Rồi, hàng trăm góc cạnh khác của xã hội cũng trình bày đơn giản như vậy
để hỗ trợ, tác động qua lại, nhiều việc sẽ tốt đẹp hơn nhiều.
Thế mà,  các cơ quan to lớn chuyên nghiên cứu vể xã hội và về riêng Việt
Nam với những quý vị học giả uyên thâm của Mỹ, v.v… lại chưa đánh giá đúng
mức, để rồi bắt con bệnh Việt Nam ―ngốn‖ cho bằng người khỏe như ―vâm‖ là
Mỹ. Không ăn, các ngài bực mình, la ó là độc tài, là phản dân chủ, v.v…

Điểm thứ hai: Giúp người, nhưng lại vì quyền lợi của mình nhiều hơn.

Ngay cá nhân với cá nhân, nếu giúp đỡ người khác, tất nhiên
tôi chấp nhận là ở đời, phải hai bên đều có lợi. Nhưng, nếu cái lợi của phía
người giúp đỡ lớn hơn, lấn át cái lợi của người mà mình giúp, lúc đó sẽ ra sao?

Tình cảm và lòng biết ơn của người nhận sẽ giảm; đôi khi còn không biết ơn
nữa. Thậm chí, cá biệt, người làm ơn không biết xử thế khéo, còn bị người
được giúp đỡ căm thù. Nghĩa là, họ thấy họ bị lợi dụng. Như thế, còn làm sao
gắn bó, tin cậy nhau nữa. Người được giúp, lúc đó, nếu không thủ đoạn, tính
toán, giữ thế với người giúp, thì cũng quay ra buồn chán, tiêu cực, không thể
đạt được ý nguyện lúc đầu của người muốn giúp đõ, nghĩa là không đạt mục
đích.
Vậy, một quốc gia, với một quốc gia khác, trông bề thế hơn, tưởng như phức
tạp hơn, nhưng cái nhân, cái gốc cũng như vậy thôi. Do đó, Mỹ đừng lạ, và
đừng buồn, tức khi thấy những nước mà mình giúp lại vô ơn, đôi khi còn chửi lại
mình, hoặc trở thành kẻ thù của mình.


Điểm thứ ba: Quá nghiêng nặng nề về đồng tiền và vũ khí.

Tôi thừa nhận trên cõi đời này, đồng tiền mua tiên cũng được,
nhưng với điều kiện là phải biết cách. Nếu không, nhiều khi đồng tiền không
những không giải quyết được vấn đề, mà còn bị người lấy tiền, nhận tiền, cười
chê người cho tiền nữa.
Mỹ là ―người‖ có nhiều tiền, chỉ thấy giá trị tuyệt đối của đồng tiền, chứ không
thấy những khía cạnh phức tạp khác.

Thí dụ: Một người đang hì hục xây một
căn nhà. Vì nghèo nên thiếu thốn vật liệu; anh ta cứ đầu tắt mặt tối, ngày cũng
như đêm, mưa cũng như nắng, đem sức cần lao để xây dựng căn nhà; nhưng
thấy khó thành, hoặc không biết đến bao giờ mới hoàn thành nổi.
Mỹ thấy vậy,
mang tiền, mang vật liệu đến giúp. Vì không khéo, lại không nghiên cứu từ thực
tế, cần những gì về nhiên liệu. Căn nhà kiểu ấy, chỉ cần vật liệu là cây, Mỹ lại đem sắt đến, cứ chở đến ùn ùn. Anh chủ nhà lúc đó sẽ ra sao? Làm, thì không
được, để thì phí, hỏng! Trong lúc đó, Mỹ cứ đưa đến, nói tốt lắm, phải tiếp tục
xây mạnh đi. Anh chủ nhà hoang mang. Nếu cứ để từ từ, anh ta còn có thể tốt
theo kiểu suy nghĩ, sáng tạo của anh ta. Đằng này, lại cứ thúc giục, khiến anh ta
thấy cứ để đống nguyên liệu đấy thì không ổn; vì như vậy là từ chối sự giúp đỡ,
nên anh ta phải tìm cách chuyển đi chỗ khác, rồi nói dối là đang nỗ lực làm, xây
dựng. Anh ta lúc này không còn tập trung hết tinh thần vào việc xây ngôi n
hà, vì
quá mệt mỏi tính toán trả lời sao về những vật liệu mà Mỹ giúp, đâu còn những
giây phút cần cù, miệt mài trước dây. Vả lại, bây giờ, lại sẵn đồng tiền, anh ta
phải tìm cách giải trí. Lúc đầu, lâu lâu mới giải trí một lần; sau quen đi.
Như thế,
cuối cùng căn nhà vẫn chưa xây được, mà tinh thần anh ta trở nên tiêu cực,
biếng nhác.

  • Như vậy, nhìn về phía, Mỹ đã gián tiếp làm hại những người mà Mỹ

giúp.
Tóm lại, phải biết cách dùng đồng tiền thì, uy thế của nó mới phát huy một
cách huyền diệu. Không biết dùng, kết quả sẽ không những ngược lại, mà còn
làm hư hỏng con người.
Còn về vũ khí: Tôi nhớ lại những năm còn ở miền Nam. Tôi xem những buổi
duyệt binh, với những cỗ pháo to, những xe tăng lớn và những máy bay phản
lực, Phi đội ―Lôi Hổ‖ của Đài Loan gầm rít biểu diễn trên bầu trời Sài Gòn năm
1960. Rồi báo chí, đài phát thanh nói Mỹ có nhiều loại vũ khí nguyên tử. Nào là,
chỉ một phần mười kho vũ khí nguyên tử của Mỹ nổ cũng đủ làm tan trái đất.
Nào là, Mỹ đang nghiên cứu chế những loại bom ánh sáng, tia ―laser‖, v.v…
Lòng tôi khi ấy dậy lên một niềm tin tưởng to lớn, vững chắc vào thế giới tự
do. Tôi tin tưởng gần như chắc chắn là sức mạnh của các loại vũ khí như thế,
thừa sức đè bẹp lũ Cộng Sản khát máu.
Nhưng bây giờ, khi đã đi vào thực tế, tôi có điều kiện để nhìn, không những
cả 4 mặt của một sự vật, mà còn nhìn được cả phía bên trong của sự vật đó.
Sự cọ sát giữa suy lý, nhận thức của mình khi ấy thật là ấu trĩ, ngây thơ. Xét
đoán một sự vật, một vấn đề chỉ đứng từ một góc độ, rồi cứ vỗ ngực khẳng
quyết với cái hiểu non nớt của mình; không thấy được rằng: Bất cứ loại vũ khí
tối tân nào cũng phải do con người chỉ huy và sử dụng. Vì vậy, trừ khi lực lượng
quá chênh lệch: một bên 10, một bên 5; hoặc bên này 100, bên kia chỉ có 10 thì
không kể. Còn thông thường, chỉ xấp xỉ hơn nhau ít chút một 8, một 10; bên nào
có yếu tố tinh thần hầu như bên ấy thắng. Do đấy, yếu tố tinh thần mới quyết
định thắng bại. Ngoài ra, nhìn tổng quát cái thế và điều kiện của thế giới ngày
nay, tôi dám khẳng quyết là bất kể một nước nào có vũ khí nguyên tử để gây
thành Thế Chiến Thứ Ba, thì kẻ đó tự sát. Từ đấy suy ra, các chiến lược gia nào chỉ nặng về vũ khí (làm sao để chế ra
loại tối tân hơn, nhiều hơn đối phương…) là có mặt sai lầm. Thực tế, chỉ cần đòi
hỏi vừa đủ để làm thế kiềm chế nhau thôi; và hãy chú ý về loại vũ khí chiến
thuật thông thường có kỹ thuật cao, để sử dụng trong chiến tranh cục bộ, hoặc
khu vực là cần thiết. Điều quan trọng và chính yếu nhất vẫn là phải chú ý về mặt
nhân sinh và xã hội.

Như tôi đã trình bày ở trên, đây không phải là một tác phẩm tư tưởng, lý luận,
nên không được phép dài dòng; nhưng dựa trên những cơ sở biện chứng, tôi
thấy Liên Xô dù có mạnh hơn Mỹ, cũng không bao giờ dám đem quân sang
đánh Mỹ, hay Anh, Pháp cả. Đó là một điều chắc chắn, trừ phi Liên Xô không
phải là nước Cộng Sản nữa. Kim chỉ nam của họ là dùng áp lực tối đa bên
ngoài, xúi dục kích động người dân của nước ấy đứng lên lật đổ chính quyền.

Đôi khi cao nhất cũng chỉ dùng một nước Cộng Sản đàn em tiến hành chiến
tranh cục bộ, đem quân sang một nước khác, để giúp một bộ phận nhỏ người
bản xứ đứng lên lật đổ chế độ đang cai trị mà chúng bảo là thối nát, và chúng
làm cách mạng, v.v
Cứ như vậy, chúng tiến hành nhiều nơi trên thế giới, cho
tới khi màu đỏ loang lỗ khắp địa cầu, lúc dó có trời cũng không cứu nổi nước
Mỹ khỏi tự nhiên thành Cộng Sản.
Vậy, Mỹ hãy lo ngay cho xã hội Mỹ, hãy làm sao cho người dân Mỹ hiểu đầy
đủ về cái cảnh nếu phải sống dưới chế độ Cộng Sản sẽ bị o ép toàn diện. Mọi
người lam lũ lầm than, không có một chút tự do, con người như con vật là
chính. Chứ cứ tập trung tâm tư, khí lực để thi đua với Liên Xô, để rồi bị con dao
đâm từ phía sau, tự trong lòng, lúc đó, đã muộn rồi!….

Tháng Chín 23, 2010 Posted by | Hồi ký chính trị | Để lại bình luận

RFA: Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (1)

RFA: Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (1)

RFA: Đảng và NN CSVN đã chuẩn bị thế nào? Diễn biến cụ thể một đợt CCRD.(2)

RFA: Diễn tiến của việc công khai nhận sai lầm và tiến hành sửa sai (3)

RFA: Thành quả của cuộc cách mạng “long trời lở đất”(4)

Cuộc cải cách ruộng đất 50 năm trước đây tại miền bắc (Bài 1)

2008-02-07
Hình ảnh được trưng bày tại Triển lãm cải cách ruộng đất tổ chức tại Hà Nội từ tháng 3 đến tháng 5/1956.

50 năm trước, tại miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam, tức là đảng Cộng sản sau này, đã diễn ra một cuộc cách mạng được chính những người phát động mô tả là “long trời lở đất”. Đó là cuộc cải cách ruộng đất.

Đào tận gốc, trốc tận rễ”

Thống kê chính thức của nhà nước được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam tập hai cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” nghĩa là không bị bắn tại chỗ thì cũng bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam.

Con số này có thể không chính xác, nhưng số nạn nhân quyết không thể thấp hơn thế được vì nó được ghi trong Văn kiện đảng toàn tập do nhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành, và vì nó không nói gì đến những người bị kết án là Quốc Dân đảng thừơng thì bị bắn ngay tại chỗ. Trong số này, có cả những đảng viên Cộng sản trung kiên, mà trước khi chết vẫn còn hô to khẩu hiệu, đảng Cộng sản muôn năm.

Năm 1956 cũng là năm mà ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động công khai lên tiếng nhận sai sót trong quá trình thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, rồi thực hiện một số biện pháp kỷ luật và tiến hành sửa sai. Bản thống kê chính thức cho biết là trong số 172.008 ngừơi bị quy là địa chủ và phú nông trong cải cách ruộng đất thì 123.266 người bị quy sai, tức là bị oan. Tính theo tỷ lệ là 71,66%. Có lẽ chưa bao giờ và ở đâu tỷ lệ giữa số bị oan và nạn nhân lại cao đến như thế.

Nhà thơ Tố Hữu lúc bấy giờ là trưởng ban tuyên truyền trung ương đảng sau này nhớ lại đã phải nói: “Không thể tả hết được những cảnh tượng bi thảm mà những người bị quy oan là địa chủ, ác bá (mà trong thực tế là trung nông) phải chịu đựng ở những nơi được phát động.”

Lời dặn “nhân ái”

Trong “Nội san cải cách ruộng đất” số ra ngày 25 tháng hai năm 1956, có đăng toàn văn lời căn dặn của ông Hồ Chí Minh rằng: “Nhục hình là lối dã man” và “ tuyệt đối không được dùng nhục hình, nếu dùng nhục hình là trái chính sách của đảng, của chính phủ, trái tác phong của cách mạng.”

Căn cứ trên thời gian phát hành của báo, thì lời căn dặn “nhân ái” này được đưa ra bốn năm sau khi bắt đầu thực hiện thí điểm, và chỉ ba tháng trước khi cuộc cải cách ruộng đất chấm dứt bằng đợt sửa sai. Khi đó, nhục hình đã phổ biến khắp nơi và sự sợ hãi đến mụ mẫm cả người đã bao trùm toàn lãnh thổ.

Cũng xin nhắc rằng ngay từ khi thực hiện thí điểm, địa chủ đã bị xác định là kẻ thù của nhân dân, như lời ông Nguyễn Minh Cần, nguyên phó chủ tịch thành phố Hà nội kể lại: “Trước đây, chúng ta coi địa chủ là một thành phần ở trong nhân dân, nhưng bây giờ thì không phải như vậy rồi. Bây giờ thì địa chủ không phải là nhân dân. Nhân dân chỉ là nhân dân thôi, còn địa chủ thì không phải, đó là những ngừơi chống lại nhân dân, là kẻ địch của nhân dân.”

Không chỉ những nạn nhân đau đớn, mà gia đình họ cũng chịu hoạ lây vì bị xã hội cô lập theo chính sách của đảng. Không chỉ gia đình của những người bị kết tội địa chủ phải chịu nhục nhằn, mà những cảnh tượng diễn ra hàng ngày ở mọi nơi những năm đó vẫn còn in dấu cả mấy chục năm sau nơi những chứng nhân.

Ngay trong đề cương báo cáo của bộ chính trị đảng năm 1956 mỗi khi nói đến các cuộc thanh trừng thời cải cách ruộng đất cũng đều phải dùng hình dung từ “tàn khốc” để nói lên những gì xẩy ra hàng ngày, hàng giờ tại miền bắc trong suốt mấy năm trời cao điểm của Cải cách ruộng đất.

Nhà văn Dương Thu Hương trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Đinh Quang Anh Thái của Little Saigon Radio mới đây vẫn còn nhắc lại: “Đối với tôi, lý tưởng Cộng sản là một cái gì đó khủng khiếp và xa lạ. Vì ngay trứơc cổng nhà tôi là một người chết treo năm cải cách ruộng đất, và tám tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến những cụôc đấu đá địa chủ. Sau lưng nhà tôi, đừơng tàu, cũng là xác một ngừơi tự tử chết bằng cách tự đặt cổ mình vào đường ray. Khi tôi tám tuổi, buổi sáng tôi đi tưới rau, tôi đã thấy những ngừơi chết đó, và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp.”

Và nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, khi nói lên lý do tại sao ông muốn từ bỏ chủ nghĩa Mác đã phát biểu: “Tôi nhận ra cái điều này cũng lâu rồi, mà nhận từ từ, bởi vì tôi đã đựơc chứng kiến cụôc cải cách ruộng đất ở ngoài miền Bắc mà gia đình tôi là nạn nhân. Tôi thấy nó rất là khủng khiếp. Tôi không hiểu cái chủ nghĩa gì mà nó chỉ có một biện pháp duy nhất là trấn áp ngừơi ta, mang người ta ra đấu tố và bắn bỏ ngừơi ta, mà không có xét xử công minh, cũng không có bằng cớ gì cả. Cuộc cải cách ruộng đất là một cuộc diệt chủng như là Pon Pot và Yeng Sari (đã làm bên xứ chùa Tháp) mà thời đó tôi đã chứng kiến.

Gia đình nhà tôi may mắn là ông nội tôi và các chú các cô, toàn bộ đã di cư vào nam. Bố tôi là con trưởng nên phải ở lại để giữ đất, cho nên không di cư đựơc, phải gánh chịu cái tai hoạ của ông nỗi cũng như các chú, một mình phải chịu trận, cho nên rất là khổ.”

Còn nhà văn Vũ Thư Hiên mới đây, khi nói chuyện về cuộc cải cách ruộng đất với đài Á châu tự do, đã nhớ lại lời bà cô của ông dặn dò như sau: “Tôi có một bà cô ruột ấy, chồng bà cũng bị đấu, mà ông ấy là chủ nhiệm Việt Minh của một xã, mà lại có chân trong Liên Việt huyện, Liên Việt tức là Mặt Trận Tổ Quốc bây giờ. Ông ấy bị đấu, bị giam trong chuồng trâu chuồng bò, nói chung là khổ lắm, rồi ăn uống kém cỏi, đến lúc đựơc thả về nhà thì ông ấy chết, chết tại nhà. Bà cô tôi chỉ nói, cháu ạ, mình phải lựa bạn mà chơi. Cái bọn Cộng sản nó gian ác và bất nhân lắm đấy. Tôi nói, nhưng bố cháu là Cộng sản cơ mà! (Bà cô trả lời) Thì bố cháu không hiểu, bố cháu mới đi với bọn ấy.”

Vết thương chưa lành

Cuộc cải cách ruộng đất chấm dứt 50 năm trước đây quả nhiên vẫn còn là một vết thương chưa lành đối với quá nhiều con người dù có trực tiếp là chứng nhân hay không. Đáng tiếc là những sách báo viết về giai đoạn ấy quá ít, lại thường bị tịch thu ngay sau khi phát hành, và dù 50 năm đã qua đi, thì cải cách ruộng đất vẫn còn là một đề tài cấm kỵ, trong khi những chứng nhân cứ già đi và chết đi dần.

Đó là lý do khiến ban Việt ngữ đài Á châu tự do chúng tôi quyết định thực hiện một loạt bài về cuộc cải cách ruộng đất để vẽ lại bức tranh thực xẩy ra của một thời mà không ai không xót xa khi nhớ lại.

Loạt bài sẽ bắt đầu với nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng. Ông sẽ điểm lại tám đợt phát động quần chúng giảm tô và 5 đợt cải cách ruộng đất kéo dài suốt bẩy năm kể từ năm 1949. Sau đó, là lời kể lại của ông Nguyễn Minh Cần là người từng trực tiếp tham gia đoàn cải cách ruộng đất cũng như công tác sửa sai.

Xen kẽ sẽ là lời kể của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện từng chứng kiến từ đầu đến cuối một phiên xử của toà án nhân dân, của ông Trần Anh Kim có ông nội và bố đều là nạn nhân của Cải cách ruộng đất, lời kể của nhà văn Vũ Thư Hiên khi ông có dịp qua những nơi đã diễn ra cuộc cách mạng được gọi là “long trời lở đất” ấy, của nhạc sĩ Trịnh Hưng là người bạn chí cốt của nhà thơ Hữu Loan, tác giả màu tím hoa sim, vốn là người mà những biến chuyển của đời sống gắn liền với cuộc cải cách ruộng đất.

Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (phần 2)

2008-02-07

Mở đầu loạt bài về cuộc cải cách ruộng đất diễn ra tại miền Bắc Việt Nam 50 năm trước đây, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả cuộc phỏng vấn của BTV Nguyễn An với nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng về các giai đoạn của cuộc Cải Cách Ruộng đất bắt đầu từ năm 1949 và chấm dứt vào năm 1956. Ông Trần Gia Phụng hiện đang sinh sống tại Canada.

Ông Trần Gia Phụng đã tốt nghiệp khoa sử địa đại học sư phạm Huế và cử nhân giáo khoa Sử đại học Văn khoa Huế năm 1965. Trong vòng 10 năm trở lại đây, ông đã xuất bản 14 đầu sách nghiên cứu về Sử, trong đó liên quan đến chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam có các cuốn, Án tích Cộng Sản Việt Nam xuất bản năm 2001 và Lột trần huyền thoại Hồ Chí Minh xuất bản năm 2003.

Nguyễn An: Trước hết, xin anh cho biết bối cảnh và mục đích của cuộc cải cách ruộng đất.

Ông Trần Gia Phụng: Muốn nói đến bối cảnh và mục đích của cuộc cải cách ruộng đất thì có lẽ chúng ta phải bắt đầu từ đầu. Tức là bắt đầu từ cuộc chiến tranh 46-54. Cuộc chiến tranh này có thể chia ra làm hai giai đoạn: từ 46-49 và từ 49-54.

Năm 1949 là năm cần phải chú ý, thưa anh, là vì năm này có hai sự kiện quan trọng.

  • Sự kiện thứ nhất là chính phủ Bảo Đại ra đời sau hiệp định Élysée năm 1949.
  • Thứ hai là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào 1/10/1949.

Khi chính phủ Bảo Đại được thành lập, nhiều người rời bỏ chiến khu để về thành thị sinh sống theo chính phủ Bảo Đại.

Ngoài hậu quả chính trị, thì việc trở về thành thị làm cho Việt Minh mất đi nguồn nhân lực, nhất là thiếu thanh thiếu niên để đưa vào bộ đội. Còn về phía Trung Hoa, khi mà Đảng CS lên cầm quyền ở Trung Hoa thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thì Trung Hoa viện trợ cho Việt Minh vũ khí và vừa cả nhân sự nữa. Cho nên Việt Minh chuyển từ du kích chiến qua vận động chiến mở những trận đánh lớn chống Pháp. Thành ra, năm 1949 mà mốc giới quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.

Ngoài ra, nếu tính từ năm 1946 chiến tranh đã xảy ra cho đến năm 1949 (chiến tranh đã xảy ra 3 năm) thì dân chúng tản cư từ vùng này sang vùng khác, hoặc là bỏ vùng quê ra thành thị sinh sống nên có nhiều đất đai bỏ hoang, không canh tá. Vì vậy mà Việt Minh mở cuộc cải cách ruộng đất để giải quyết hai nhu cầu trên của họ.

Nguyễn An: Thưa, nhu cầu thứ nhất là thiếu người, và nhu cầu thứ hai là…

Ông Trần Gia Phụng: Lương thực cho bộ đội.

Nguyễn An: Thế như vậy cuộc cải cách ruộng đất như anh vừa nói thì có thể coi như bắt đầu từ năm 1949?

Ông Trần Gia Phụng: Dạ vâng!

Nguyễn An: Và nó kéo dài đến năm 1956, như vậy nó qua bao nhiêu giai đoạn?

Ông Trần Gia Phụng: Thưa anh, nó qua tất cả là 5 giai đoạn.

Nguyễn An: Thưa, là những giai đoạn nào?

Ông Trần Gia Phụng: 5 giai đoạn này bắt đầu là nó được đánh dấu bằng sắc lệnh cải cách ruộng đất.

  • Thứ nhất là từ năm 1949, năm này để khuyến khích nông dân ra sức cày bừa thì nhà cầm quyền Việt Minh ra sắc lệnh để thành lập hội đồng giảm tô. Họ ấn định rằng các chủ đất phải giảm tối thiểu và đồng bộ tiền thuê đất (tô tức là tiền thuê đất) cho tá điền (tức là nông dân cày ruộng). Có nơi giảm đến 35% tiền thuê đất.

Sau đó, thông tư liên bộ của năm 1949 đưa ra nguyên tắc chủ yếu về phân chia tạm thời ruộng đất cho nông dân mà những ruộng đất này họ tịch thu được từ điền chủ của người Pháp, từ điền chủ là những người mà Việt Minh gọi là Việt gian, tức là những người mà Việt Minh kết tội thông Pháp hoặc là những người không cộng tác với Việt Minh.

Nguyễn An: Thưa, giai đoạn này kéo dài bao lâu ạ?

Ông Trần Gia Phụng: Thưa, giai đoạn này cũng chỉ trong năm 1949 thôi!

  • Bởi vì trong năm 1950 đã thay đổi. Sắc lệnh ngày 12 tháng 2 năm 1950 tổng động viên toàn bộ nguồn nhân lực (tức là người), vật lực (gia súc và nông cụ) và tài lực (tức là tiền bạc) cho tổ quốc.

Trong năm 1950 này, xuất hiện cùng một lúc 2 sắc lệnh, cùng một ngày nữa. Sắc lệnh thứ nhất là xoá bỏ tất cả các hợp đồng vay nợ giữa tá điền và điền chủ ký kết trước năm 1945 và xoá bỏ các hợp đồng ký sau năm 1945 nếu con nợ đã trả đủ 100%

Nguyễn An: Như vậy, cả lãi lẫn vốn đã trả rồi mà bằng cái số vốn vay ban đầu thì xoá luôn?

Ông Trần Gia Phụng: Dạ, xoá luôn! Cùng sắc lệnh thứ hai đó là quốc hữu hoá tất cả những đất đai bỏ hoang trong 5 năm liên tục, thì sẽ những đất đai này lấy và chia lại cho nông dân. Nhưng mà ngang đây, tức là năm 1950 thì nó có những sự kiện quan trọng mà cái quan trọng nhất là ông Hồ Chí Minh qua thăm Bắc Kinh tháng 1/1950 rồi qua thăm Mạc Tư Khoa.

Trong cuộc gặp gỡ tại Mạc Tư Khoa giữa ông Hồ và Stalin, thì Stalin thúc bách ông Hồ thực hiện 2 việc: việc thứ nhất là ông Hồ phải tái công khai Đảng CS, và việc thứ hai là ông Hồ phải đẩy mạnh cuộc cải cách ruộng đất theo đường lối CS. Để chuẩn bị cho việc cải cách ruộng đất thì ông Hồ mở phong trào chỉnh huấn theo đường lối của CS Trung Hoa

Nguyễn An: Và sau chuyến đi của ông Hồ thì bắt đầu cho giai đoạn 3 chăng?

Ông Trần Gia Phụng: Dạ vâng! Thì sau đó chuẩn bị bắt đầu cho giai đoạn3.

Trước giai đoạn 3, ông Hồ đã cử phái đoàn sang Trung Họa để học khoá học về chủ nghĩa Mac-LeNin ở Bắc Kinh. Nhưng thật sự ra đó là học về phương thức cải cách ruộng đất theo đường lối của Trung Cộng. Và phái đoàn này trở về thì đượcĐảng CS tổ chức gởi thí điểm tất cả các nơi ở Bắc và Bắc Trung Việt; còn ở trong Nam cũng có nhưng mà ở những miền sâu, còn những miền bán Bình Nguyên là những miền đồng bằng gần với các tỉnh thì ít thấy xuất hiện.

Nguyễn An: Thưa, như vậy thì giai đoạn 3 kéo dài bao lâu và đặc điểm của nó là gì?

Ông Trần Gia Phụng: Nó bắt đầu bằng sắc lệnh ngày 20 tháng 4 năm1953 đăng trên công báo của Việt Minh. Đặc điểm của nó là ngoài luật lệ thêm vào thì luật mới là quyết định tịch thu tất cả tài sản của đế quốc Pháp, của Việt gian, của địa chủ ác ôn.

Và nó có một đặc điểm nữa đó là giai đoạn 3 này bắt đầu thành lập uỷ ban Nông Nghiệp các cấp.

Ủy ban Nông Nghiệp trung ương do thủ tướng đứng đầu, và ở các thành phố đến cấp xã cũng có uỷ ban Nông Nghiêp Và bắt đầu thấy xuất hiện những cuộc đấu tố. Nhưng mà khi đó bắt đầu sửa soạn hội nghị Geneva, cho nên Việt Minh nhẹ tay để tránh làm xôn xao dư luận.

  • Thế còn qua giai đoạn 4 là nó bắt đầu quy định toà án nhân dân để xét xử những thành phần chống lại cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng mà giai đoạn 4 mới tiến hành thì xảy ra hiệp định Geneva. Tuy có toà án nhân dân nhưng chưa xảy ra vụ đấu tố rùng rợn như sau năm 1954.

Giai đoạn cuối của cuộc cải cách ruộng đất (phần 3)

2008-02-07

Ông Trần Gia Phụng: Ngày 14 tháng 6 năm 1955, ông Hồ Chí Minh mới ký sắc luật về cải cách ruộng đất đợt 5, sắc luật ngày 14 tháng 6 năm 1955, tuy dựa trên căn bản của hai sắc lệnh năm 1953, nhưng mà họ còn có những hành động gắt gao hơn là thành lập cái ủy ban cải cách ruộng đất từ trung ương do Trường Chinh cầm đầu, rồi ở mỗi địa phương họ thành lập những đội cải cách ruộng đất, rồi họ thành lập tòa án nhân dân, thì cái giai đoạn này chính là thảm họa của nông dân Bắc Việt.

Tòa án nhân dân là cái công cụ để thanh lọc hàng ngũ nông thôn, truy xét tận gốc rễ lý lịch của tất cả cái thành phần nông thôn, và đồng thời tòa án nhân dân cũng là cái công cụ để tiêu diệt tất cả những thành phần lãnh đạo xã hội cũ.

Nguyễn An: Tất cả những thảm kịch đó xảy ra là trong đợt 5, thưa anh tại sao cuộc cải cách ruộng đất lại dừng lại năm 1956? Có phải là vì họ đã đạt dược mục đích không hay là bởi có quá nhiều lời kêu ca, có quá nhiều trường hợp oan ức cho nên họ phải dừng lại?

Ông Trần Gia Phụng: Đây là một câu hỏi lý thú, lý thú là vì cái chỗ này này:

Đứng trên quyền lợi dân tộc, đứng trên lập trường của đại đa số quần chúng Việt Nam, nghĩa là đứng trên lập trường của một người Việt Nam thì rõ ràng ai cũng thấy là CSVN sai lầm trong cải cách ruộng đất, nhưng đứng trên quyền lợi của đảng CSVN, của thiểu số chóp bu trong đảng, họ không sai lầm.

Đứng về phương diện chuyên môn nông nghiệp, cuộc cải cách ruộng đất không thúc đẩy được nông nghiệp phát triển, không thăng tiến được đời sống nông dân mà còn làm tan nát nền nông nghiệp cổ truyền ở ngoài Bắc và đưa mọi người vào cảnh nghèo đói.

Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của đảng CS thì họ đã thành công trong cải cách ruộng đất. Hồ Chí Minh và đảng CS phải chấm dứt cái đợt cải cách ruộng đất năm 1956 vì hai lẽ. Lẽ thứ nhất là vấn đề nội bộ Bắc Việt là cuộc cải cách ruộng đất đã đạt được những mục tiêu chính trị của họ. Cái mục tiêu chính trị của họ là gì?

  • Mục tiêu chính trị của họ, thứ nhất là xóa bỏ cái cái giới hào mục lãnh đạo hạ tầng cơ sở ở nông thôn và thay vào đó là lớp lãnh đạo mới là những đảng viên CS,
  • cái mục tiêu chính trị nữa là họ chận đứng sự trà trộn của những điệp viên địch thủ trong dân chúng, họ xóa bỏ toàn bộ nền văn hóa cổ truyền nổi tiếng là bảo thủ từ bao nhiêu đời ở nông thôn, họ thay thế bằng cái chủ trương của CSVN theo chủ nghĩa Mác xít.

Ngoài ra, cái liều lượng khủng bố của CS đối với nông dân trong cuộc cải cách ruộng đất đợt 5 đủ để khuất phục nông dân, đủ để làm cho nông dân khiếp sợ, làm cho họ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, sống luôn luôn trong sự sợ hãi tột cùng và ghép họ vào trong khuôn phép CS, ổn định một cách kiên cố hạ tầng cơ sở xã hội nông thôn miền Bắc. Nhưng nếu làm quá đi, đẩy họ đến cùng thì nông dân họ sẽ nổi dậy như vụ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An tức là quê hương của ông Hồ Chí Minh năm 1956 và ông Hồ Chí Minh phải điều động cả một sư đoàn tới đó mới dẹp yên.

CSVN đã đạt được cái mục đích là tiêu diệt cũng như là xóa sạch những cái thành phần “phản động” ở nông thôn, đưa nông dân vào hợp tác xã do nhà nước quản lý, lấy lại cái đất đai mà lâu nay đã cấp cho nông dân hoàn toàn làm chủ cái phương tiện sản xuất nông nghiệp, quản lý cái kho lúa gạo trên toàn miền Bắc, áp đặt và củng cố vững vàng cái chính sách chỉ huy nông nghiệp, thì ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta, đảng CS lúc đó có cái tên là đảng Lao Động ngưng cuộc cải cách ruộng đất để quay qua ổn định tình hình ở thành phố. Tôi nói như vậy đó là đứng trên phương diện nội bộ Bắc Việt.

Nguyễn An: : Anh vừa dùng chữ nội bộ Bắc Việt, như vậy thì yếu tố thứ hai chắc phải là từ bên ngoài vào?

Ông Trần Gia Phụng: Dạ vâng, thứ hai là trên bình diện quốc tế, cái này mình phải chú ý, bởi vì phải đặt cái tình hình Việt Nam trong toàn bộ cái tình hình CS và toàn bộ tình hình thế giới. Trên cái tình hình quốc tế thì lúc đó ở tại Nga, nhà độc tài Stalin chết năm 1953, thì trong cuộc tranh giành quyền lực đấu đá với nhau, ông Khrushốp trồi lên và nắm được chính quyền, nắm được đảng CS và trong đại hội lần thứ 20 của đảng CS Liên Sô năm 1956 tại Moscow thì Khrushốp đã đọc một bài diễn văn nảy lửa kể hết tội lỗi độc tài, tàn ác, tôn sùng cá nhân của Stalin, cái bài diễn văn này làm cho cả thế giới kinh ngạc và ông Khrushốp hứa hẹn sẽ mềm dẻo hơn, sẽ sống chung hòa bình với các nước không đồng chế độ chính trị và ông hứa hẹn sẽ dân chủ hóa Liên Sô.

Sau khi vững vàng rồi, Khrushốp mới gởi đại diện đi các nước cộng sản, và riêng CSVN thì ông Mikoyan đến Hà Nội vào tháng 4 năm 1956, ông giải thích chính sách mới của đại hội đảng 20 của Liên Sô và vì vậy mà CSVN không thể đi ngược lại đường lối mới của Liên Sô, cho nên nhân cái cuộc tổng kết cải cách ruộng đất đợt 5 vào tháng 7 năm 1956, ông Hồ vì những cái lý do trong nước và ngoài nước thì ông Hồ cho ngưng cái cuộc cải cách ruộng đất và bắt đầu chương trình sửa sai và ông đổ trách nhiệm cho những người thừa hành mà người gần ông nhất là ông Trường Chinh,

nên ông cách chức ông Trường Chinh, cất chức nhưng sau rồi ông Trường Chinh cũng ra lại và rồi cất chức những nhân vật khác như là Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng và các nhân vật này sau cũng được trọng dụng trở lại hết, rồi bồi thường thiệt hại và xét lại một cách tượng trưng cho vài trường hợp quá đáng mà thôi

Tháng Bảy 25, 2010 Posted by | Cải cách ruộng đất | , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | Để lại bình luận

RFA: Đảng và NN CSVN đã chuẩn bị thế nào? Diễn biến cụ thể một đợt CCRD.(2)

RFA: Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (1)

RFA: Đảng và NN CSVN đã chuẩn bị thế nào? Diễn biến cụ thể một đợt CCRD.(2)

RFA: Diễn tiến của việc công khai nhận sai lầm và tiến hành sửa sai (3)

RFA: Thành quả của cuộc cách mạng “long trời lở đất”(4)

(Bài 4): Đảng và nhà nước CSVN đã chuẩn bị thế nào cho cuộc cải cách ruộng đất?

Kỳ này xin gửi đến quý thính giả cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Minh Cần về sự chuẩn bị của Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam trước khi bắt đầu cuộc Cải cách ruộng đất. Cuối giai đoạn chuẩn bị là thí điểm với vụ án bà Cát Thanh Long từng gây xôn xao dư luận một thời.

Ông Nguyễn Minh Cần trong giai đoạn ấy là một cán bộ trung cấp. Ông từng là bí thư quận uỷ ngoại thành Hà nội trước khi ra công khai, trở thành phó chủ tịch uỷ ban hành chính Hà nội vào năm 1954. Ông thấu hiểu từng bước của cụôc cải cách ruộng đất và đã trực tiếp làm công tác sửa sai sau đó tại ngoại thành Hà nội. Hiện ông Cần sinh sống tại Matxcơva.

Mời quý thính giả theo dõi cuộc trao đổi giữa biên tập viên Nguyễn An và ông Nguyễn Minh Cần về những chuẩn bị mọi mặt của đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam cho cuộc cải cách ruộng đất, khi đó đựơc gọi là một cuộc cách mạng long trời lở đất.

Nguyễn An: Kính chào ông Nguyễn Minh Cần, ông có thể cho biết là ông HCM và đảng CS đã chuẩn bị cho cuộc cải cách ruộng đất như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Cần: Trong năm 1951 và 1952 ông HCM đã cùng với Thường vụ trung ương đảng, bây giờ ta gọi là Bộ chính trị, lúc bấy giờ gọi là Thường vụ trung ương đảng, họ chuẩn bị về mọi mặt. Chuẩn bị quan trọng đầu tiên là chuẩn bị về mặt tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên, quân đội thông suốt về tư tưởng.

Vì vậy họ đã tiến hành chỉnh huấn và chỉnh quân. Trong này có một điều đáng chú ý nhất, tức là người ta nói rằng trước đây người ta coi địa chủ là một thành phần ở trong nhân dân, mà bây giờ không phải như vậy rồi. Bây giờ địa chủ không phải là nhân dân, nhân dân chỉ là nhân dân và địa chủ tức là những người chống lại nhân dân – kẻ địch của nhân dân.

Điểm đó là điểm mà xoay chiều tư tưởng rất lớn ở trong cán bộ. Lúc bấy giờ cũng có nhiều cán bộ thắc mắc, đại thể tôi muốn nói một kinh nghiệm, khía cạnh như vậy để thấy rằng lúc đầu tư tưởng của cán bộ cũng không phải nhất trí trong vấn đề đánh địa chủ đâu, mà có những thắc mắc như vậy. Thế nhưng mà những cuộc chỉnh huấn có nhiệm vụ làm thế nào để dẹp hết tất cả những tư tưởng thắc mắc đó để tạo một sự nhất trí bắt buộc ở trong đảng, ở trong quân đội và ở trong các đoàn thể. Trong giới trí thức cũng có những cuộc chỉnh huấn.

Vì vậy họ đã tiến hành chỉnh huấn và chỉnh quân. Trong này có một điều đáng chú ý nhất, tức là người ta nói rằng trước đây người ta coi địa chủ là một thành phần ở trong nhân dân, mà bây giờ không phải như vậy rồi. Bây giờ địa chủ không phải là nhân dân, nhân dân chỉ là nhân dân và địa chủ tức là những người chống lại nhân dân – kẻ địch của nhân dân.

Việc thứ hai, chuẩn bị mặt tổ chức thì tôi muốn nói rõ thêm là về mặt tổ chức lúc bấy giờ theo sự phân công giữa Mao Trạch Động và ông HCM thì Stalin có nói rằng Trung Quốc ở gần Việt Nam và đã từng có kinh nghiệm cải cách ruộng đất rồi, thế thì Trung Quốc sẽ giúp cho Việt Nam làm việc đó.

Vì vậy cho nên Việt Nam mời các cố vấn sang. Tổng cố vấn lúc bấy giờ là Lã Quý Ba, ông ta đồng thời là đại sứ của Bắc Kinh, đại sứ mà lại đồng thời là tổng cố vấn. Tổng cố vấn về quân đội là Vi Quốc Hân?, tổng vấn về cải cách ruộng đất là Triểu Hiểu Quang. Ông này là phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây, là tỉnh cũng đã làm cải cách ruộng đất.

Như vậy là trùm lên trên về mặt tổ chức là hệ thống cố vấn. Đồng thời về mặt tổ chức thì thành lập cái gọi là Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương, dưới trung ương có các đoàn cải cách ruộng đất. Mỗi đoàn cải cách ruộng đất thì có một đoàn ủy lãnh đạo. Dưới các đoàn là các đội cải cách ruộng đất.

Nguyễn An: Xin ông nói rõ thêm về đội cải cách ruộng đất, là những người trực tiếp thực hiện và dân chúng còn mô tả là có quyền hành hơn cả Trời. Nhất đội nhì Trời kia mà.

Ông Nguyễn Minh Cần: Mỗi đội cải cách ruộng đất, theo xã to hay nhỏ gồm khoảng 30 hoặc 40 người. Phần nhiều là những người ở các địa phương khác, tức là họ giữ một nguyên tắc là không để cho người địa phương nơi nào phải đi làm cải cách ruộng đất ở nơi ấy. Vì họ sợ như vậy sẽ tạo điều kiện bao che cho tổ chức cũ, bao che cho địa chủ quen biết v.v… Đấy là một nguyên tắc.

Như vậy là cả một đạo quân để đi làm cải cách ruộng đất. Bây giờ để chuẩn bị một bước thứ ba nữa tức là chuẩn bị mặt chính sách. Năm 1952, Bộ chính trị tổ chức làm thí điểm cải cách ruộng đất ở 6 xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, là một tình căn cứ của Việt Minh thời kỳ bấy giờ.

Trong lần thí nghiệm này có một sự kiện động trời, tức là tòa án cải cách ruộng đất tử hình bà Nguyễn Thị Năm (còn có tên gọi khác là bà Cát Thanh Long).

Nguyễn An: Thưa ông, vụ án này nổi tiếng lắm, ông vui lòng kể thêm một số chi tiết về vụ án này.

Ông Nguyễn Minh Cần: Bà là một người mà thời kỳ trước cách mạng đã từng che giấu, nuôi ăn, giúp đỡ các ông lớn nhất của đảng CS lúc bấy giờ là ông Trường Chinh, ông Hoàng Quốc Việt, ông Lê Đức Thọ, ông Phạm Văn Đồng, ông Lê Thanh Nghị và ông Lê Giảng.

Còn trong thời kỳ “Tuần lễ vàng”, là sau khi đã có chính phủ Việt Nam DCCH rồi thì gia đình bà đã dâng nộp100 lạng vàng cho chính quyền mới. Bà lại hoạt động trong hội phụ nữ, lại có con trai làm trung đoàn trưởng. Thế mà bà lại bị quy là địa chủ, cường hào gian ác và bị đoàn cải cách ruộng đất xử án tử hình.

Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương do Trường Chinh cầm đầu đã duyệt và thường vụ trung ương, tức là bộ chính trị cũng đã chuẩn y và tất nhiên cả ông Hồ Chí Minh lúc bấy giờ cũng biết sự kiện đó chớ không phải không. Nhưng họ lại lạnh lùng chuẩn y một án tử hình như vậy.

Phát súng đầu tiên của cải cách ruộng đất nổ vào đầu một người phụ nữ yêu nước, đã từng giúp đỡ cho những người CS! Phát súng đó đã nói rằng nó nói lên nhiều về tâm địa của những lãnh tụ CS, nó báo hiệu trước một tai họa khôn lường cho toàn dân ở miền Bắc lúc bấy giờ.

Nguyễn An: Xin được hỏi thêm ông về vụ xử tử bà Cát Thanh Long. Về sau mỗi khi tòa án tuyên án tử hình thì án được thi hành liền. Thế tại sao án tử hình của bà Cát Thanh Long lại còn phải đưa lên trên để xin ý kiến.

Ông Nguyễn Minh Cần: Vì đây là thí điểm đầu tiên, vừa làm vừa rút kinh nghiệm cho nên có sự thận trọng. Về sau này thì lại khác, tức là quyết định của tòa án là bắn luôn.

Từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 4/12/1953 thì kỳ họp thứ 3 của quốc hội khóa I, tại đó chủ tịch HCM đọc báo cáo “tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất”. Đến ngày 4/12 thì quốc hội nhất trí thông qua luật cải cách ruộng đất và chủ tịch HCM đã ký sắc lệnh ban hành luật. Từ đó bắt đầu các đợt cải cách ruộng đất.

Lúc đầu, mỗi đợt cải cách ruộng đất thì ở một vùng, số lượng xã ít hơn, nhưng dần dần thì mở rộng ra. Đến năm 1956, tức là đợt 5 là đợt cuối cùng, diễn ra ở hầu hết các đồng bằng Bắc bộ và các vùng trước đây bị Pháp chiếm đóng. Quý thính giả vừa nghe phần đầu cuộc trao đổi giữa biên tập viên Nguyễn An của ban Việt ngữ và ông Nguyễn Minh Cần về những chuẩn bị của đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam cho cụôc cải cách ruộng đất diễn ra tại miền Bắc Việt Nam 50 năm trước đây.

Trong chương trình phát thanh tới, ông Nguyễn Minh Cần sẽ kể lại với quý thính giả một cách cụ thể diễn tiến một đợt cải cách ruộng đất, bắt đầu từ lúc đội cải cách xuống xã. Mong quý thính giả đón nghe.

Diễn biến cụ thể một đợt Cải cách ruộng đất (Bài 5)

Nguyễn An: Thưa ông Nguyễn Minh Cần, kỳ trước ông có nói là trong cuộc cải cách ruộng đất thì cả một đạo quân được chuẩn bị thật là kỹ lưỡng để ra trận. Mà mũi xung kích xuống từng xã là đội cải cách ruộng đất. Vậy thì đội cải cách ruộng đất đó hoạt động như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Cần: Tôi xin giới thiệu chương trình của một đợt cải cách ruộng đất ở một xã để bạn nghe đài hiểu được là vì bây giờ đã lâu, nhiều người không biết quá trình làm như thế nào. Tức là khi đội xuống xã, việc đó rất là bí mật – coi như đợt đột kích ở trên đưa xuống.

Khi đội cải cách xuống xã rồi thì việc đầu tiên là người ta hạn chế việc đi ra đi vào. Người ta sợ việc phân tán tài sản của địa chủ. Người ta đình chỉ công việc của các ủy ban lãnh đạo, người trưởng công an cho đến người chỉ huy du kích v.v… Lúc bấy giờ toàn bộ công việc do đội nắm.

“Đội sẽ xây dựng nhóm người gọi là “bần cố nông” cốt cán theo cách thức mà nhà văn Vũ Thư Hiên kể lại như sau:

“Có anh đội, anh đội về đấy là ở trong nhà nông dân là 3 cùng: ăn cùng, ở cùng, lao động cùng. Thăm nghèo hỏi khổ, tức là hỏi xem hồi xưa sống như thế nào, địa chủ nó bốc lột ra sao. Xong rồi “bắt rễ”, tức là anh này tin tưởng được thì bắt anh này làm rễ.

Từ anh bắt rễ thì hỏi ngày xưa khổ như anh thì có ai, cũng làm tá điền như anh thì có những ai, anh biết ai khổ nhất. Tìm một anh A, chị B nào nữa thì gọi là “xâu chuỗi”. Những từ lúc bấy giờ mà tôi còn nhớ là nó như vậy.”

Ông Nguyễn Minh Cần: Tất cả những lời tố khổ của những người cốt cán đó thì đều được ghi chép lên hồ sơ, nhìn vào để phân biệt được địa chủ, phân biệt được phản động, phân biệt được nhân dân.

Rồi cũng qua lời tố khổ đó, để hiểu được và phân định thành phần ai là công nông, ai là bần cố nông. Khi đã xác định được lên hồ sơ ai là địa chủ rồi thì việc đầu tiên là phải bao vây gia đình đó, không cho đi ra khỏi nhà. Tiếp tục ngay lập tức là truy tài sản.

Tôi xin giới thiệu chương trình của một đợt cải cách ruộng đất ở một xã để bạn nghe đài hiểu được là vì bây giờ đã lâu, nhiều người không biết quá trình làm như thế nào. Tức là khi đội xuống xã, việc đó rất là bí mật – coi như đợt đột kích ở trên đưa xuống.

Vì vấn đề này là vấn đề mà theo mục đích cải cách là để sau này còn có của để chia cho bần cố nông. Của nỗi thì rõ rồi, nhưng của chìm là vàng bạc, tiền thì rất khó cho nên phải truy tài sản. Nhưng nói thực ra anh em họ vẫn gọi là “truy của” hay “tra của”. Truy ngày, truy đêm liên tục. Tôi còn nhớ khi tôi đi cải cách ruộng đất ở Thái Bình thì có nghe một câu than như thế này, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ:

Truy đêm rồi lại truy ngày Tra lui tra tới của mày để đâu Sân vườn, chuồng lợn, bờ ao Đào tung, xới hết chẳng sao: có vàng Trời ơi, oan thật là oan Thân con quá khổ biết làm sao đây

Còn việc lập hồ sơ các loại địa chủ, cường hào v.v… thì chủ yếu dựa vào lời tố của bần cố nông. Nhưng có một điều có thể nói là người ta đánh vào lòng tham lam, vào lòng hận thù. Có khi bà con lúc đầu họ không muốn tố, nhưng nếu mà không tố thì tức là dường như mình có liên quan đến địa chủ, mình chưa có thái độ dứt khoát.

Và người ta nói rằng ai tố nhiều thì sau này bả thực, tức là chia tiền, chia ruộng đất, chia tài sản v.v… thì sẽ được nhiều. Cho nên, nói thật đánh vào lòng tham, đánh vào lòng hận thù, cho nên cũng nhiều người tố rất bừa bãi. Ở nông thôn lúc bấy giờ gọi là “tố điêu” hoặc “tố đại hội”, “tố bừa”.

Nhưng khốn nỗi, tất cả những lời tố đó đều coi như những bằng chứng để kết tội người địa chủ, hoặc người đối tượng mà mình coi là phản động hay đảng phái v.v… Cho nên sau khi lên hồ sơ rồi, tức là đưa lên đoàn cải cách ruộng đất, tức là đoàn duyệt xong và chuẩn bị cho việc đấy và xử án.

Nguyễn An: Vậy là coi như hồ sơ xử án đã xong rồi, thế bây giờ chính phiên xử của tòa án nhân dân thì diễn ra như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Cần: Tổ chức tòa án là tổ chức cuộc đấu. Trước đó bao nhiêu ngày phải chuẩn bị, người ta làm như là một diễn tập cho một vỡ kịch, tức là mỗi người nông dân lên tố như thế nào, rồi ý cho họ chỉ mặt như thế nào, tức là xỉa vào mặt của địa chủ, bắt quì xuống như thế nào… v.v… tất cả những cái đó được đạo diễn trước một cách rất cẩn thận.

Nguyễn An: Có vẽ họ tập dợt trước tất cả mọi thứ, cả ai nói gì, phản ứng ra sao, hô khẩu hiệu như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Cần: Đúng rồi, khi nào địa chủ nói cái gì mà có thể gây ra điều tự bênh vực hoặc gì đấy, thì để lấn áp thì lúc bấy giờ phải hô khẩu hiệu như thế nào v.v… Có cả một kế hoạch, diễn tập như diễn một vỡ tuồng.

Như vậy đấu, có khi đấu 2-3 ngày tùy theo “tình trạng nghiêm trọng” của địa chủ hay số người v.v… Sau khi kết án thì hành quyết ngay ở trước mặt. Đấy là đợt sau này nó mới vậy.

Nguyễn An: Dường như là vào lúc bấy giờ các đoàn cố vấn của Trung Quốc nói rằng phải làm sao để có tỷ lệ 5% trên tổng số dân là địa chủ. Điều đó có không và họ đã thực hiện như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Cần: Cái đó chính là một cái khó khăn nhất của các đội, như vậy là cái này không chỉ là cố vấn đưa ra mà phải nói rằng ngay cả ông Trường Chinh cũng nói như vậy trong hội nghị giải thích cho cán bộ về cải cách ruộng đất. Sự thật ra tỷ lệ này, một sự chủ quan rất trầm trọng về tỷ lệ như vậy. Cho nên có tình trạng là ép các đội phải nông lên, gọi là “kích thành phần”.

Chính cái đó đã gây ra một thảm họa cho dân chúng trong cải cách ruộng đất. Có nhiều khi vì bí quá, cho nên các đội, và đoàn cũng nói: “thà sai hơn sót”, đấy là chữ mà người ta thường nói, hoặc là “oan một tí, nhưng không để lọt lưới”. Đấy là những câu nói cửa mồm của các đoàn và các đội. Nhưng sự thật ra “oan một tí” lại trở thành oan một trăm tí, một nghìn tí…

Tháng Bảy 25, 2010 Posted by | Cải cách ruộng đất | , , , , , , , , , , , , , | Để lại bình luận

RFA: Diễn tiến của việc công khai nhận sai lầm và tiến hành sửa sai (3)

RFA: Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (1)

RFA: Đảng và NN CSVN đã chuẩn bị thế nào? Diễn biến cụ thể một đợt CCRD.(2)

RFA: Diễn tiến của việc công khai nhận sai lầm và tiến hành sửa sai (3)

RFA: Thành quả của cuộc cách mạng “long trời lở đất”(4)

Diễn tiến của việc công khai nhận sai lầm và tiến hành sửa sai (Bài 9)

Từ tháng bẩy năm 1956, đã có nhiều hội nghị của bộ chính trị, ban bí thư và ban chấp hành bàn về những sai lầm trong cải cách ruộng đất và sửa sai. Cao điểm là hội nghị trung ương 10 vào tháng chín. Đó là hội nghị họp dài ngày nhất cho đến lúc bấy giờ, họp làm hai lần cho đến tháng 11 mới xong.

Hình ảnh được trưng bày tại Triển lãm cải cách ruộng đất tổ chức tại Hà Nội từ tháng 3 đến tháng 5/1956.

Trong cuốn hồi ký “Giọt nứơc trong biển cả”, ông Hoàng Văn Hoan nguyên phó chủ tịch quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà kể lại rằng trong hội nghị, các đại biểu đã nêu lên những sai lầm khá đầy đủ và rõ rệt trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất. Ông viết như sau:

“Người phụ trách Uỷ ban cải cách ruộng đất là Trường Chinh, tuy không chối cãi đựơc, nhưng cứ lý luận rằng cải cách đã đưa lại ruộng đất cho nông dân là một thắng lợi lớn, còn những sai lầm thì né tránh, không thừa nhận một cách thẳng thắn. Hoàng Quốc Việt cũng không nhận sai lầm.

Chỉ có Lê Văn Lương, trưởng ban tổ chức trung ương đảng là thành thực nhận sai lầm trong việc chỉnh đốn tổ chức…

Hội nghị trung ương đáng lẽ phải có một nghị quyết tổng kết kinh nghiệm về cải cách ruộng đất, nhưng Trường Chinh, vừa là tổng bí thư, lại vừa là trưởng ban cải cách ruộng đất, vì tư tưởng chưa thông, nên dự thảo nghị quyết mấy lần đều không đựơc hội nghị trung ương chấp thuận.”

Bốn năm sau, khi đảng họp đại hội lần thứ ba vào năm 1960, nghị quyết ấy cũng chưa có, và lúc bấy giờ cũng chẳng ai nhắc lại nữa. Đó là lần đầu tiên, một hội nghị trung ương quan trọng như thế mà lại không có nghị quyết tổng kết. Ông Hoàng Văn Hoan còn nói thêm rằng, ngay trong quá trình sửa sai, Trừơng Chinh vẫn không dứt khoát.

Điều đó có thể giải thích rằng, mặc dù bị tạm thời hạ tầng công tác như một biện pháp kỷ luật, nhưng Trường Chính chắc vẫn cho rằng ông không phải là ngừơi chịu trách nhiệm cao nhất.

Cuối tháng 10 năm 1956, có mít tinh lớn tại nhà hát nhân dân Hà nội, Uỷ viên bộ chính trị đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt ông Hồ Chí Minh và trung ương đảng chính thức công nhận những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách rụông đất. Cả hai nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất và phải chịu trách nhiệm nặng nhất là Ông Hồ và ông Trường Chinh đều không ra mặt.

Sau khi công nhận sai lầm, đảng bắt đầu sửa sai.

Cuộc cải cách ruộng đất đầy oan khuất, đầy máu và nứơc mắt đã chấm dứt. Đã có tổng số tám đợt phát động quần chúng và năm đợt cải cách ruộng đất đựơc thực hiện tại 3563 xã.

Một câu hỏi phải đặt ra là tại sao đảng Cộng sản lại ngưng cuộc cải cách ruộng đất vào lúc đó? Nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng trả lời:

“Hồ Chí Minh và đảng CS phải chấm dứt đợt cải cách ruộng đất năm 1956 vì hai lẽ.

Lẽ thứ nhất trong nội bộ Bắc Việ,t là cuộc cải cách ruộng đất đã đạt được các mục tiêu chính trị của họ. Mục tiêu chính trị của họ là gì? Mục tiêu chính trị của họ, thứ nhất là xóa bỏ giới hà bộc lãnh đạo hạ tầng cơ sở ở nông thôn và thay vào đó lớp lãnh đạo mới, là những đảng viên cộng sản.

Mục tiêu chính trị của họ nữa là chận đứng sự trà trộn của những điệp viên địch thủ trong dân chúng. Họ xóa bỏ toàn bộ nền văn hóa cổ truyền nổi tiếng là bảo thủ từ bao nhiêu đời ở nông thôn và họ thay thế bằng chủ trương của CSVN theo chủ nghĩa Mác Xít.

Thứ hai là trên bình diện quốc tế thì ông Michael Young đến Hà Nội vào tháng 4 năm 1956. Ông ấy giải thích chính sách mới của đại hội đảng 20 của Liên Xô. Vì vậy mà CSVN không thể đi ngược lại với đường lối mới của Liên Xô. Cho nên nhân cuộc tổng kết cải cách ruộng đất đợt 5 vào tháng 5 năm 1956, ông Hồ vì những lý do ở trong và ngoài nước thì ông Hồ cho ngưng cuộc cải cách ruộng đất và bắt đầu chương trình sửa sai.”

Đảng đã sửa sai thế nào? Mời quý thính giả nghe lời kể của ông Nguyễn Minh Cần, lúc đó là phó chủ tịch thành phố Hà nội, và trực tiếp tham gia công tác sửa sai tại ngoại thành Hà nội:

“Hồ Chí Minh và đảng CS phải chấm dứt đợt cải cách ruộng đất năm 1956 vì hai lẽ.

Lẽ thứ nhất là vấn đề nội bộ Bắc Việt là cuộc cải cách ruộng đất đã đạt được các mục tiêu chính trị của họ. Mục tiêu chính trị của họ là gì? Mục tiêu chính trị của họ, thứ nhất là xóa bỏ giới hào mục lãnh đạo hạ tầng cơ sở ở nông thôn và thay vào đó lớp lãnh đạo mới, là những đảng viên cộng sản.

Mục tiêu chính trị của họ nữa là chận đứng sự trà trộn của những điệp viên mà địch thủ trong dân chúng. Họ xóa bỏ toàn bộ nền văn hóa cổ truyền nổi tiếng là bảo thủ từ bao nhiêu đời ở nông thôn và họ thay thế bằng chủ trương của CSVN theo chủ nghĩa Mác Xít.

Thứ hai là trên bình diện quốc tế thì ông Mikoyan đến Hà Nội vào tháng 4 năm 1956. Ông ấy giải thích chính sách mới của đại hội đảng 20 của Liên Xô. Vì vậy mà CSVN không thể đi ngược lại với đường lối mới của Liên Xô. Cho nên nhân cuộc tổng kết cải cách ruộng đất đợt 5 vào tháng 7 năm 1956, ông Hồ vì những lý do ở trong và ngoài nước thì ông Hồ cho ngưng cuộc cải cách ruộng đất và bắt đầu chương trình sửa sai.”

Một người khác là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện kể lại về sửa sai như sau:

“Sửa sai ở đây là không phải sửa sai cho địa chủ mà sửa sai cho những người vốn là đảng viên hoặc là những người vốn rất có công với kháng chiến nhưng bị vu cho là Đại Việt, Quốc Dân Đảng, vu cho là gián điệp… đủ thứ.

Những người đã giết rồi thì thôi, không nói làm gì rồi. Thế nhưng những người còn sót lại thì tha. Thế còn thực tế, những người bị quy là địa chủ mà đã vào tù rồi, chết rồi thì tôi không nói, đấu tố bắn ngay tôi không nói, nhưng vào tù rồi thì công bằng mà nói thì cả huyện của tôi là huyện Bình Dục, sau này tôi về chơi thì không có ông nào được tha cả.

Ngay làng tôi thôi có hai cha con ông Chánh Hồ, cũng bị quy là địa chủ, mà ông ta có giàu có gì đâu, bị quy là địa chủ. Ông ta trước kia là người chuyên môn đón bộ đội về làng, bộ đội là đến nhà ông ấy mà.

Thế là nhà ông Phó Liêm nữa. Những ông đó, một ông thì tự tử chết, hai người đi tù. Một ông nữa là ông Chánh Điểm cũng đi tù. Tất cả mấy người đi tù đó đều chết trong tù hết. Cả những làng xung quanh tôi không thấy ai về.

Mãi đến tận năm 1961, lần đầu tiên tôi đi tù thì tôi gặp không biết bao nhiêu là địa chủ vẫn còn nằm nguyên trong tù thôi.

Đến tù lần thứ hai năm 1966, tôi sống trong tù đến năm 1977 mới ra, thì vẫn còn những bác địa chủ vẫn bị sống trong tù – tuy là chết nhiều lắm rồi.” Sau cùng, xin đựơc kết thúc bài về sửa sai này bằng bài thơ mà ông Nguyễn Minh Cần nghe đựơc khi công tác sửa sai tại một làng thụôc huyện Đông Anh ở ngoại thành Hà nội:

Bác Hồ nói chuyện sửa sai Sai thì cứ sửa, sửa rồi cứ sai Đảng ta có lắm anh tài Sai hoài sai mãi, sửa hoài cứ sai

Tháng Bảy 25, 2010 Posted by | Cải cách ruộng đất | , , , | Để lại bình luận

RFA: Thành quả của cuộc cách mạng “long trời lở đất”(4)

RFA: Các giai đoạn của cuộc cải cách ruộng đất (1)

RFA: Đảng và NN CSVN đã chuẩn bị thế nào? Diễn biến cụ thể một đợt CCRD.(2)

RFA: Diễn tiến của việc công khai nhận sai lầm và tiến hành sửa sai (3)

RFA: Thành quả của cuộc cách mạng “long trời lở đất”(4)

Thành quả của cuộc cách mạng “long trời lở đất” (bài 10)

Cuộc cải cách rụông đất tại miền Bắc đã chấm dứt và cuộc sửa sai bắt đầu từ mùa thu năm 1956. Nói về thành quả của cuộc cách mạng đựơc coi là “long trời lở đất” này, nhà nghiên cứu Sử Trần Gia Phụng nhận định:

“Đứng về phương diện chuyên môn nông nghiệp, cuộc cải cách ruộng đất không thúc đẩy được nông nghiệp phát triển, không thăng tiến được đời sống nông dân mà còn làm tan nát nền nông nghiệp cổ truyền ở ngoài Bắc và đưa mọi người vào cảnh nghèo đói. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của đảng CS thì họ đã thành công trong cải cách ruộng đất, đã đạt được những mục tiêu chính trị của họ.

Hình ảnh được trưng bày tại Triển lãm cải cách ruộng đất tổ chức tại Hà Nội từ tháng 3 đến tháng 5/1956.

Mục tiêu chính trị của họ, thứ nhất là xóa bỏ giới hào mục lãnh đạo hạ tầng cơ sở ở nông thôn và thay vào đó lớp lãnh đạo mới, là những đảng viên cộng sản.

Mục tiêu chính trị của họ nữa là chận đứng sự trà trộn của những điệp viên trong dân chúng. Họ xóa bỏ toàn bộ nền văn hóa cổ truyền nổi tiếng là bảo thủ từ bao nhiêu đời ở nông thôn và họ thay thế bằng chủ trương của CSVN theo chủ nghĩa Mác Xít.

Ngoài ra, liều lượng khủng bố của cộng sản đối với nông dân trong cuộc cải cách ruộng đất đợt 5 đủ để khuất phục nông dân, đủ để làm cho nông dân khiếp sợ, làm cho họ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, sống luôn luôn trong sự sợ hãi tột cùng, và ghép họ vào trong khuôn phép cộng sản, ổn định một cách kiên cố hạ tầng cơ sở của xã hội nông thôn miền Bắc”.

Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho đài Á châu tự do đã đưa ra hình ảnh so sánh vùng quê ở miền Bắc trứơc và sau khi tiến hành cải cách ruộng đất như sau:

“Bây giờ thì cần phải nói như thế này, cái này là kinh nghiệm cá nhân. Vào đầu cuộc kháng chiến chống Pháp thì tôi tham gia một đoàn tuyên truyền xung phong. Chúng tôi đi đâu mà còn có cái ăn thì đó là những người giàu có, sau này thì bảo đó là những địa chủ.

Nhưng lúc đó thì chúng tôi chẳng hiểu họ là địa chủ hay họ là cái gì. Họ là những người hằng tâm, hằng sản nuôi bộ đội, cho cán bộ và cho chúng tôi nữa (đoàn tuyên truyền xung phong), đến là có cái ăn. Tất cả những người đó khi chúng tôi hỏi thăm thì đều bị đấu tố, bị vứt ra ngoài lề của xã hội mà họ gọi là mới.

Về sau này tìm hiểu thì tôi thấy có một cái tệ, tức là đấy không phải là một cuộc cải cách ruộng đất. Bởi vì nếu là một cuộc cải cách ruộng đất thì trước cải cách ruộng đất phải có điều tra tình hình ruộng đất.

Tôi nhớ, vào giai đoạn đó tôi không đọc được một bản điều tra nào về tình hình ruộng đất ở Việt Nam cả. Sự phân bổ ruộng đất, bao nhiêu phần trăm là địa chủ, bao nhiêu phần trăm là trung nông, phú nông, bần nông, chẳng hạn như thế. Họ không cần cải cách ruộng đất, tức là không muốn phân bố lại ruộng đất sao cho nó hợp lý. Mà căn bản, đó là một cuộc đấu tranh chính trị.

Ruộng đất đối với cải cách ruộng đất là một cái cớ để cào xới lại, đưa lại rất nhiều những quyền lợi, mà cũng không phải rõ ràng lắm, cho nông dân. Nông dân vùng lên đấu tranh làm cách mạng, người cày phải có ruộng.

Thế nhưng thật sự ra thì khi tiến hành tất cả những cái đó thì ruộng đất có một thời gian là có cắm cờ, rồi phân thửa ruộng này là của ông A, ông B rồi đóng cọc. Các bạn có xem những cái phim, chắc là bây giờ còn lại trong tư liệu, còn cả đấy. Nhưng cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn thôi thì nó là tổ vần công, tổ đổi công xong thì họ lại cũng không có gì nữa.”

Lời kể của người trong cuộc

Ông Nguyễn Minh Cần, một người từng là phó chủ tịch Uỷ ban hành chính thành phố Hà nội và trực tiếp tham gia chiến dịch sửa sai cũng phân tích về những hậu quả của cụôc cải cách ruộng đất. Mời quý thính giả theo dõi cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An và ông Nguyễn Minh Cần sau đây:

Nguyễn An: Thưa ông, bây giờ trở lại cuộc cải cách ruộng đất cách đây 50 năm. Theo ông thì cuộc cải cách ruộng đất đó để lại những hậu quả gì, những di hại gì?

Ông Nguyễn Minh Cần: Cái cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về rất nhiều mặt.

Nguyễn An: Xin Ông vui lòng phân tách từng điểm một?

Ông Nguyễn Minh Cần:

Điểm thứ nhất: Đây là một cuộc tàn sát dân lành một cách vô tội vạ. Nếu nói theo từ ngữ hiện nay thì phải nói đây là một cuộc diệt chủng vì kỳ thị giai cấp. Bổng dưng lập ra lệnh cải cách ruộng đất, đưa những đoàn người về và tha hồ qui người ta lên là địa chủ.

Trên 172.000 người là nạn nhân. Tôi cón phải nói đến số người mà người ta oan ức quá, bực bội quá, người ta tự tử. Số đó cũng không phải là ít. Theo tôi, hậu quả đó rất lớn, nó gây ra một tâm trạng sợ sệt, khủng khiếp của người dân.

Hậu quả thứ hai là phá hoại truyền thống hòa hiếu của nông thôn, là vì từ trước ải nói dù rằng có thể có bóc lột, có thể có gì đấy với nhau, nhưng người nông dân sống với nhau là lá lành đùm lá rách, rất hòa hiếu với nhau.

Cuộc cải cách ruộng đất về xúi người này bới móc tội lỗi của người kia, và có thể những tội hoàn toàn không có cũng bới ra. Và dựa vào những thù cũ rồi gây ra thù hận giữa các tầng lớp với nhau. Chính cái đó nó phá hoại truyền thống đoàn kết lâu đời của người Việt Nam mình ở nông thôn.

Nguyễn An: Thưa ông, có phải ông muốn nói rằng cuộc cải cách ruộng đất đặt trên cơ sở là gây sự căm thù để phát động quần chúng, và sau đó sự căm thù đó lớn rộng và nó tiếp tục còn lại sau khi cuộc cải cách ruộng đất đã chấm dứt không?

Ông Nguyễn Minh Cần: Đúng như vậy.

Nguyễn An: Thưa , điểm thứ ba là gì?

Ông Nguyễn Minh Cần: Hậu quả thứ ba là phá hoại đạo lý luân thường của dân tộc . Từ xưa đến nay cha đối với con, mẹ đối với con, vợ chồng đối với nhau, họ hàng cha chú đối với nhau đều có một luân thường đạo lý. Nhưng cải cách ruộng đất về xúi dục con tố cha, vợ tố chồng, nàng dâu tố mẹ chồng, bố chồng v.v… đấu đá lẫn nhau như vậy.

Nguyễn An: Và gọi mày tao mi tớ hết?

Ông Nguyễn Minh Cần: Vâng. Như vậy, luân thường đạo lý tan hoang.

Nguyễn An: Thưa ông, theo ông thì những cái mà phá hoại nền tảng luân lý đạo đức, rồi sự hòa hiếu ở trong nông thôn đó cách đây 50 năm thì được khai thác tối đa để hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất… tinh thần như thế sau bao nhiêu lâu mới phục hồi được? Hay bây giờ nó vẫn còn là những vết thương rỉ máu?

Ông Nguyễn Minh Cần: Theo tôi, vì cho đến nay chưa có một sự sám hối rõ ràng. Chưa có một tuyên bố rằng chính sách hận thù giai cấp là một chính sách không đúng. Phải nói thật rằng bây giờ thì 50 năm đã qua thì người ta yên như vậy, nhưng lòng hận cũ không phải là đã hết.

Còn một điểm tôi cũng muốn nói nữa là hậu quả thứ tư: Nó phá hủy truyền thống tâm linh và văn hóa của dân tộc. Vì khi làm cải cách ruộng đất thì các ông đều có cái ý hướng là tiêu diệt các tôn giáo, chèn ép các tôn giáo, tước đoạt tài sản của các tôn giáo để làm cho các tôn giáo không tồn tại được một cách độc lập.


Tháng Bảy 25, 2010 Posted by | Cải cách ruộng đất | , , , , | Để lại bình luận

Chủ nghĩa công sản bị cáo buộc chống nhân loại.

Tội ác của Cộng sản với nhân loại

Chủ nghĩa Mác-Lê

Chủ nghĩa Mác-Lê do hai ông Karl Marx và Angels chủ xướng và được ông Lênin vận dụng tạo cuộc cách mạng giải phóng lớp công nhân thợ thuyền bị bốc lột và các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Chủ thuyết này thoạt đầu rất được phát triển ở các nước Đông Âu, Á, Phi và Mỹ Latin. Tuy nhiên chẳng được bao lâu thì nó đã bị phá sản, nó bị phá sản vì nó chỉ là một chủ thuyết mơ hồ, ảo tưởng không đưa được các dân tộc đã tốn nhiều xương máu có được đời sống ấm no, không đi đến được thiên đường mà họ đã rêu rao, trái lại chỉ đem đến cho họ một cuộc sống cơ cực hơn và bị bạc đãi hơn.

Rồi bức tường ngăn cách Đông Tây nước Đức bị vỡ tan, người vùng cộng sản chạy sang tìm cuộc sống mới trên vùng tư bản. Sau cùng chủ nghĩa cộng sản dãy chết trên cái nôi, nơi sinh ra nó: thành trì Liên Xô. Tuyên truyền hoạt động giành chánh quyền về tay nhân dân để làm chủ đất nước theo thiên đường cộng sản, nhưng khi chiếm được chính quyền rồi thì người cộng sản trở lại đàn áp và bốc lột nhân dân gấp trăm lần tư bản.

Vì thế sau khi chiếm được chính quyền chẳng bao lâu thì người dân thấy được bộ mặt gian trá, chỉ giỏi tuyên truyền phỉnh gạt của người cộng sản nên họ luôn tìm cách vượt biên, vượt biển, băng rừng trốn sang vùng tự do của chế độ tư bản, vì chế độ tư bản dù sao cũng khá hơn. Những chính trị gia vùng Đông Âu cộng sản trước đây nhận định về chủ nghĩa cộng sản như sau:

Lech Walesa, giải Nobel Hòa bình, cựu chủ tịch Công đoàn Đoàn Kết và là tổng thống Balan sau ngày giải phóng từng tuyên bố:

Lech Walesa. Photo courtesy of Wikipedia.
Lech Walesa. Photo courtesy of Wikipedia.

“Người cộng sản là những tổ sư chuyên về phá hoại. Họ có thể biến cái hồ cá thành tô súp cá dễ như chơi. Cái mà chúng tôi phải đối đầu hôm nay là biến tô súp cá đó thành cái hồ cá lại…” (Đàn chim Việt online ngày 12-5-2007)

Theo Brianhanrahan, phóng viên ngoại giao đài BBC trong bài “ Vai ttrò của Hungary trong cách mạng 1989 ” viết về Ông Imre Pozsgay, một nhân vật có đầu óc chủ trương đổi mới hàng đầu trong đảng Cộng sản Hungary. Ông nói: Từ lâu tôi tin vào chủ thuyết cộng sản. Nhưng từ đầu thập niên 1980, tôi nhận thức là không thể nào đổi mới được đảng cộng sản, và điều duy nhất là phải thay đổi chế độ đó.” (BBC online ngày 26-10-2009)

Cũng lời của ông Imre Pozsgay do Chris Bowlby thuật trong một cuộc phỏng vấn ông đáp không hề do dự:

“ Tôi không muốn trở về thời kỳ trước đây vì bất cứ một lý do nào cả bởi vì xã hội trước đây là một xã hội ung thối và phải tan rã, thế thôi.”(BBC online ngày 04-11-2009 )

Sau đây là ý kiến của những nhà cách mạng lão thành và những nhà trí thức trẻ đang đấu tranh vì dân chủ của Việt nam nhận định về chủ nghĩa cộng sản như sau:

Ông Lê Hồng Hà, nguyên chánh văn phòng Bộ Công an trong bức thư chất vấn Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương , ông viết:

“Đối với dân tộc Việt nam, học thuyết Mác là học thuyết ngoại nhập…Không giúp lý giải được xã hội Việt nam với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng toàn khác với Tây Âu, rất dể dẫn cách mạng VN đi chệch đường và do đó gây nên tổn thất, gây đổ vỡ, gây kiềm hãm sự phát triển…” (Người Việt ngày 28-2-2001)

Giáo sư Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng viện Triết học Mác-Lê của Hà nội trả lời phỏng vấn của đài RFA:

“ Cái đảng này nó đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, mà bản thân chủ nghĩa Mác-Lênin đã sai từ gốc rễ và cái đảng này nó đang xây dựng một cơ chế độc tài, độc quyền toàn trị thì làm sao cải tổ được, tự đổi mới được…Liên xô đàn áp nhân dân như thế, Liên xô đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin xây dựng một chính đảng toàn trị, thì chính nhân dân đã nổi dậy lật đổ cái chính đảng đó…”(Việt Tide số 55, ngày 02-08-2002)

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong cuộc hội luận trong và ngoài nước do đài RFA tổ chức, ông nói:

“Ba mươi năm qua, chủ nghĩa Mác-Lênin đã tàn phá đất nước này về mặt kinh tế, và tàn phá cả về mặt văn hóa và tư tưởng…Phải bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và phải rút ra được những nhận định một cách khách quan, thẳng thắng về sự tàn hại của cái ứng dụng sai lầm chủ nghĩa Mác-Lênin…” (Người Việt ngày 11-07-2005)

Linh mục Phan Văn Lợi trích trong bức thư nhân ngày lễ Tháng Tư Đen lần thứ 32:

“ Thành tố thứ nhất, tức cái chủ nghĩa phi nhân sai lạc mang tên học thuyết Mác-xít, khởi sự hoành hành trên cả nước. Bao nhiêu gía trị văn hóa, đạo đức cao dẹp ngàn đời vốn được tổ tiên chúng ta xây dựng và bồi đắp nhờ sự trợ lực của các tôn giáo, nay bị thứ chủ nghĩa lai căng tồi tệ đó coi khinh, xóa bỏ…”(Thời luận ngày 3-4-2007 )

Kỹ sư Đỗ Nam Hải, một nhà trí thức trẻ trong thư trả lời cô Hải Yến ông viết: “Thiên đường Mác-Lênin hiện nay đã quá lỗi thời và đảng CSVN chỉ dùng để nhồi sọ, ru ngủ thanh niên mà thôi…” (Người Việt ngày 09-08-2005 )

Xem thế, chủ nghĩa Mác-Lênin ngày nay không còn ai tin nữa, tuy nhiên đảng Cộng sản Việt nam còn mượn nó để làm cái phao “ nín thở qua sông ” chớ không thôi rã bè ra thì chết chùm cả đám, mà ngay cái mã Hồ Chí Minh cũng không còn.

Luật sư Lê Quốc Quân, trích bài “Đảng cộng sản cần canh tân”

“Học thuyết Mác Lê Nin xây dựng CNXH từ lâu không còn tồn tại trong thực tế. Chủ nghĩa CS thực sự đang chết dần vì những toan tính lợi ích riêng tư của từng đảng viên khi phấn đấu vào đảng…

Những đảng viên cộng sản hiện nay tự vo tròn, co vòi lại. Họ không còn dám xả thân vì nghiệp lớn. Nhiều đảng viên nay né tránh, lười biếng và phủ nhận chính mình…Lý thuyết cộng sản mất đi tính quyến rũ. Nó trở nên trần trụi và lai căng…

Bởi vậy, đảng phải tự ý thức đổi mới nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất.  Đảng phải thẳng thắn sám hối và canh tân từ trong sâu thẩm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục nguỵ biện, chấp vá một cách thiếu cơ sở…” (BBC online ngày 12-3-2010)

Tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ một đảng viên kỳ cựu, một trí thức ở Hà Nội đã gửi thư cho đảng CSVN đề nghị bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin trả lời phỏng vấn của phóng viên Mặc Lâm đài RFA, ông Thọ nói:

“…Quan điểm của tôi, nếu mà đảng không lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì cái nghủ nghĩa Mác-Lênin sẽ bằm nát đảng lại. Với những mũi nhọn tấn công từ phía ngoài, nó chỉ cần đánh vào cộng sản và đánh vào tham nhũng là chết rồi, là tan đảng rồi….” (RFA online ngày 02-04-2010 )

Khi trả lời phỏng vấn của BBC hôm 13- 4 tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ nói:

“Chính chủ nghĩa Mác-Lênin và sự “ mù mờ”của định hướng XHCN đã gây ra những vấn đề trong xã hội Việt nam hiện nay trong đó có tham nhũng và “ bịt miệng”. Ông Thọ cũng nói ông tin là đa số các đảng viên của đảng cộng sản nhìn thấy sự cần thiết phải gạt bỏ học thuyết của Mác và Lênin.”(BBC online ngày 14-04-2010)

Những con người cộng sản khát máu

  • Liên xô: Vladimir llyich Lenin

Vladimir llyich Lenin. Photo courtesy of Wikipedia.
Vladimir llyich Lenin. Photo courtesy of Wikipedia.

“Các sử gia từ lâu đã thống nhất rằng lãnh tụ Cách mạng Nga Vladimir llyich Lenin đã phải chịu đựng ba cơn đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn đến cái chết của ông.

Nhưng chứng cứ mới được phát hiện cho thấy Lenin qua đời vì căn bệnh lây truyền qua đường tình dục: giang mai…”

“Trong hồ sơ lưu trữ tại Đại học Columbia ở New York, cô (Helen Rappaport) đã tìm thấy bản tham chiếu liên quan đến sự thật hiển nhiên về căn bệnh của Lenin do nhà khoa học lỗi lạc người Nga Ivan Pavlov ghi lại…

Các bác sĩ của Kremllin từng nghiên cứu về Lenin đều bị cấm nói về chuyện nầy – có thể phải chịu hình phạt tử hình – và đã bị buộc phải tiêu huỷ tài liệu chính thức…” (Đối thoại online ngày 23-10-2009 )

“Cung điện Mùa Đông bị tấn công đêm 24 rạng 25 tháng 10. Sau đó Lénine, chiến thắng vào 07tháng 11, tuyên bố lập trật tự xã hội bằng tàn sát cũng như đày ải. Vô thần và duy vật bắt đầu gieo rắc đau khổ cho nhân loại kể từ ngày 07-11-1917…” (Đàn chim Việt online ngày 15-11-2009 )

  • Joseph V. Stalin:

“ Ngày 17-09(1939) Hồng quân Liên xô cũng tràn vào nước Balan từ phía Đông. Mười ngày sau, chính quyền Balan sụp đổ và rút lực lượng còn lại chạy theo hướng Đông-Nam ra nước ngoài . Sau đó, Liên xô bắt chừng 1 triệu rưỡi người Balan đi đày ở vùng Siberia và bắn chết 22 ngàn người tù binh Balan  ở rừng Katyn, bất chấp Công ước quốc tế về chiến tranh. Khi vụ thảm sát bị phát hiện, Matxcơva đổ tội cho quân Đức. Mãi đến thời Gorbachov nước Nga mới nhận lỗi về vụ này.” (BBC online ngày 06-0502005 )

“Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã lớn tiếng chỉ trích những ai có ý định phục hồi vị thế của cựu lãnh tụ Xô viết Joseph Stalin. Hàng triệu người dân Liên xô cũ chết dưới thời Stalin và ông Medvedev khẳng định không có lời giải thích thỏa đáng cho hành động của những người lãnh đão huỷ diệt chính nhân dân mình…Ông Medvedev nói ông không thể tưởng tượng nổi quy mô đàn áp dưới thời Stalin khi nhiều nhóm người bị tàn sát và thậm chí mất cả quyền được chôn cất.” (Đài BBC online ngày 31-10-2009 )

Joseph V. Stalin. Photo courtesy of Wikipedia.
Joseph V. Stalin. Photo courtesy of Wikipedia.

“Cách đây đúng 70 năm, trong giai đoạn 1937-1938, chế độ độc tài của nhà độc tài sắt máu Stalin, mở đầu hàng loạt vụ bắt bớ, thủ tiêu và thanh trừng chính trị. Từ tháng 8-1937 đến tháng 10-1938, chỉ riêng trong nhà tù tại Uỷ ban An ninh quốc gia, chế độ Stalin đã bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000 người lãnh đạo tôn giáo. Giáo chủ giáo phận St.Petersburg Serafincũng bị giết vào thời gian này…Hơn 700 ngàn người bị giết. Theo Alexandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải thưởng văn học, có khoảng 60 triệu người đã bị chết trong chế độ Xô viết trong giai  đoạn từ 1917 đến 1956…(BBC online ngày 12-08-2007 )

  • Trung cộng: Mao trạch Đông

Trích bài “Cựu thư ký nói về Mao Trạch Đông .”

“Theo Lý Nhuệ, Mao từng nói:“Ta là Tần thuỷ Hoàng và Marx.Hoặc anh ủng hộ ta, hoặc anh không dám nói ra, hoặc anh tự thú nói trái lòng mình.”

Lý Nhuệ nói:“ Bất kỳ ai có não bộ phải nói dối.” Nhưng năm 1958, tính cứng cỏi khiến ông ta bị tống đi cải tạo 2 năm sau khi phê phán Đại Nhảy Vọt. Trong phong trào Đại Nhảy Vọt năm 1958,  ước tính 30 triệu người đã chết đói…”(BBC online ngày 14-02-2008 )

Nhà báo Bùi Tín: Trích bài “ Những điều chưa biết về Mao trạch Đông .”

Trả lời phỏng vấn của Pv Nguyễn An đài RFA dựa theo cuốn sách

“ Mao-an unknown story ” của hai tác gỉa  Jung Chang và Jon Halliday do nhà xuất bản Globalflair ấn hành .

Đặc biệt là cuộc Cách mạng Văn hóa đã làm đổ máu hàng 10 triệu người mà tiêu biểu nhất là ông Lưu thiếu Kỳ, ông Bành đức Hoài, nguyên soái Hạ Long đã bị đối xử một cách tàn khốc, bị đọa đày, bị bắt phải quỳ xuống, bị đánh đá hộc máu. Gọi Cách mạng Văn hóa mà không có một tí gì văn hóa cả…”(RFA online ngày 14-02-2008)

Bác sĩ Lý Chí Tuy nói về bí mật cuộc đời của Mao trạch Đông như sau:

“Họ Mao bị viêm phế quản và nay thêm bịnh mới-lậu mủ. Các cuộc tiếp xúc tình dục của họ Mao đã đến mức quá đáng và vì giữa tôi và ông không còn thân thiết như trước nên cũng không tiện tìm hiểu nguyên nhân. Để chửa bịnh này tôi dùng thuốc Bắc…”

Ông Mao Trạch Đông (1893-1976). Chủ tịch Đảng cộng sản Trung Quốc  nhiệm kỳ từ 1943 đến 9 tháng 9, 1976. Photo courtesy of Wikipedia.
Ông Mao Trạch Đông (1893-1976). Chủ tịch Đảng cộng sản Trung Quốc nhiệm kỳ từ 1943 đến 9 tháng 9, 1976. Photo courtesy of Wikipedia.

“Bước nhảy vọt của họ Mao đem đến nạn đói bi thảm nhất trong lịch sử Trung hoa với con số lên đến bốn mươi ba triệu người chết. Cuộc Cánh mạng Văn hóa thì đẩy đất nước vào tình trạng hổn loạn, tiêu huỷ đời sống người dân, phá hại gia đình, làm vỡ tan tình bằng hữu và toàn bộ cơ cấu xã hội Trung hoa…”

Điều đáng ngạc nhiên hơn là con số các cô gái trẻ đẹp hầu hạ cho họ Mao tăng lên nhiều hơn trước, khắp mọi nơi…Chung quanh ông lúc nào cũng có một bầy con gái. Lúc Cách mạng Văn hóa trở thành cao trào thì họ Mao nằm trên giường với ba, bốn hoặc năm cô cùng một lúc…” (Trích “Bí mật cuộc đời Mao trạch Đông” do Bs Lý Chí Tuy viết và Ngọc Dung dịch)

  • Cambodia: Khmer Đỏ

Phóng viên Nguyễn Bình: Trích bài “ Tòa xử Khmer Đỏ …”

“ Nghi phạm ra vành móng ngựa đầu tiên là ông Khang Gạc Yêu, tên thường gọi là Dutch, trưởng trại giam Tuol Sleng S-21, là nơi được ví như địa ngục trần gian trong gần 4 năm cầm quyền của Khmer Đỏ, từ năm 1975 đến năm 1979…

Ông Dutch là một trong 5 vị lãnh đạo tối cao của chế độ Khmer Đỏ bị quy trách nhiệm về cái chết của gần 2 triệu người Cambodia. Ông bị bắt ở gần biên giới Thái lan vào năm 1999, và bị tòa án xử Khmer Đỏ ra quyết định đưa vào trại giam trong trụ sở của tòa này vào tháng 7 năm 2007 vừa qua.

Theo Trung tâm tài liệu Cambodia, ông Dutch sẽ chịu trách nhiệm về cái chết của trên 10.000 tù nhân trong trại giam S-21 do ông phụ trách…”(RFA online  ngày 31-10-2007)

  • Việt-nam : Hồ Chí Minh

Cải cách ruộng đất 1953-1956 :

Hòa thượng Thích Quảng Độ, trong cuốn“ Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với dân tộc và Phật giáo Việt nam”, đoạn viết về cuộc tàn sát những người dân vô tội của cộng sản trong chiến dịch cải cách ruộng đất, ông viết:

“…cuộc đấu tranh câm thù giai cấp diễn ra suốt sáu tháng trời trên toàn miền Bắc chết chốc quá nhiều, đến 700 ngàn người (trong đó có nhiều trường hợp, như một cán bộ đã nói với tôi nguyên văn như sau: “cộng sản chặt đầu cộng sản mới đau chứ.” (Đối thoại online trang 11 ngày 21-09-2007)

“Ông Bùi Tín một người bất đồng quan điểm với chính phủ CSVN cũng nêu lên con số nạn nhân là 500 ngàn người do Michel Tauriac, nhà văn, nhà báo đưa ra. Bùi Tín cũng cho rằng con số này hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử.” (Wikipedia online ngày 19-5-2006)

Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế:

Trích bài “Huế, 40 năm sau Tết Mậu thân…” của Pv Thiện Giao đài RFA:

“Học gỉả Douglas Pike, thuộc Phòng Thông tin Hoa kỳ, trong bản báo cáo hoàn tất vào ngày 01 tháng 02 năm 1970 tại Sài gòn, đã viết: chỉ trong Mậu thân tại Huế, gần 4.800 thường dân đã chết và mất tích. Ông Pike kết thức lời mở đầu của báo cáo bằng một câu khẳng định:“Nếu  báo cáo của tôi là một bản án đối với thái độ của người cộng sản, thì thật sự nó là như vậy đấy. Đơn giản vì thái độ ấy đáng bị lên án.” (RFA online ngày 4-2-2008)

Theo giáo sư Nguyễn Lý Tưởng, người tham dự cuộc tìm kiếm xác các nạn nhân bị cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân tại Huế trong bài “ Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước” của phóng viên Thiện Giao đài RFA viết lại thì:

“ Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể  Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được2.326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6.000 người, có nhà báo ước tính 5.000.Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu.”  (RFA online ngày 31-01-2008)

Tội ác của cộng sản đối với nhân loại

“Dưới nền trời ảm đạm, Tổng thống Putin đã đặt vòng hoa trước cây thánh giá được dựng lên để tưởng nhớ hơn 20.000 người đã bị hành quyết tại trường bắn Butovo ở ven phía Nam thủ đô Matxcơva…Nhà lãnh đạo Nga nói rằng hàng triệu người đã bị tiêu diệt, bị đưa đến các trại lao động tập trung, bị tra tấn hoặc bắn chết…” (VOA online ngày 30-10-2007)

Trong bản tinTổng thống Bush đã tham dự lễ khánh thành một Đài kỷ niệm nạn nhân Cộng sản trên khắp tế giới, bản tin viết:

“Trong buổi lễ ngày hôm nay được tổ chức tại thủ đô Washington, tổng thống Bush nói rằng, thế giới sẽ không bao giờ biết được tên của tất cả những  nạn nhân đã chết trong tay người cộng sản.”

“ Nhưng tổng thống Bush nói rằng, mọi người có bổn phận tưởng nhớ họ và vinh danh kỹ niệm của hơn 100 triệu người gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em đã chết dưới chế độ cộng sản trên khắp thế giới. Ông Bush nói rằng, con số chính xác các nạn nhân cộng sản này sẽ không bao giờ biết được. Tổng thống ghi nhận nỗi thống khổ của những người đã chết tại Trung quốc, Bắc Triều tiên, Châu Phi, Đông Âu, Cambodia, Cuba, Đông Đức và những nơi khác trên thế giới dưới chế độ cộng sản…”(VOA online ngày 28-6-2007)

Vì sao chủ nghĩa công sản bị cáo buộc chống nhân loại?

Phần 1

Năm 2006, Hội đồng châu Âu công bố nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản. Nghị quyết này xác định chủ nghĩa cộng sản đã phạm nhiều tội ác khủng khiếp chống loài người.

Photo courtesy of Wikipedia

Friedrich Engels sinh năm 1820 (trái) và Karl Heinrich Marx sinh năm 1818.

Trở lại năm 1991, Đảng CSVN thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và  xác định: “… Cuối cùng, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử…”15 năm sau, hồi tháng 1 năm 2006, Hội đồng châu Âu công bố nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản. Nghị quyết này xác định chủ nghĩa cộng sản đã phạm nhiều tội ác khủng khiếp chống loài người. Đồng thời cần tổ chức xét xử những tội ác đó.

Đáng chú ý là ngoài cộng đồng châu Âu, càng ngày càng nhiều quốc gia, tổ chức lên án chủ nghĩa cộng sản.

Thế nhưng đầu tháng 5 vừa qua, ông Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Chủ tịch của Quốc hội Việt Nam vẫn tuyên bố, năm tới, Đại hội lần thứ 11 của Đảng CSVN, sẽ bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991.

Vì sao cộng đồng quốc tế lên án chủ nghĩa cộng sản? Mời quý vị theo dõi Trân Văn tổng hợp và tường trình…

Từ chủ trương diệt chủng

Engels gọi người Basques, Bretons, Scots và người Serbia là những “dân tộc cặn bã”. Họ sẽ phải bị tiêu diệt vì họ đang tụt hậu lại quá xa.

Ô. George Watson

Karl Heinrich Marx, thường được gọi là Karl Marx, sinh năm 1818 và Friedrich Engels, thường được gọi là Engels, sinh năm 1820, cùng là người Đức. Cả hai là đồng tác giả của một số tác phẩm như: bộ Tư bản luận, Tuyên ngôn Đảng Cộng sản… Họ là những người đề ra học thuyết “Chủ nghĩa xã hội khoa học”, cũng như khái niệm “đấu tranh giai cấp”.

Từ giữa thế kỷ 19 đến nay, các Đảng Cộng sản vẫn bảo rằng, cả Marx lẫn Engels là những vĩ nhân và nhân loại cần phải thực thi các ý tưởng của họ để xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Liệu tư tưởng của Marx và Engels có nhắm tới việc đem lại hạnh phúc cho nhân loại, nhằm biến trái đất thành một thiên đường?

Các Đảng Cộng sản bảo có nhưng kết quả khảo sát những tài liệu lưu trữ đã cho kết quả ngược lại.

Năm 2008, Edvin Snore, một đạo diễn người Latvia – quốc gia từng là thành viên trong Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết  –  công bố bộ phim tài liệu “The Soviet Story”, tạm dịch là “Câu chuyện Sô Viết”, do ông thực hiện trong vòng mười năm, nhằm lý giải tại sao, năm 2006, châu Âu ban hành nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản và tuyên bố, cần phải tổ chức xét xử những tội ác khủng khiếp chống lại loài người của chủ nghĩa cộng sản.

Trong quá trình lục tìm tài liệu, phim, ảnh vẫn còn đang được lưu trữ ở nhiều nơi trên thế giới, đồng thời phỏng vấn cả các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, lẫn giới nghiên cứu sử học, đạo diễn Edvin Snore đã trò chuyện với ông George Watson, một sử gia, làm việc ở Đại học Cambridge, Anh Quốc.

Hình ảnh tưởng niệm một nạn nhân tại khu rừng có mồ chôn tập thể  nạn nhân của chủ trương diệt chủng ở Liên Xô cũ. Photo courtesy of Perry  Street Advisors.
Hình ảnh tưởng niệm một nạn nhân tại khu rừng có mồ chôn tập thể nạn nhân của chủ trương diệt chủng ở Liên Xô cũ. Photo courtesy of Perry Street Advisors.

Ông George Watson cho biết, kết quả nghiên cứu về Marx và Engels, cho thấy, cả Marx lẫn Engels đều chủ trương cần tổ chức diệt chủng.

Ông nói: Điều này được nói đến lần đầu tiên vào tháng Giêng 1849 trong một bài báo đăng trên tờ tạp chí theo chủ nghĩa Marx “Neue Rheinische Zeitung”. Engels đã giải thích về ý nghĩa của cuộc đấu tranh giai cấp theo quan điểm Marxist. Theo ông, khi cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra, sẽ xảy ra đấu tranh giai cấp. Một số xã hội nguyên thuỷ ở châu Âu đã bị trễ đến hai thời kỳ bởi vì những xã hội đó chưa đạt tới giai đoạn tư bản chủ nghĩa.

Engels gọi người Basques, Bretons, Scots và người Serbia là những “dân tộc cặn bã”. Họ sẽ phải bị tiêu diệt vì họ đang tụt hậu lại quá xa nên không thể đưa họ đến cùng thời với cuộc cách mạng được.

Một sử gia khác là ông Pierre Rigolout, làm việc tại Viện Xã hội Lịch sử ở Paris, Pháp Quốc, cho biết thêm: Engels nói về sự thô tục và đáng khinh bỉ của các dân tộc Slav. Ví dụ ông cho rằng Ba Lan không có lý do để tồn tại.

Marx là cha đẻ của nạn diệt chủng chính trị hiện đại. Tôi không thấy một nhà tư tưởng châu Âu nào trước Marx và Engels công khai ủng hộ sự diệt chủng.

Ô. George Watson

Ông Pierre Rigolout trích một trong những ý kiến của Marx, viết trên People’s Paper ngày 16 tháng 4 năm 1853 để chứng minh, Marx chủ trương cần diệt chủng. Marx khẳng định: Các chủng tộc và các giai cấp quá yếu để thích ứng với điều kiện sống mới, nên họ phải nhường bước. Họ phải “bị tiêu diệt trong cuộc thảm sát của cách mạng”.

Dựa trên các tài liệu lưu trữ, ông George Watson khẳng định: Marx là cha đẻ của nạn diệt chủng chính trị hiện đại. Tôi không thấy một nhà tư tưởng châu Âu nào trước Marx và Engels công khai ủng hộ sự diệt chủng. Tôi không tìm thấy bất cứ điều gì trước đó. Vì vậy, tôi cho rằng nó bắt nguồn từ những người này.

Đến việc thực thi diệt chủng

Tư tưởng của Marx và Engels đã tạo cảm hứng, dẫn đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản tại nhiều nơi trên thế giới và trong thế kỷ 20, một số Đảng Cộng sản đã trở thành đảng cầm quyền tại một số quốc gia, từng tạo ra thực thể gọi là “khối xã hội chủ nghĩa”.

Lãnh tụ nhiều Đảng Cộng sản từng tự nhận họ là học trò của Marx và Engels. Đứng đầu những nhân vật này là Vladimir Ilyich Ulyanov, thường được gọi là Lenin. Lenin được xem là nhân vật sáng lập Đảng Cộng sản Liên Xô và là người đưa Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành lực lượng chính trị lãnh đạo Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết, thường được gọi là Liên Xô. Liên Xô từng được xem là cái nôi của việc xây dựng và phát triển “khối xã hội chủ nghĩa”, trong thế kỷ 20 trên thế giới.

Tuy Liên Xô đã tan rã và dân chúng các quốc gia Đông Âu đã xoá bỏ chủ nghĩa cộng sản nhưng tại Việt Nam, Lenin vẫn được tôn sùng như một thần tượng.

Vladimir Ilyich Lenin. Photo courtesy of Wikipedia.
Vladimir Ilyich Lenin. Photo courtesy of Wikipedia.

Hồi  giữa tháng 4 vừa qua, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức một hội thảo khoa học về “Di sản của Lenin trong thế giới ngày nay và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”.

Tại hội thảo ấy, ngoài việc cùng xưng tụng Lenin là “nhà tư tưởng Marxist sáng tạo”, “lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”, ông Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, kiêm Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, còn khẳng định: Di sản của Lenin đã và sẽ là một trong những nền tảng chính trị, tư tưởng và phương pháp luận trong mọi hành động của Đảng, nhà nước và nhân dân ta”.

Lenin đã để lại những di sản gì để làm nền tảng chính trị, tư tưởng và phương pháp luận trong mọi hành động của Đảng CSVN như ông Tô Huy Rứa tuyên bố?

Gần đây, khi các kho lưu trữ được giải mật, giới nghiên cứu lịch sử đã tìm  được nhiều tài liệu liên quan đến việc Lenin cổ súy, chỉ đạo thực hiện “đấu tranh giai cấp” mà thực sự là thực thi những cuộc thảm sát. Một trong những tài liệu ấy là lá thư do chính Lenin viết.

Trong thư, Lenin yêu cầu: Treo cổ ít nhất 100 tên Cu-lắc. Bắn bỏ hết bọn con tin!. Hãy để cho những người đứng cách xa hàng trăm dặm đều thấy và run sợ”…

Ảnh chụp lá thư này đã được đạo diễn Edvins Snore đưa vào bộ phim “Câu chuyện Sô viết”.

Với một lãnh tụ có suy nghĩ như thế, điều gì đã xảy ra ở Liên Xô sau khi Lenin lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô thực hiện cuộc Cách mạng tháng 10, năm 1917?

Các tài liệu lưu trữ cho thấy, đã có hàng trăm ngàn người bị giết, hàng triệu người bị tước đoạt tài sản, bị đày ải. Ông Vladimir Bukovsky – một nhà văn Liên Xô, đồng thời là người chuyên nghiên cứu về tội ác của các chính quyền cộng sản, kể lại trong “Câu chuyện Sô viết”:

Ban đầu, khi những người cộng sản lên nắm quyền thì xã hội không có vấn đề gì. Ngay cả ở Nga, Ba Lan, Cuba, Nicaragua, hoặc ở Trung Quốc. Rồi họ bắt đầu giết khoảng 10% dân số, họ chọn lựa rất kỹ lưỡng. Họ làm việc này không chỉ để tiêu diệt kẻ thù. Họ giết người để thiết lập lại cơ cấu xã hội. Một phương pháp xây dựng xã hội. Tất cả trí thức, những công nhân tốt nhất, các kỹ sư tốt nhất đều bị họ giết hết… và sau đó họ cố gắng xây dựng một xã hội mới.

Sau một thời gian dài nghiên cứu, thống kê, giới sử gia ước tính, nỗ lực xây dựng những xã hội mới, quen được gọi là xã hội xã hội chủ nghĩa của các chính quyền cộng sản ở Liên Xô, Đông Âu, Cuba, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia dưới thời Polpot,…

suốt giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến hết thế kỷ 20 đã tước đoạt sinh mạng của chừng 100 triệu người.

Kể từ khi các tài liệu, phim, ảnh trong nhiều kho lưu trữ được giải mật,  đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản đã được dựng lên tại nhiều nơi ở Đông Âu, ở Hoa Kỳ…

Nhiều người bắt đầu so sánh chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa phát xít. Nhờ sự giúp đỡ của nhiều sử gia, trong “Câu chuyện Sô viết”, đạo diễn Edvins Snore đã trưng ra hàng loạt bằng chứng cho thấy,

chủ nghĩa phát xít thóat thân từ tư tưởng của Marx.

Goebbels, Bộ trưởng tuyên truyền của chính quyền phát xít tại Đức, từng ca tụng Lenin “là người vĩ đại chỉ sau Hitler”. Các sử gia đã tìm ra nhiều bằng chứng cho thấy, với tham vọng thống trị thế giới, chính quyền cộng sản ở Liên Xô đã từng bắt tay chính quyền phát xít tại Đức. Đó sẽ là nội dung bài kế tiếp, mời quý vị đón xem.

Phần 2

Những ai có thể khóc Stalin?

Năm 1922, Joseph Vissarionovich Stalin, quen gọi là Stalin, thay Lenin lãnh đạo Đàng Cộng sản Liên Xô. Đến năm 1941, Stalin đảm nhận thêm vai trò Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng của Liên Xô cho tới khi chết (năm 1953).

Ví dụ, có 100.000 người dân trong huyện Tambov. Mỗi một người bị bắt và bắn chết sẽ được tính vào chỉ tiêu. Họ không quan tâm người ấy là ai.

Ô. Vladimir Bukovsky

Trong các thập niên 1950, 1960, 1970, tại Việt Nam, Stalin vẫn được xưng tụng như một vĩ nhân. Tháng 3 năm 1953, khi Stalin qua đời, Tố Hữu – nhân vật từng kiểm soát toàn bộ sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật tại Việt Nam – đã viết một bài thơ mà đến nay nhiều người còn nhắc.

Bài thơ có tên là “Khóc Stalin”. Trong đó có những câu như: Stalin! Stalin! Yêu biết mấy nghe con tập nói. Tiếng đầu lòng con gọi Stalin… Stalin! Stalin! Hỡi ơi! ông mất đất trời biết không? Thương cha, thương mẹ,thương chồng. Thương thân thương một, thương ông thương mười.

Dân chúng Liên Xô có thương tiếc Stalin như thế không? Câu trả lời là không! Vì sao?

Giới sử gia ước đoán, suốt 21 năm lãnh đạo Liên Xô, Stalin đã giết từ 20 triệu đến 40 triệu người.

Trong “Câu chuyện Sô viết”, đạo diễn Edvins Snore đã gặp gỡ nhiều nhân chứng, phỏng vấn nhiều sử gia để tìm hiểu Stalin đã làm những gì tại Liên Xô.

Các sử gia ở Liên Xô, ở châu Âu xác định Stalin là thủ phạm chính của nạn đói kéo dài từ 1932 – 1933, khiến 7 triệu người Ukraina thiệt mạng.

Sử gia Norman Davies, Đại học Cambridge, Anh Quốc kể: Vào mùa đông năm 1932 và 1933, tất cả lương thực được chuyển khỏi Ukraina. Một hàng rào cách ly khổng lồ được lập ra để cô lập toàn bộ người dân Ukraina.

Mỗi gốc cây đều được treo một tấm khăn choàng để tưởng niệm cho  những nạn nhân nằm trong mồ chôn tập thể, bị giết từ thời Stalin tại  Liên Xô cũ. Photo courtesy of Perry Street Advisors.
Mỗi gốc cây đều được treo một tấm khăn choàng để tưởng niệm cho những nạn nhân nằm trong mồ chôn tập thể, bị giết từ thời Stalin tại Liên Xô cũ. Photo courtesy of Perry Street Advisors.

Sử gia Volodymyr Sergychuk, Đại học Kiev, kể thêm: Sau khi toàn bộ thực phẩm bị tịch thu, nông dân bị cấm tìm kiếm thức ăn ở nơi khác, cho dù là mua, trao đổi, hay kiếm được.

Đạo diễn Edvins Snore đã tìm được nhiều đoạn phim tài liệu, nhiều hình ảnh lưu trữ cho thấy, đàn ông, đàn bà, người già, trẻ em quắt queo, hình hài hoàn toàn biến dạng. Bảy triệu con người hoặc đã chết, hoặc đang thoi thóp vì đói đã bị ném xuống những hố lớn rồi lấp đất như người ta vẫn chôn súc vật bị dịch.

Dưới sự lãnh đạo của Stalin, chính quyền Cộng sản tại Liên Xô đã thực hiện nhiều đợt thanh trừng đẫm máu khác. Khắp Liên Xô nhan nhản những khu vực chỉ gồm toàn mộ tập thể. Nổi tiếng nhất là: Bikivina, Butov, Leningrad, Vinnica, Harkov…

Giết người ngẫu nhiên

Sử gia George Watson, Đại học Cambridge, kể trong “Câu chuyện Sô viết”:

Stalin thậm chí đã đi xa tới mức giết người ngẫu nhiên và theo chỉ tiêu.

Vladimir Bukovsky, một nhà văn Liên Xô, cho biết thêm: Ví dụ, có 100.000 người dân trong huyện Tambov. Mỗi một người bị bắt và bắn chết sẽ được tính vào chỉ tiêu. Họ không quan tâm người ấy là ai.

Khi hoàn thành xong chỉ tiêu, chính quyền địa phương sẽ báo cáo cho Stalin và uỷ ban trung ương để yêu cầu tăng mức chỉ tiêu cho họ!

Ông Vladimir Karpov, Cựu Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, tiết lộ: Khrushchev từng yêu cầu tăng thêm chỉ tiêu của mình! Ông ta được phép giết 7 đến 8 nghìn “kẻ thù”. Ông ấy yêu cầu: “Hãy tăng mức chỉ tiêu của tôi lên thành 17 nghìn”. Và việc gia tăng chỉ tiêu giết chóc đã được chấp thuận.

Ông Mikhail Gorbachev, cựu Tổng thống Liên Xô, ảnh chụp năm 1987.  Photo courtesy of Wikipedia.
Ông Mikhail Gorbachev, cựu Tổng thống Liên Xô, ảnh chụp năm 1987. Photo courtesy of Wikipedia.

Thực tế này được Mikhail Gorbachev, cựu Tổng thống Liên Xô, xác nhận: Stalin đã tắm trong máu! Bản thân tôi đã thấy những án tử hình đã do chính ông ta ký hàng loạt. Cùng với Molotov, Voroshilov, Kaganovich và Zhdanov. Họ là năm kẻ giết người năng nổ nhất. Molotov luôn thêm vào: sửa từ “10 năm” thành “tử hình”. Hàng loạt!

Cuối tháng 10 năm 2007, khi tham dự một buổi tưởng niệm 20.000 văn nghệ sĩ, trí thức đã bị chính quyền cộng sản ở Liên Xô thủ tiêu, trong giai đoạn từ 1937 – 1938, vì bị cho là “phản động, kẻ thù của chế độ”, ông Vladimir Putin, lúc ấy đang là Tổng thống Nga, nhìn nhận:

Những người bị thảm sát, khủng bố là những con người ưu tú nhất, có trí tuệ cao nhất và là những người can đảm nhất của nước Nga và Liên Xô thời đó.

Vậy tại sao những người Cộng sản Việt Nam lại có thể thương Stalin hơn cả cha, mẹ và chính bản thân mình như Tố Hữu giãi bày?

Một số người bảo rằng, đó là vì Đảng CSVN vừa xem Liên Xô, Trung Quốc là mẫu mực để noi theo, vừa muốn nhận sự giúp đỡ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc để đảm nhận vai trò “tiền đồn của khối xã hội chủ nghĩa”, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản.

Trên thực tế, diễn tiến cuộc “cải cách ruộng đất” do Đảng CSVN thực hiện vào thập niên 1950, tiêu diệt “Nhân văn, Giai phẩm” ở miền Bắc, giống hệt những gì chính quyền cộng sản Liên Xô và cộng sản Trung Quốc đã thực hiện trước đó.

Phát xít Đức thoát thai từ Marx-Engels

“Câu chuyện Sô viết” còn trưng ra nhiều bằng chứng để bạch hoá một số vấn đề ít ai biết. Đó là chủ nghĩa phát xít thoát thai từ tư tưởng của Marx và Engels.

Đạo diễn Edvins Snore đã tìm được khá nhiều bằng chứng cho vấn đề đó. Chẳng hạn, ngày 27 tháng 11 năm 1925, tờ New York Times, có một tin ngắn, loan báo vừa có một đảng, mang tên là “Đảng Công nhân quốc gia xã hội chủ nghĩa” ra đời tại Đức, quen gọi tắt là “Đảng Quốc xã”. Người sáng lập và lãnh đạo Đảng Quốc xã là Adolf Hitler.

Hitler thường nói rằng ông đã học được rất nhiều khi đọc chủ nghĩa Marx. Ông cho rằng chủ nghĩa Xã hội Quốc gia hoàn toàn dựa trên lý thuyết chủ nghĩa Marx.

Sử gia George Watson

Một số tin, bài khác xuất hiện trên báo chí châu Âu cuối thập niên 1920, từng tường thuật một số tuyên bố của Goebbels – sau này là Bộ trưởng Tuyên truyền trong chính quyền phát xít Đức – theo đó, có rất ít khác biệt giữa chủ nghĩa cộng sản với các tuyên bố Hitler.

Vậy thì tại sao sau này, chủ nghĩa phát xít không nhấn mạnh đến sự tương đồng của nó với chủ nghĩa cộng sản nữa? Giới sử gia cho rằng, đó là vì ngay từ thời ấy, cử tri Đức đã không thích cộng sản.

Sử gia George Watson, Đại học Cambridge, kể về kết quả nghiên cứu của ông: Hitler thường nói rằng ông đã học được rất nhiều khi đọc chủ nghĩa Marx. Ông cho rằng chủ nghĩa Xã hội Quốc gia hoàn toàn dựa trên lý thuyết chủ nghĩa Marx.

Ông Vladimir Bukovsky, một nhà văn Liên Xô thì nhắc: Mọi người quên rằng chế độ Đức Quốc Xã ở Đức cũng là một chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nó chính thức được gọi là Đảng Công nhân Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa. Nó là một chi nhánh của chủ nghĩa xã hội. Liên Xô được gọi là xã hội chủ nghĩa quốc tế và Đức Quốc Xã được gọi là xã hội chủ nghĩa quốc gia.

Trên thực tế chúng là một, chỉ có chút khác biệt nhỏ trong cách diễn giải.

Chưa kể còn khá nhiều bằng chứng khác cho thấy, trước khi gia nhập khối đồng minh chống phát xít, chính quyền Liên Xô do Stalin lãnh đạo đã từng hợp tác chặt chẽ với chính quyền phát xít tại Đức do Hitler chỉ huy.  Mời quý vị nghe các sử gia thuật lại điều đó  trong bài kế tiếp.

Phần 3

Quan hệ Liên Xô – Đức

Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, gần 30 triệu công dân Liên Xô đã thiệt mạng và việc Liên Xô tham chiến, vẫn được xem là một thành tố quan trọng để ngăn chặn, tiêu diệt chủ nghĩa phát xít.

Tuy nhiên, có đúng là Liên Xô đã cứu loài người khỏi thảm họa phát xít, tạo điều kiện cho các dân tộc đang bị áp bức, thống trị giành đôc lập, tự do như chính Liên Xô và các chính quyền cộng sản, trong đó có Việt Nam vẫn tuyên truyền?    

Chủ nghĩa phát xít là một hệ tư tưởng dựa trên quan điểm sinh học sai lầm và chủ nghĩa cộng sản được dựa trên quan điểm xã hội sai lầm.

Bà Françoise Thom

Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ vào đầu tháng 9 năm 1939, khi phát xít Đức tấn công Ba Lan. Song gần hai năm sau, vào tháng 6 năm 1941, lúc phát xít Đức tấn công Liên Xô, Liên Xô mới bắt đầu tham gia cuộc chiến chống tham vọng thống trị thế giới của phe phát xít.

Trước đó thì sao? Dựa trên các tài liệu lưu trữ, giới sử gia cho biết, cuối thập niên 1930, Molotov – Ngoại trưởng Liên Xô – đại diện cho Stalin và Ribbentrop – Ngoại trưởng Đức – đại diện cho Hitler đã từng ký kết một thỏa thuận phân chia châu Âu.

Ông Vladimir Karpov – Cựu Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, hai lần được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, xác nhận: Mặc dù điều này nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng chính Stalin là người đề xuất thỏa thuận bí mật ấy.

Chúng tôi đã phủ nhận nó, bởi vì nó mang đầy tính gây hấn, Đảng Cộng sản không thể nào ký những thỏa thuận như thế. Vì vậy, chúng tôi đã phủ nhận nghị định bí mật này đến phút chót!

Giống như ông Vladimir Karpov, nhiều đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô đã chỉ trích nhận định vừa kể, cho tới khi văn bản ghi nhận thỏa thuận này được moi ra từ kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô để mọi người cùng mục kích.

Có lẽ cũng cần nhắc lại rằng, tháng 9 năm 1939, hai tuần sau khi phát xít Đức tấn công Ba Lan từ phía Tây, đến lượt Hồng quân Liên Xô tấn công Ba Lan từ phía Đông.

Sau cuộc tấn công ấy, Hồng quân Liên Xô đã bắt 22.000 người được xem là ưu tú nhất của Ba Lan, giải họ về Katyn rồi thủ tiêu.

Mãi đến gần đây, chính quyền liên bang Nga mới thừa nhận sự thật này. Hôm 10 tháng 4 vừa qua, lại có thêm một thảm kịch khác xảy ra với Ba Lan sau thảm kịch Katyn: Chuyên cơ chở ông Lech Kaczynski, Tổng thống Ba Lan và 95 người Ba Lan ưu tú khác đã rớt tại Smolensk, khi họ cùng đến Katyn dự lễ tưởng niệm 22.000 công dân Ba Lan bị chính quyền cộng sản Liên Xô thủ tiêu năm 1940.

Thủ tướng Liên Xô Molotov đã đến Berlin. Photo courtesy of Perry  Street Advisors.
Thủ tướng Liên Xô Molotov đã đến Berlin. Photo courtesy of Perry Street Advisors.

Bí mật chưa nhiều người biết

Trong năm 1939, Liên Xô còn tấn công Phần Lan nhưng đã thất bại thảm hại cả về quân sự lẫn chính trị. Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc) đã khai trừ Liên Xô khỏi cộng đồng quốc tế vì “gây hấn và xâm lược”.

Các tài liệu lưu trữ còn cho thấy, Liên Xô đã để phát xít Đức sử dụng cảng Murmansk làm bàn đạp, tấn công Đan Mạch, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Nauy,… Người ta đã tìm thấy một lá thư do Stalin viết, gửi Ribbentrop – Ngoại trưởng Đức, khẳng định: Tình hữu nghị giữa Liên Xô và Đức được đảm bảo bằng máu!

Liên Xô còn cung cấp dầu, quặng sắt, vật liệu xây dựng, lúa mì,… cho phát xít Đức xâm chiếm châu Âu. Đạo diễn Edvins Snore đã tìm được khá nhiều ảnh, ghi lại cảnh các viên chức, tướng lĩnh của Liên Xô và phát xít Đức gặp gỡ, chuyện trò, cùng nhau ăn uống vui vẻ.

Ý tưởng phá hủy trật tự quyền lực cũ ở châu Âu cũng là ý định của Stalin. Nhưng Hitler lại bị cho là kẻ ác.

Ô. Vladimir Bukovsky

Giai đoạn này, báo chí Liên Xô có khá nhiều bài viết ca ngợi tình hữu nghị Xô – Đức.

Thậm chí ông Molotov, Ngoại trưởngLiên Xô còn khẳng định với báo giới: Đấu tranh chống lại hệ tư tưởng Đức Quốc xã là một tội ác!

Nhiều tin, bài trên các tờ báo Liên Xô trong giai đoạn đó vẫn còn được lưu trữ trong văn khố!

Thậm chí, Liên Xô còn huấn luyện Gestapo và SS của phát xít Đức về cách thức xây dựng trại tập trung, phương pháp tra tấn, thủ tiêu.

Tại sao chủ nghĩa cộng sản lại có thể đồng hành với chủ nghĩa phát xít? Câu hỏi này đã được những người làm bộ phim tài liệu “Câu chuyện Xô viết” nêu ra với giới sử gia.

Bà Françoise Thom, một sử gia ở Đại học Sorbonne, Pháp Quốc, giải thích: Cả hai hệ thống đều dựa trên một hệ tư tưởng với tham vọng tạo ra con người “mới”.

Có nghĩa là cả hai chế độ đều không hài lòng với bản chất hiện tại của con người. Họ đấu tranh chống lại tính tự nhiên của loài người. Đấy là cội rể của chế độ toàn trị và là điều hiển nhiên trong cả hai hệ tư tưởng.

  • Chủ nghĩa phát xít là một hệ tư tưởng dựa trên quan điểm sinh học sai lầm và

  • chủ nghĩa cộng sản được dựa trên quan điểm xã hội

sai lầm. Nhưng cả hai hệ tư tưởng đều muốn chứng minh là mình có cơ sở khoa học.

Vậy thì tại sao sau đó phát xít Đức lại trở mặt, tấn công Liên Xô và Liên Xô trở thành một thành tố quan trọng trong công cuộc ngăn chặn và tiêu diệt chủ nghĩa phát xít?

Ông Vladimir Bukovsky, một nhà văn Liên Xô, sau này trở thành một trong những người chuyên nghiên cứu về tội ác của chủ nghĩa cộng sản giải thích: Ý tưởng phá hủy trật tự quyền lực cũ ở châu Âu cũng là ý định của Stalin. Nhưng Hitler lại bị cho là kẻ ác. Ông ta sẽ phá hủy các trật tự cũ ở châu Âu. Sẽ không còn quốc hội, công đoàn, quân đội và chính phủ. Rồi sau đó, Stalin sẽ xuất hiện như một người giải phóng. Hàng triệu người mắc kẹt trong các trại tập trung đang chờ được tự do. Stalin và Hồng quân của ông ta sẽ đến như những giải phóng quân. Đây là kế hoạch của ông.

Nỗ lực phổ biến “Câu chuyện Xô viết”

Năm 2008, sau 10 năm thực hiện “The Soviet Story”, đạo diễn Edvins Snore công bố bộ phim này. Nó làm nhiều người choáng váng.

(Phim tài liệu “The Soviet Story” do Đạo diễn Edvins Snore thực hiện được giới thiệu bởi Perry Street Advisors, phần phụ đềt Việt Ngữ do diễn đàn X-Cafe thực hiện)

Cuối tháng 4 vừa qua, Diễn đàn điện tử X-Cafe giới thiệu “The Soviet Story” đã được dịch và cài đặt phụ đề Việt ngữ với tên tiếng Việt là “Câu chuyện Sô viết”.

“YesMan2008” – nickname của một thành viên trong Diễn đàn điện tử X-Cafe – người bỏ nửa tháng để dịch “The Soviet Story” sang Việt ngữ, giải thích với Đài Á Châu Tự do qua email, tại sao anh làm công việc này: Tôi thuộc thế hệ những người Việt Nam được sinh ra sau thời kỳ đổi mới. Chúng tôi được dạy, được học và thấm nhuần những điều tốt đẹp mà chế độ cộng sản đem lại cho loài người. Chúng tôi còn được dạy rằng, tất cả những điều không tốt đẹp về cộng sản đều là vu cáo.

Năm ngoái, sau khi xem “The Soviet Story” tôi bị sốc khi được biết những sự thật kinh hoàng mà những người cộng sản cố tìm cách che giấu. Tất cả những tài liệu, phim, ảnh trong bộ phim này không phải do “kẻ thù” tạo ra. Chúng năm trong văn khố do chính những người cộng sản Liên Xô lưu trữ. Người làm bộ phim này cũng từng là công dân Liên Xô. Các nạn nhân cũng vậy. Họ đã từng sống dưới chế độ cộng sản, rồi nghiên cứu về nó. Sự thật về chế độ cộng sản ở Liên Xô được vạch trần bởi những người trong cuộc…

Đó là lý do tôi muốn giới thiệu cho nhiều người Việt Nam xem phim này. Tôi đã dịch bộ phim. Sau đó, tôi đã nhờ bác Diên Vỹ, một thành viên lâu năm và có kinh nghiệm dịch thuật của X-Cafe hiệu đính. Phải mất hơn nửa tháng nữa để có thể ra mắt “Câu chuyện Sô viết.”

Đã có bao nhiêu người xem “Câu chuyện Sô viết”? Anh Diên Vỹ, một thành viên trong Ban Quản trị Diễn đàn X-Cafe cho biết, rất khó ước lượng chính xác vì phim được đặt trên một trang web hỗ trợ tải xuống miễn phí. Tuy nhiên, theo Diên Vỹ, số người đóng góp ý kiến trên diễn đàn X-Cafe, sau khi đã xem phim rất đông. Cũng theo Diên Vỹ, “Câu chuyện Sô viết” đã được chuyển đổi định dạng và đặt trên youtube. Những người quan tâm đến “Câu chuyện Sô viết” có thể dùng bốn chữ “Câu chuyện Sô viết” làm từ khoá để tìm bộ phim này trong youtube.

Giới thiệu phim – Câu chuyện Xô Viết (phụ đề tiếng Việt)

Submitted by TongBienTap on Fri, 04/23/2010 – 06:09

YesMan2008, X-Cafe

Ngày 25 tháng 1 năm 2006, Hội đồng châu Âu đã thông qua Nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa cộng sản và coi những tội ác của chế độ cộng sản là tội ác chống lại loài người. Bản Nghị quyết đã tuyên bố rõ ràng rằng những tội ác của chế độ Cộng sản phải được mang ra xét xử như những tội ác khủng khiếp của Đức Quốc xã trước đây. Một trong những nỗ lực nhằm đưa ra ánh sáng những tội ác khủng khiếp của chủ nghĩa Cộng sản là bộ phim Câu chuyện Xô Viết (The Soviet Story) của đạo diễn Edvin Snore được công chiếu năm 2008.

Bộ phim Câu chuyện Xô Viết nhấn mạnh đến những mối liên hệ mật thiết của chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát xít trong lịch sử bằng những bằng chứng khó chối cãi được. Giới phê bình tán dương công lao của đạo diễn người Latvia Edvin Snore, người đã bỏ ra 10 năm để xây dựng lên Câu chuyện Xô Viết. Những nạn nhân và nhân chứng Xô Viết đã tích cực tham gia trong bộ phim này để nói lên sự thật, những sự thật khủng khiếp mà họ đã từng trải qua cũng như chứng kiến dưới chế độ cộng sản. Và những di chứng do nó gây ra vẫn còn nhức nhối, âm ỉ tới hiện tại.

Qua việc khai thác những tài liệu mật quí giá trong các văn khố, những cuộc phỏng vấn các học giả, chính khách, nạn nhân và những người trong cuộc, đạo diễn Snore đã đem đến cho người xem một câu chuyện mà cho đến nay, lịch sử không biết hoặc không muốn nói đến: giết người hàng loạt đã là một phương cách quản lý xã hội trong chế độ Xô viết ở Nga. Bộ phim đã chỉ ra mối tương đồng của sự diệt chủng giữa học thuyết phát xít và cộng sản, một dựa trên cơ sở sinh học và một dựa trên xã hội học. Dù với học thuyết nào đi nữa, người xem cũng thấy tội ác của chủ nghĩa Marxist ở Nga đã không kém gì của Đức Quốc xã. Bộ phim đưa chúng ta qua các vụ thảm sát dưới chính quyền Liên Xô do Stalin cầm đầu đã xảy ra trước, trong và sau Chiến tranh Thế giới Thứ II: nạn đói ở Ukraine, vụ thảm sát ở Katyn, sự hợp tác chặt chẽ giữa lực lượng Phát xít SS và Cộng sản KGB, việc đày ải đại trà và những thí nghiệm y học ghê tởm trên các tù nhân còn sống ở các trại Gulag. Không chỉ dừng lại ở quá khứ, đạo diễn Snore còn cảnh báo cho khán giả hệ quả của học thuyết giết người hàng loạt đã và đang ảnh hưởng đến xã hội Nga hiện tại. Di sản Stalin đang thổi bùng ngọn lửa dân tộc cực đoan với nạn kỳ thị chủng tộc đang lan rộng không những trong xã hội mà còn trong cả giới cầm quyền Nga hiện nay.

Tuy nhiên cũng đã có không ít những chỉ trích gay gắt nhằm vào bộ phim trước khi nó ra mắt công chúng. Một chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ bản thân đạo diễn cũng như bộ phim đã được tiến hành bởi giới báo chí truyền thông quốc doanh Nga. Đáng chú ý nhất là lời tuyên bố của nhà sử học Alexander Dyukov rằng ông muốn giết chết đạo diễn và thiêu rụi tòa đại sứ Latvia sau khi xem xong hai phần ba bộ phim. Những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan Nga đã tổ chức biểu tình ngoài tòa đại sứ Latvia ở Moscow và đốt hình nộm đạo diễn Edvin Snore để phản đối bộ phim này. Nhưng ngay cả người đứng đầu đám đông đó cũng không biết được mình đang chống lại cái gì, một bộ phim hay một quyển sách lên án chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa cộng sản và tội ác của nó vẫn còn hiện diện trên thế giới này. Liều thuốc giải độc duy nhất cho nó chính là sự thật, những sự thật kinh hoàng mà không ít người cộng sản muốn né tránh, phủ nhận bằng mọi cách. Là một người trẻ Việt Nam, tôi chỉ có mong muốn rằng những người cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo đất nước hiện nay hãy can đảm và đối diện với sự thật lịch sử của chủ nghĩa cộng sản một cách công minh và chính trực. Đồng thời tôi cũng hy vọng các bạn trẻ Việt Nam sẽ có một cái nhìn đúng đắn hơn về chủ nghĩa Cộng sản thông qua bộ phim này. Thông điệp của Câu chuyện Xô Viết không có gì khác ngoài việc đòi lại sự thật lịch sử và công lý cho những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.

Chúng tôi, các thành viên của diễn đàn X-Cafe đã sưu tầm, chuyển ngữ và cài đặt phụ đề tiếng Việt vào trong bộ phim để người xem tiện theo dõi. Các bạn có thể theo hướng dẫn dưới đây để tải toàn bộ cuốn phim.

Hướng dẫn tải phim:

– Trước tiên khi tải hết các phần của bộ phim vào cùng 1 thư mục trong máy của bạn.

– Nếu máy các bạn chưa có sẵn phần mềm WinRAR thì có thể tải từ đây: http://www.softpedia.com/get/Compression-tools/WinRAR.shtml và cài vào máy.

– Cài xong nháy chuột phải vào file part1 và chọn Extract to Thesovietstory.VN.x-cafe.avi; thư mục mới tạo Thesovietstory.VN.x-cafe.avi sẽ chứa bộ phim Câu chuyện Xô Viết.

Tháng Năm 15, 2010 Posted by | CỘNG SẢN | Để lại bình luận

Sự khác biệt giữa chủ nghĩa Cộng sản Châu Âu và Châu Á

Sự khác biệt giữa chủ nghĩa Cộng sản Châu Âu và Châu Á

Trong năm 1989, hai sự kiện rất quan trọng và rất khác nhau đã diễn ra tại hai địa đầu của thế giới. Tại Đức, bức tường Berlin sụp đổ. Cộng sản, một hệ thống cầm quyền, bị sụp đổ ở Đức và phần còn lại của Đông Âu.

Tuy nhiên ở Trung Quốc, một điều rất khác xa đã xảy ra. Những hy vọng của thế giới cho một nước Trung Quốc tự do, dân chủ đã tiêu tan khi xe tăng và quân đội từ nông thôn tiến vào Thiên An Môn và tàn sát hàng trăm trong số hàng ngàn sinh viên, những người đã biểu tình đòi dân chủ tại Bắc Kinh trong nhiều tháng.

Dân chủ, một nền kinh tế thị trường và việc tự do phát biểu quan điểm chính trị và văn hóa đã chiến thắng chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu và thậm chí cả ở Nga, trong khi, ở Trung Quốc và trong khu vực kiểm soát Cộng sản ở Á Châu, những ảnh hưởng này đã bi đè bẹp bởi các Chính phủ Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Lào và đặc biệt là, Campuchia và Bắc Triều Tiên.

Chúng ta phải đặt câu hỏi: Tại sao kết quả của phong trào hòa bình và dân chủ lại quá khác nhau giữa Âu Châu và Á Châu?

Thiên An Môn Ngày 3 tháng 6 năm 1989. Ảnh: AP

Có nhiều lý do cho những kết quả khác nhau này và một trong những lý do đầu tiên và quan trọng nhất là loại Cộng sản đặc thù ở khu vực Á Châu hoàn toàn trái ngược với loại Cộng sản ở Châu Âu.

  • Tại Châu Âu, ngay từ nguyên thủy, chủ nghĩa Cộng sản là một hiện tượng đô thị. Công nhân đô thị, nhất những người làm việc trong các ngành công nghiệp quy mô lớn, được coi như giai cấp vô sản, những người tiên phong của cách mạng. Cùng với các đảng Cộng sản và lãnh tụ của họ, nhiều công nhân trong các nghiệp đoàn chặt chẽ và những khu vực công nghiệp cao như Saxony hoặc lưu vực sông Ruhr ở Đức sẽ bầu cho Cộng sản hoặc ít nhất là Xã hội Chủ nghĩa với số lượng lớn. Trên khắp vùng quê, và ở các thị trấn nhỏ hay vùng ngoại ô ở Châu Âu, các cử tri bầu cho các đảng bảo thủ hay các đảng chính trị trung dung, nhưng không bao giờ bầu cho những người Cộng sản.

Nông dân Nga đã tham gia và ủng hộ Đảng Cách mạng Xã hội không phải là Cộng sản mà sau đó được gọi là những người Bolsheviks trong suốt thời gian của cuộc cách mạng. Cả trước và sau Thế Chiến Thứ Hai, những khu vực nông thôn ở Đông Âu, và đặc biệt là những nông dân giàu có đã cực lực chống lại và phá hoại các nỗ lực lập nông trường tập thể tại Ukraine, Ba Lan, Nam Tư Rumania, Đông Đức và những nơi khác. Đối với Cộng sản Châu Âu, thành phố là cơ sở hỗ trợ và phải chinh phục hoặc đánh thắng các vùng nông thôn.

Điều này thực tế đã có một tác động rất lớn vào những gì đã xảy ra với các chế độ Cộng sản trong các thập niên 1980 và 1990 tại Đông Âu, kể cả Nga. Một khi các thành phố đã lật đổ chế độ Cộng sản và thay thế nó với một chính phủ dân chủ không Cộng sản và thay thế nền kinh tế hỗn hợp với một khu vực tư nhân lớn, chủ nghĩa Cộng sản đã bị tiêu diệt. Sau cùng, các vùng nông thôn luôn  chống Cộng sản!

  • Ở Á Châu, người ta thấy một tình hình hoàn toàn trái ngược. Khắp Á Châu cũng như Cuba, chủ nghĩa Cộng sản lan từ nông thôn vào thành phố. Trung tâm sức mạnh chính của Mao Trạch Đông, trong Thế chiến II và cuộc nội chiến tiếp theo sau đó, nằm ở nông thôn, vùng nông nghiệp tương đối thưa thớt dân cư ở Tây Bắc Trung Quốc, từ đó Cộng sản Trung Quốc lan tràn đến Bắc Kinh, Nam Kinh, Quảng Châu và các trung tâm đô thị khác . Một khi Cộng sản của Mao đã chiếm được các thành phố nơi Quốc Dân Đảng hoặc những người quốc gia tương đối mạnh, thì coi như họ đã chinh phục tất cả Trung Quốc. Phong trào Pol Pot Khmer Đỏ là ở nông thôn và nông dân có khuynh hướng gần như cuồng tín. Nó nghiêm trị các cư dân của Nam Vang (Phnom Penh) và các trung tâm đô thị khác, giết chết hàng trăm ngàn nếu không phải hàng triệu người, và buộc những người sống sót đi làm nông dân lao động ở nông thôn.

Sau cùng, phong trào Cộng sản Hồ Chí Minh đã bắt đầu như là một lực lượng chính trong vùng đồi núi phía Bắc và phía Tây của Hà Nội. Cộng sản đã không kiểm soát được các thành phố như Hà Nội cho đến khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Cũng thế trong miền Nam Việt Nam, các thành phố Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn đã kiên trì chống lại Cộng sản cho đến ngày tàn cuộc bi thương. Hỗ trợ cho Việt Cộng chủ yếu là ở nông thôn hẻo lánh như các khu vực trong đồng bằng sông Cửu Long.

Theo kết quả của dữ kiện này, những chống đối ở đô thị trong các nước Cộng sản Á Châu đã không có hiệu quả như ở Châu Âu. Chính phủ Cộng sản ở Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia luôn luôn có thể dựa vào hỗ trợ từ nông thôn. Các vùng nông thôn Á Châu đã ủng hộ cho Cộng sản nhiều hơn so với các đối tác bên châu Âu.

Một yếu tố thứ hai góp phần vào sự bền vững của chế độ Cộng sản ở Á Châu là tương đối thiếu ảnh hưởng của việc chống Cộng từ bên ngoài so với tình hình mà Cộng sản Đông Âu phải đối đầu.

Trong suốt những năm 1950, 1960, 1970 và 1980, Đông Âu đã bị tấn công tới tấp với chương trình phát sóng chống Cộng sản từ Radio Free Europe,  một hệ thống chống Cộng tư nhân, Voice Of America, và BBC. Tây Berlin , một vùng đất chống Cộng sản nằm sâu trong lãnh thổ Cộng sản, được dùng như một cái loa để phát tán các bài phát biểu chống Cộng sản của Tổng thống John Kennedy và của Tổng thống Ronald Reagan: “Gorbachev (ich bin ein Berliner) hãy phá đổ bức tường này đi”. Lời tuyên bố này đã có một tác động rất lớn trên những người sống phía sau Bức Màn Sắt.

Dân số rất lớn từ Đông Âu (Ba Lan, Hung Gia Lợi, Đức, vv) đã đến sống tại Hoa Kỳ vào lúc này. Sự hiện diện và ảnh hưởng chính trị của họ đã dẫn đến những hoạt động đặc biệt tại Hoa Kỳ như “Tháng hay Tuần lễ “các Quốc gia bị Lệ thuộc” (Captive Nations). Quốc gia bị Lệ thuộc muốn ám chỉ  các quốc gia ở Âu Châu đã bị rơi vào tay Cộng sản và do đó, nằm dưới ngôi mộ hay sự thống trị của Liên Xô. Những sự kiện như thế đã dẫn đến các cuộc mít tinh và biểu tình chính trị để dồn sự chú ý liên lục của nước Mỹ và Quốc tế vào hoàn cảnh của các nước Đông Âu.

Đơn giản là các nước Á Châu nằm dưới sự cai trị cộng sản đã không có được cùng một loại thông cảm và sự quan tâm này. Cộng đồng người Hoa ở Mỹ là một nhóm nhỏ hơn nhiều so với cộng đồng Ba Lan, Đức và Hung Gia Lợi . Những cộng đồng người Mỹ thiểu số thiểu số khác, có gốc từ Đông Âu,  người tị nạn Việt Nam, Campuchia và Hàn Quốc thậm chí còn nhỏ hơn. Sau hết, người Mỹ gốc Hoa và những người Mỹ chống Cộng đã tập trung sự quan tâm của họ vào Đài Loan và củng cố Chính phủ Quốc Dân Đảng ở đó hơn là giải phóng hay là dân chủ hóa Hoa lục.

Cuối cùng, Đông Âu đã là nơi diễn ra cuộc nổi dậy chống Cộng sản đầu tiên, hay cách mạng. Năm 1952, công nhân Đông Đức ở Berlin và các thành phố khác nổi dậy chống lại Chính quyền Cộng sản Đông Đức, một chính phủ áp bức hơn bất cứ ở nơi nào khác. Cuộc nổi dậy của họ đã bị dập tắt với xe tăng Liên Xô và quân đội. Trong năm 1956 và 1957, Hung Gia Lợi tiến hành một cuộc nổi dậy không thành công nhưng anh hùng nhằm lật đổ một chính phủ tàn bạo của chủ nghĩa Stalin, và trong số những đòi hỏi khác, hợp pháp hóa các đảng chính trị không Cộng sản, ủng hộ một nền kinh tế hỗn hợp với một khu vực tư nhân và chủ trương giữ Hung Gia Lợi trung lập trong Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô và các cường quốc phương Tây. Các cuộc nổi dậy của người Hung Gia Lợi đã bị dẹp tan, nhưng chỉ sau khi Liên Xô can thiệp mạnh, làm nhiều người thiệt mạng. Hậu quả của cuộc nổi dậy là có trên 100.000 người Hung Gia Lợi đi tị nạn và họ  đã trở thành một lực lượng chính trị mạnh ghê gớm, hoạt động chống lại chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Âu. Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, trong khi cuộc cách mạng Hung Gia Lợi đang diễn ra, Cộng sản Ba Lan đã thi hành một loạt các cải cách chống lại đường lối chủ nghĩa Cộng sản cứng rắn. Trong số những việc đáng kể, Chính phủ Ba Lan đã chấm dứt việc thành lập các nông trường tập thể ở nông thôn, và cho phép nông dân Ba Lan được giữ đất đai của họ. Chính phủ cũng cho phép dạy giáo lý Công giáo La Mã trong các trường công, và chính phủ cũng cho phép lập một đại học tư nhân duy nhất trên thế giới trong một quốc gia Cộng sản, Đại học Công giáo Lublin.

Ở Á Châu đã hầu như hoàn toàn không có một cuộc nổi loạn chống lại chế độ Cộng sản trên quy mô của những gì đã xảy ra ở Đông Âu. Các cuộc nổi dậy của Tây Tạng vào cuối những năm 1950 là để chống Trung Quốc hơn là chống Cộng sản. Ngoài ra, có một số ổ kháng cự cuối cùng chống lại chế độ Cộng sản ở Tây Nam Trung Quốc, dọc theo biên giới Miến Điện và tại Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ, nhưng không phải là những cuộc nổi loạn mới như cuộc nổi dậy của người Hung Gia Lợi năm 1956. Sau hết, người dân sống trong các nước Cộng sản kiểm soát như Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Triều Tiên, bị cô lập nhiều hơn hoặc bị cắt liên lạc với thế giới phi cộng sản. Hiện không có một Tây Berlin ở Á Châu Cộng sản.

Một yếu tố khác nhấn mạnh sự khác biệt giữa Á Châu và Âu Châu là yếu tố lãnh đạo.

Ngoại trừ ở Nga dưới thời Stalin, Nam Tư dưới Tito, Rumania dưới Ceauşescu và Enhver Hoxha ở Albania, tất cả các nhà lãnh đạo Cộng sản Đông Âu đều là các lãnh tụ vô danh, các sĩ quan quân đội không có gì hấp dẫn hoặc những cán bộ Cộng sản không có sức lôi cuốn. Những lãnh tụ này bị dân chúng mà họ cai trị coi như là những bù nhìn của Liên Xô. Mặt khác, hai nhà lãnh đạo nổi tiếng và có sức lôi cuốn nhất trong nước Cộng sản Ba Lan là Lech Walesa, lãnh đạo Công đoàn Đoàn kết, một phong trào lao động chống Cộng sản, và giáo hoàng John Paul II.

Các nhà lãnh đạo Cộng sản lớn và có sức lôi cuốn ở Đông Âu là Tito tại Nam Tư, Ceauşescu ở Rumania và Albania của Enhver Hoxha là những lãnh tụ đã chống Xô viết và thường xuyên chỉ trích hiệp ước Warsaw. Tito đã chấp nhận một khu vực tư nhân lớn trong nền kinh tế Nam Tư, và ông đã từ chối tham gia hiệp ước Warsaw, thay vào đó, thích đi theo một chính sách trung lập. Ceauşescu thương lượng với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, thách thức lại Liên Xô, và quan trọng nhất, ông tiếp tục công nhận Do Thái sau cuộc chiến tranh sáu ngày năm 1967 khi tất cả các nước Cộng sản Đông Âu khác đã chấm dứt quan hệ với Do Thái và kịch liệt thân khối Á Rập. Cuối cùng, Hoxha đã mạnh mẽ lên án cả Liên Xô và Trung Quốc. Albania rút ra khỏi hiệp ước Warsaw vào đầu thập niên 1960.

Cuối cùng, có thể cho rằng, với ngoại lệ của Lenin, lãnh đạo có uy tín và thực sự mạnh mẽ của Liên Xô là Joseph Stalin, ngẫu nhiên, không phải là người Âu. Stalin đến từ nước Cộng hoà Georgia thuộc Á Châu và vì thực tế này, ông đã cai trị nước Nga giống như một nhà lãnh đạo Cộng sản Á Châu hơn là một người Châu Âu. Chẳng có nhà lãnh đạo Liên Xô nào sau Stalin có có sức lôi cuốn gần như siêu nhiên của ông ta. Nikita Khrushchev, người kế tiếp Stalin, giống như là một chú hề, và các chính sách đối nội và đối ngoại của ông ta đã thất bại thảm thuơng. Leonid Brezhnev, người sau Khrushchev, là một hành chính viên không ai biết mặt, đã vụng về đưa Liên Xô vào một cuộc chiến tranh vô vọng ở Afghanistan . Những người kế vị Brezhnev thậm chí còn kém thành công hơn nữa, trong đó có Mikhail Gorbachev, người đã bất đắc dĩ phải chủ trì sự sụp đổ, “cái chết” của Liên Xô.

Cũng như Liên Xô bắt đầu tan rã, chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ tại Nam Tư sau cái chết của Tito, ở Rumania sau khi hành quyết Ceauşescu, và tại Albania sau cái chết của Hoxha.

Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Cộng sản Âu Châu đã bị phỉ báng và bị khước từ sau cái chết của họ và ảnh hưởng của họ tan biến. Điều này đã đúng ngay cả cho Stalin.

Các nhà lãnh đạo Cộng sản Á Châu đã tạo ra một sự tương phản rõ ràng so với các đối tác Âu Châu của họ.

Điều này cũng áp dụng vào trường hợp Fidel Castro và Che Guevara. Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pol Pot, Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) và Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) đã được tôn thờ như Chúa hoặc Hoàng đế bởi những người theo Cộng sản của họ.

Thậm chí ngày nay, ở Trung Quốc, mặc dù nhiều chính sách của Mao đã thay đổi, Mao đã không bị tấn công. Ở Trung Quốc đã tuyệt đối không có vần đề bài Mao như đã bài Stalin ở Liên Sô. Ngược lại Mao đã và đang là một hoàng đế đầy quyền lực chẳng khác gì Tần Thuỷ Hoàng hay vua Càn Long vậy. Ảnh hưởng của ông còn dài dài sau khi ông chết. Kim Nhật Thành là quốc trưởng chính thức của nhà nước Bắc Triều Tiên, dù ông ta đã chết hai thập kỷ trước đây. Đại sứ nước ngoài phải xuất trình Giấy chứng nhận của họ cho vị lãnh tụ vĩ đại này, không phải cho vị quốc trưởng đương nhiệm của nhà nước là Kim Chính Nhật, “Vị lãnh tụ kính yêu”.

Rồi sau đó có Hồ Chí Minh, một vị hoàng đế đỏ khác, người có quyền lực kéo dài từ cõi chết. Điều khác biệt giữa sự kính sợ và tôn trọng dành cho các nhà lãnh đạo Cộng sản Á Châu trái ngược với  đối tác Âu Châu ít được thần phục hơn có thể giải thích tại sao Cộng sản không thành công ở Châu Âu, nhưng vẫn tiếp tục ở Á Châu.

Cũng cần thiết  phải nói về hai cường quốc Cộng sản Trung Quốc và Nga, và để thảo luận về tác động khác nhau của hai nước này đối các nước láng giềng Cộng sản của họ.

Vị trí của nước Nga :

nằm ở phía Đông của Châu Âu. Trong quá khứ, xét vể phương diện lịch sử, nước này đã từng bị các nước láng giềng tại Âu Châu xem thường và khinh miệt. Ba Lan xâm lấn Nga trong những năm 1600 và chiếm đóng Moscow. Quân đội đế quốc Pháp của Napoleon cũng đã xâm chiếm Nga trong thời gian đầu thế kỷ 18. Cuối cùng, Đức đã xâm chiếm và tàn phá nước Nga hai lần trong cuộc Thế Chiến Thứ Nhất và Thứ Hai.

Nga đã có một ảnh hưởng văn hóa rất hạn chế ở Châu Âu. Bảng chữ cái Cyrillic của Nga không được sử dụng bởi bất kỳ quốc gia Âu Châu nào trước đây là Cộng sản, ngoại trừ Serbia, Macedonia, Montenegro, Bosnia, Ukraine và Belarus. Ngoài ra còn có một khoảng cách tôn giáo lớn giữa Nga và các láng giềng Đông Âu. Các nước vùng Baltic, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Croatia, Slovenia và Đông Đức hoặc theo Cơ Đốc Giáo hệ phái Luther hoặc theo đạo Công giáo La Mã, và họ sử dụng bảng chữ cái Latin. Người Nga theo Chính Thống Giáo phía Đông, một hình thức của Kitô giáo. Các nước Cộng sản Đông Âu theo Chính Thống Giáo Đông Phương có những Giáo Hội Chính Thống quốc gia riêng, khác nhau về một số điểm với Giáo hội Chính thống Nga.

Ngôn ngữ tiếng Nga hoặc các biến thể của nó chỉ được nói ở Nga, Ukraine và Belarus. Tiếng Đức, Lithuania, Estonia, Latvia, Hung Gia Lợi, và Rumani hoàn toàn khác tiếng Nga, và thậm chí cả trong trường hợp của ngôn ngữ Slav khác như Ba Lan, tiếng Serbi-Croatia hoặc Czech, có sự khác biệt đáng kể giữa họ và Nga.

Ngày lễ của Nga, y phục, ẩm thực, thái độ đối với cuộc sống rất khác với các nước Cộng sản Đông Âu, ngoại trừ có thể có ngoại lệ là Ukraine và Belarus . Ngay cả huyền thoại người Nga và văn hóa dân gian cũng khác với các nước Đông Âu khác.

Cuối cùng, hơn một nửa đất đai của Nga thuộc Á Châu (Siberia). Nga đã trở nên Á và ít Âu hơn sau khi Ukraine và Belarus đã trở thành độc lập. Dân số của Nga cũng đang giảm. Chỉ có 140 triệu người sống trong những gì bây giờ là Nga. Âu Châu đã coi Nga là một lãnh thổ biên cương hoang dã, không văn minh, một nửa Á Châu, dã man. Tất cả các điều này có thể không đúng, nhưng người ta tin rằng nhiều người Châu Âu, đặc biệt là những người sống ở Đông Âu nghĩ như vậy (Ba Lan, Hung Gia Lợi, Lithuania, v.v.)

Mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng Cộng sản và không Cộng sản hoàn toàn khác với Nga.

Các nước láng giềng có thể bực bội hoặc thậm chí ghét Trung Quốc, nhưng Trung Quốc không bao giờ bị coi như là man rợ, thiếu văn minh hoặc kém văn hóa. Không giống như Nga, các nước lân cận vừa tôn trọng và cũng vừa sợ Trung Quốc.

Nền văn minh Nga hiện có khoảng 1.500 năm tuổi. Nền văn minh Trung Quốc (lâu đời nhất trên trái đất) thì ít nhất đã 5.000 năm tuổi. Trung Quốc là nước lớn thứ ba trên thế giới, và dân số của nước này là một tỷ năm trăm triệu, lớn hơn so với bất kỳ nước nào khác. Trung Quốc là một nước rất to lớn, hoàn toàn thống trị  bản đồ Đông Á. So với Trung Quốc về địa lý, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam và Lào là những mãnh đất vụn nhỏ, so với anh khổng lồ Trung Quốc. Cuối cùng, người Hoa thiểu số ở Indonesia, Malaysia , Nepal , Ấn Độ và Á Châu khác thường là hang ổ của Chủ nghĩa Mao. Ngược lại, người Nga thiểu số sống ở các nước ngoài nước Nga, thường đa số chống Cộng.

Rất khó lật đổ chế độ Cộng sản ở Lào, Việt Nam hoặc Bắc Triều Tiên khi Trung Quốc vẫn còn là Cộng sản.

Một yếu tố cuối cùng, phải được xem xét khi nói về các đường lối khác nhau đã được thực hiện bởi Cộng Sản Âu Châu so với Cộng sản Á Châu, đó là việc chống chủ nghĩa đế quốc. Tại Cuba, Trung Quốc, Lào, Cộng sản đã có thể lợi dụng sự phẫn uất tự nhiên với  đế quốc Pháp, Anh, Nhật hay Mỹ. Họ có thể đóng vai người yêu nước đấu tranh để đánh đuổi ra khỏi nước nhà cầm quyền nước ngoài đã bị dân chúng chán ghét. Tại Châu Âu, một lần nữa, sự thật là ngược lại. Cộng sản Âu Châu đã chống lại người quốc gia, và chống đế quốc. Nhưng Âu Châu là cái nôi của chủ nghĩa đế quốc. Chống lại chủ nghĩa đế quốc ở Anh, Pháp hoặc Hoà Lan bị coi là không yêu nước và phá hoại. Cộng sản ở Âu Châu hát bài “Quốc Tế Ca” và chủ trương đấu tranh giai cấp toàn bộ với chủ nghĩa tư bản và người Anh, Pháp, Hà Lan và các Đế quốc khác. Điều này đặt Cộng sản Âu Châu vào cuộc xung đột trực tiếp với các dân tộc Anh, Pháp hoặc Đức.

Để kết luận, có thể nói rằng mặc dù có thể mất một khoảng thời gian lâu hơn ở Á Châu hơn là ở Châu Âu, chủ nghĩa Cộng sản ở Á Châu vẫn có thể bị lật đổ hoặc thay thế. Ví dụ, các tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa (Paracel islands) và Trường Sa (Spratly islands) đã đặt người Việt quốc gia và Cộng sản vào một cuộc xung đột trực tiếp với nhau.

  • Khi đô thị hóa phát triển tại Việt Nam và các nước Á Châu khác, và con số nông dân giảm đi, ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản ở Á Châu sẽ suy giảm.
  • Ngoài ra, việc đô thị hóa sẽ làm cho người ta phụ thuộc lớn hơn vào công nghệ và kinh tế toàn cầu. Điều này sẽ tăng cường thêm mối liên hệ với thế giới không Cộng sản và tiếp tục làm suy yếu chủ nghĩa Cộng sản. Với một mức độ giáo dục cao hơn, số lượng trí thức chống Cộng sẽ tăng lên.
  • Cuối cùng, sự bành trướng và mối quan tâm đến tôn giáo lên cao hơn ở khắp các nước Cộng sản Á Châu sẽ tiếp tục làm suy yếu quyền lực của chế độ Cộng sản. Tất cả những yếu tố này cộng với một khu vực tư nhân mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế sẽ dần dần tạo ra một Á Châu dân chủ, không Cộng sản.

Cước chú của người dịch: Quý Ông Phạm Sứ Mạnh ở San Jose, CA, Ông Nguyễn Long Giáp ở Úc, và Ông Trần Ngọc Dụng ở Anaheim, CA, đã đóng góp rất nhiều vào việc sửa chữa bản dịch này. Tuy nhiên, những thiếu sót, hay sai lạc là trách nhiệm của người dịch. Rất cám ơn.

© Tuấn Vũ

© Đàn Chim Việt

RFI –Kỷ niệm 20 năm chủ nghĩa cộng sản sụp đổ

Tháng Năm 10, 2010 Posted by | CỘNG SẢN | Để lại bình luận

TÙ CẢI TẠO : TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LOẠI của CỘNG SẢN VIỆT NAM

TÙ CẢI TẠO : TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LOẠI của CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đỗ Ngọc Uyển
Tháng 10 năm 2008
Sanjose, California

Sau khi chiếm được chính quyền tại Miền Bắc Việt Nam vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã bê nguyên cái mô hình “hoc tập cải tạo” của Mao Trạch Đông từ Trung Cộng vào Miền Bắc Việt Nam. Đây là một kế hoạch nằm trong chính sách giết người có chủ đích, có tính toán dưới cái chiêu bài giả hiệu là “cải tạo” những người chống đối chủ nghĩa xã hội để trở thành công dân của nước xã hội chủ nghĩa. Với kế hoạch “cải tạo giết người” này, Hồ Chí Minh đã giết và thủ tiêu 850,000 người dân Miền Bắc trong những cái gọi là “trại học tập cải tạo.”
Sau ngày 30-4-1975, lũ Việt gian cộng sản cũng tiếp tục kế hoạch giết người này, và chúng đã giết và thủ tiêu 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia trong 150 “trại cải tạo” của chúng trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Học Tập Cải Tạo” Bắt Đầu tại Miền Bắc Việt Nam

Để xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiêu diệt tất cả những thành phần chống đối bằng những kế hoạch khủng bố sắt máu như:

  • Rèn Cán Chỉnh Quân,
  • Cải Tạo Công Thương Nghiệp,
  • Cải Cách Ruộng Đất,

và đàn áp những phong trào

  • Nhân Văn Giai Phẩm,
  • Trăm Hoa Đua Nở…

Số nạn nhân của những vụ khủng bố này không ai biết là bao nhiêu, nhưng có thể ước tính là trên một triệu người, bởi vì

chỉ riêng vụ gọi là Cải Cách Ruộng Đất đã có 700,000 nạn nhân.

Nói chung, cho tới đầu năm 1960 toàn thể xã hội Miền Bắc đã bị “cào bằng,” không còn giai cấp (social class). Các giai cấp trí, phú, địa, hào đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ. Không ai có quyền tư hữu và mọi người đều nghèo khổ, đói rách như nhau. Mỗi năm, mỗi người được phát 2 thước vải thô Nam Định chỉ có thể may được một cái quần hay một cái áo, và hàng tháng được phát 15kg gạo, 200gr đường… Chưa hết, với chủ trương tuyệt diệt những thành phần chống đối, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho cái quốc hội bù nhìn “ban hành” một nghị quyết về “học tập cải tạo.” Đây là một mẻ lưới “vĩ đại” cuối cùng nhằm vét hết những thành phần có thể gây cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của y. Các trại “cải tạo” của Hồ Chí Minh được rập theo đúng khuôn mẫu các trại “lao cải” (laogai hay laojiao) của Mao Trạch Đông. . . Theo lệnh của Hồ, quốc hội cộng sản đã “ban hành” một Nghị Quyết (Resolution) về “học tập cải tạo” mang số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961. Căn cứ vào nghị quyết này, hội đồng chính phủ đã “đẻ” ra cái Thông Tư (General Circular) số 121-CP ngày 8-9-1961 để áp dụng trong toàn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Những nạn nhân bị chi phối bởi cái nghị quyết trên gồm những thành phần sau đây:

  1. Tất cả những gián điệp nguy hiểm, những biệt động; tất cả những quân nhân và viên chức hành chánh của chính quyền quốc gia trước đây.
  2. Tất cả những nhân vật nòng cốt của các tổ chức và đảng phái đối lập.
  3. Tất cả những thành phần ngoan cố thuộc giai cấp bóc lột và những kẻ chống phá cách mạng.
  4. Tất cả những kẻ chống phá cách mạng đã bị tù và hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.

Bốn thành phần trên đây đều có một đặc điểm chung mà cộng sản gọi là “những thành phần ngoan cố, chống phá cách mạng.” (obstinate counter-revolutionary elements).

Thời gian “cải tạo” được ấn định là 3 năm, nhưng sau 3 năm mà chưa “tiến bộ” thì “cải tạo” thêm 3 năm nữa và cứ như thế tiếp tục tăng thêm 3 năm nữa… cho đến khi nào “học tập tốt, cải tạo tốt” thì về, thực tế là vô thời hạn. Ngoài Hồ Chí Minh và những tên đồng đảng ra, không ai biết được số nạn nhân bị đưa đi “cải tạo” là bao nhiêu; nhưng có thể ước tính là nhiều triệu người, căn cứ vào con số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 850,000 người do Tổ Chức Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (The Victims of Communism Memorial Foundation) đưa ra: (…When Ho Chi Minh sent 850,000 Vietnamese to their graves in reeducation camps …)

“Học Tập Cải Tạo” tại Miền Nam Việt Nam

Cộng sản ước tính rằng tại Miền Nam có 1,300,000 người đã tham gia vào chính quyền Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, và mỗi gia đình có 5 người; như vậy là có 6,500,000 người có nợ máu với chúng.

  • Những người nào phục vụ trong quân đội hay trong chính quyền thì phải đi “cải tạo” và
  • những thành phần còn lại trong gia đình thì phải đi những “khu kinh tế mới;”cũng là một cách đưa đi đầy ải tại những vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh. Đây là một kế hoạch “tắm máu trắng” đã được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của của tập đoàn Việt gian cộng sản.

Một tháng sau khi xâm chiếm được Miền Nam, lũ bán nước cộng sản áp dụng Nghị Quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 và Thông Tư số 121-CP ngày 8-9-1961 của chúng để đưa một triệu quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia chống cộng đi “học tập cải tạo,” thưc chất là đưa đi tù để trả thù (revenge). Đây là cung cách hành xử man rợ của thời trung cổ. Và bằng lối hành xử dã man, rừng rú này, cộng sản đã phạm 5 trong số 11 Tội Ác chống Nhân Loại [1] (Crimes against Humanity) theo luật pháp quốc tế được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) như sau:

Tội ác thứ 1 – Tội cầm tù hay tước đoạt tự do thân thể một cách nghiêm trọng,

vi phạm những điều luật căn bản của luật pháp quốc tế (Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law)
Những người bị cộng sản cầm tù (imprisonment) sau ngày 30-4-1975 là những người bị cộng sản trả thù vì lý do chống cộng tức lý do chính trị. Cộng sản không thể mang những người này – công dân của một một quốc gia độc lập đã bị Việt gian cộng sản, tay sai của Quốc Tế 3, xâm chiếm bằng vũ lực (aggression) một cách phi pháp – ra toà án để kết tội. Cộng sản nguỵ biện một cách láo xược rằng những người này là những tội phạm chiến tranh (war criminals) theo điều 3 của đạo luật về tội chống phá cách mạng ban hành ngày 30-9-1967 của chúng (article 3 of the 30 October 1967 law on counter-revolutionary crimes) và rằng nếu mang ra tòa án xét xử thì những người này có thể bị kết án từ 20 năm tù đến chung thân hay tử hình; nhưng vì chính sách “khoan hồng” và sự “chiếu cố” của đảng nên những người này được đưa đi “học tập cải tạo” thay vì đưa ra toà án xét xử. Đây là một sự nguỵ biện trơ trẽn và lếu láo. Luật rừng rú của đảng cộng sản không có một chút gì gọi là công lý của thời đại văn minh mà chỉ là một công cụ man rợ của thời trung cổ để khủng bố người dân Miền Bắc dưới sự thống trị của chúng, và không thể mang ra áp dụng cho công dân của một quốc gia văn minh như VNCH được.
Tóm lại, giam cầm người không chính thức kết án, không xét xử (imprisonment without formal charge or trial) là vi phạm nhân quyền và là Tội Ác chống Loài Người.

Tội ác thứ 2 – Tội tra tấn, hành hạ (Torture)

Đối với cộng sản, các quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hoà và những người quốc gia chống cộng là kẻ thù không đội trời chung của chúng. Do đó, một khi đã sa cơ rơi vào tay chúng là dịp để chúng trả thù bằng tra tấn và hành hạ. Mục đích trả thù của chúng là nhằm tiêu diệt hết khả năng chống cự của cả thể chất lẫn tinh thần của người tù. Sau đây là vài đòn thù tiêu biểu:

a. Hành hạ bằng cách bỏ đói – Đây là một đòn thù thâm độc nhằm tiêu diệt ý chí của người tù về lâu về dài. Người tù bị đói triền miên, không còn nghĩ đến chuyện gì khác ngoài miếng ăn. Quanh năm suốt tháng không một bữa được ăn no; càng ăn càng đói và đói cho tới khi chết. Ngay cả trong giấc ngủ cũng chỉ mơ đến miếng ăn. Bát cơm và miếng thịt là một ước mơ xa vời. Trên nguyên tắc, mỗi người tù được cấp mỗi tháng 12kg gạo. Nhưng thực tế, người tù chỉ được cấp ngô, khoai, sắn, bo bo… tương đương với 12kg gạo mà chúng gọi là “quy ra gạo.” Ngô, khoai, sắn và bo bo mà chúng cho tù ăn là những thứ được cất giữ lâu ngày trong những kho ẩm thấp, bị mục nát, hư hỏng và đầy sâu bọ. Với số lượng và phẩm chất lương thực như thế, tính ra chỉ cung cấp đươc khoảng từ 600 đến 800 calories một ngày, không đủ để sống cầm hơi, lại phải làm công việc khổ sai nặng nhọc cho nên đã có rất nhiều tù nhân chết vì đói, vì suy dinh dưỡng. Sau đây là một ví dụ: vào cuối năm 1978, tại trại 2 thuộc liên trại 1 Hoàng Liên Sơn có một anh bạn tù vì “lao động” nặng nhọc và suy dinh dưỡng đang nằm chờ chết. Anh em bạn tù thấy vậy bèn hỏi xem anh ta có muốn nhắn gì về cho vợ con hay người thân không? Anh bạn tù sắp chết nói rằng anh ta chỉ muốn được ăn no một bữa khoai mì luộc! Nghe vậy, có một anh tù, vì thương bạn, đã mạo hiểm chui qua hàng rào, đào trộm vài củ khoai mì do chính tù trồng, mang về luộc, rồi mang lên cho bạn thì anh bạn đã chết. Thỉnh thoảng tù cũng được cho ăn cơm nhưng lại độn hai phần sắn hay khoai với một phần gạo, và mỗi bữa ăn, mỗi người được phân phát một chén nhỏ với nước muối. Đến mùa “thu hoạch” ngô và khoai mì do tù trồng, anh em tù cũng được cấp phát ngô và khoai mì luộc. Mỗi bữa ăn được phân phát hai cái bắp ngô, chỉ đếm được chừng 1000 hạt, và khoai mì thì được cấp phát hai khúc, mỗi khúc ngắn độ một gang tay. Còn thịt thì chỉ được cấp phát vào những dịp đặc biệt như ngày tết Nguyên Đán, ngày lễ độc lập của chúng, ngày sinh nhật “Bác”của chúng; mỗi phần ăn được khoảng 100gr thịt heo hay thịt trâu.
Bỏ đói tù là một thủ đoạn tra tấn/hành hạ (torture) đê tiện, có tính toán của cộng sản. Ngoài việc huỷ diệt ý chí của người tù, sự bỏ đói còn nhằm huỷ hoại thể chất của người tù để không còn sức đề kháng chống lại bệnh tật. Do đó, đã có rất nhiều anh em mắc những chứng bệnh do suy dinh dưỡng như lao phổi, kiệt sức, phù thũng, kiết lỵ, ghẻ lở…, và có rất nhiều cái chết rất đau lòng chỉ vì đói, vì suy dinh dưỡng, vì thiếu thuốc men và không được chữa trị…

b. Hành hạ thể xác – Cộng sản vẽ ra khẩu hiệu “lao động là vinh quang.” Chúng bắt người tù phải làm công việc khổ sai nặng nhọc như cuồc đất, đào đất, làm đường, đào ao, chặt cây, đốn gỗ, cưa xẻ, làm gạch…Người tù đã thiếu ăn, kiệt sức; chúng lại đặt ra những chỉ tiêu cao để người tù không thể đạt được, và chúng kiếm cớ để hành hạ thể xác:
Cắt tiêu chuẩn lương thực từ 12kg xuống còn 9kg và nhốt vào conex, khoá chặt. Người tù bị nhốt như vậy có khi hàng tháng. Với sức nóng mùa Hè và khí lạnh mùa Đông không thể chịu đựng nổi, người tù bị chết vì sức nóng và chết vì rét.
Cắt tiêu chuẩn lương thực xuống còn 9kg; nhốt trong sà lim; hai chân bị cùm siết chặt đến chảy máu; da thịt bị nhiễm trùng, lở loét; người tù bị nhốt như vậy trong nhiều tháng trời và khi được thả ra chỉ còn da bọc xương, đi không nổi phải bò.
Chúng cột người tù vào một cây cột và bắt người tù phải đứng thẳng hoặc nằm hay ngồi cả tuần lễ có khi lâu hơn.
Chúng trói người tù theo kiểu cánh bướm “butterfly style or contorted position” bằng cách bắt một cánh tay bắt chéo qua vai và cánh tay kia bắt qua sau lưng và cột chặt hai ngón tay cái với nhau.
Chúng cột người tù trong tư thế bị trói như vậy vào một cái cột và bắt đứng trong nhiều tiếng đồng hồ. Người tù chịu không nổi, bị ngất xỉu.
Trên đây chỉ là vài cách hành hạ (torture) thể xác tiêu biểu. Cộng sản còn nhiêu kiểu hành hạ độc ác khác như nhốt người tù vào chuồng cọp hay bỏ xuống những giếng nước khô cạn, bỏ hoang lâu ngày, đầy những ổ rắn rết…

c. Tra tấn tinh thần – Mục đích của cộng sản là làm cho tinh thần người tù luôn luôn bị căng thẳng để gây tổn thương trầm trọng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần (causing serious injury to physical and mental health) bằng hai phương pháp sau đây:

  • Nhồi sọ chính trị (Political indoctrination) – Để mở đầu kế hoạch “cải tạo,” cộng sản bắt người tù phải học 9 bài chính trị. Mỗi bài phải học từ một tuần lễ đến 10 ngày gồm: lên lớp, thảo luận trong tổ, trong đội… Cuối mỗi bài học, người tù phải viết một bản gọi là “thâu hoạch” để nộp cho chúng. Nội dung những bài học gọi là chính trị này chỉ là những bài tuyên truyền rẻ tiền như: Mỹ là tên đầu sỏ đế quốc, là con bạch tuộc có hai vòi: một vòi hút máu nhân dân Mỹ và một vòi hút máu nhân dân nước ngoài. Ta đánh Mỹ cũng là giải phóng cho nhân dân Mỹ thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc Mỹ. Đế quốc Mỹ là con hổ giấy. Mỹ giầu nhưng không mạnh. Ta nghèo nhưng ta mạnh. Dưới sự lãnh đạo của đảng quang vinh, ta đã đánh thắng tên đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân và là tội phạm chiến tranh…Bài học cuối cùng là bài “lao động là vinh quang” để chuẩn bị bắt người tù làm những việc khổ sai nặng nhọc.

Những bài tuyên truyền rẻ tiền và ấu trĩ trên đây chỉ có thể áp dụng cho người dân bị bưng bít và thiếu học ở Miền Bắc đã bị cộng sản u mê hoá chứ không có tác dụng gì đối với những người đã sống dưới chính thể tự do tại Miền Nam. Tuy nhiên, cái không khí khủng bố của trại tù đã làm cho một số anh em hoang mang và căng thẳng tinh thần. Do đó, đã có một số người tự sát và trốn trại. Những người trốn trại chẳng may bị bắt lại đã bị chúng mang ra toà án nhân dân của chúng kết tội và bắn chết ngay tại chỗ. Đây là đòn khủng bố tinh thần phủ đầu của cộng sản theo kiểu “sát nhất nhân, vạn nhân cụ.”

  • Tự phê (Confession) – Tiếp theo phần “học tập chính trị” là phần “tự phê.” Người tù phải viết một bản tiểu sử kể từ khi còn nhỏ cho tới khi vào tù; phải kê khai thành phần giai cấp của dòng họ từ ba đời trước cho đến con cháu sau này; phải kê khai những việc làm trong quá khứ và phải kết tội những việc làm đó là gian ác cũng như phải tự kết tội mình có nợ máu với nhân dân. Người phát thư cũng bị kết tội là đã chuyển thư tín giúp cho bộ máy kìm kẹp của nguỵ quân, nguỵ quyền. Các vị tuyên uý trong quân đội bị kết tội là đã nâng cao tinh thần chiến đấu của nguỵ quân. Các bác sĩ quân y thì bị kết tội là đã chữa trị cho các thương, bệnh binh để mau chóng phục hồi sức chiến đấu của nguỵ quân…Tóm lại, tất cả nguỵ quân, nguỵ quyền đều là những thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân và phải thành khẩn khai báo những tội ác cũng như phải thành khẩn lao động sản xuất để sớm được đảng cứu xét cho về đứng “trong lòng dân tộc.” Trong suốt thòi gian bị tù, người tù phải liên tiếp viết những bản tự phê; phải moi óc tìm và “phịa” ra những “tội ác” để tự gán và kết tội mình, và nếu bản viết lần sau thiếu vài “tội ác” so với bản viết lần trước, anh sẽ bị kết tội là vẫn còn ngoan cố và thời gian học tập sẽ còn lâu dài.

“Tự phê” một đòn tra tấn tinh thần rất ác ôn. Nó làm cho người tù bị căng thẳng tinh thần triền miên kể cả trong giấc ngủ và đã có một số anh em gần như phát điên, la hét, nói năng lảm nhảm và có người đã tự vẫn…

Tội ác thứ 3 – Tội giết người (Murder)

Những anh em trốn trại bị bắt lại đã bị cộng sản mang ra xử tại toà án nhân dân của chúng và bị bắn chết ngay tại chỗ. Đây là tội ác giết người (murder) bởi vì trên danh nghĩa cũng như theo pháp lý thì những người này chỉ là những người đi học tập. Và khi một người đi học tập mà trốn trại học tập là chuyện rất thường tình, không có tội lỗi gì đối với pháp luật. Nhưng đối với bọn vô nhân tính cộng sản thì không thể nói chuyện lý lẽ với chúng được. Vào một ngày cuối năm 1975, tại trại giam Suối Máu, Biên Hoà, chúng mang hai anh sĩ quan cấp uý trốn trại bị bắt lại ra xử tại toà án nhân dân rừng rú của chúng được thiết lập ngay trong trại giam. Trước khi mang ra xử, chúng đã tra tấn hai anh này đến mềm người, rũ rượi, xụi lơ, không còn biết gì nữa. Ngồi trên ghế xử, tên “chánh án” cùng ba tên đồng đảng giết người mặt sắt đen sì, răng đen mã tấu, dép râu, nón cối, ngập ngọng giọng Bắc Kỳ 75 đọc xong “bản án giết người” đã viết sẵn và ngay lập tức chúng mang hai anh ra bắn chết cạnh hai cái hố đã đào sẵn. Buổi trưa hôm đó bầu trời Biên Hoà có nắng đẹp, nhưng khi tiếng súng giết người nổ vang lên, mây đen bỗng kéo đến phủ tối cả bầu trời và đổ xuống những hạt mưa nặng hạt. Tất cả anh em trong trại giam lặng lẽ cúi đầu tiễn đưa hai đồng đội sa cơ, thất thế.
Ngoài cách giết người rừng rú trên đây, cộng sản còn chủ tâm giết người bằng nhiều cách khác như cho ăn đói và bắt làm khổ sai nặng nhọc để chết dần chết mòn; để cho chết bệnh, không cung cấp thuốc men, không chữa trị; bắt làm những việc nguy hiểm chết người như gỡ mìn bằng tay không…

Tôi ác thứ 4 – Tội bắt làm nô lệ (Enslavement)

Người tù phải sản xuất lương thực như trồng sắn, trồng ngô, trồng khoai, trồng rau…để tự nuôi mình; ngoài ra, còn phải sản xuất hàng hoá, sản phẩm để bán ra ngoài thị trường. Tại các trại tù trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn, người tù phải đốn gỗ, cưa xẻ, chặt giang, chặt nứa, chặt vầu… để trại tù mang đi bán. Tai trại tù Hà Sơn Bình có những đội cưa xẻ, đội mộc, đội gạch để sản xuất bàn, ghế, giường, tủ và gạch để bán. Tại trại tù Z30D, Hàm Tân, người tù phải trồng mía, sản xuất đường; mỗi tháng bán hàng tấn đường ra ngoài thị trường… Cộng sản bắt người tù phải làm công việc như người nô lệ thời trung cổ khi phe thắng trận bắt người bên phe thua trận phải làm nô lệ lao động (slave labour) thay vì mang đi giết. Đây là sự vi phạm nhân quyền một cách man rợ của thời trung cổ và là một Tội Ác chống Loài Người.

Tội ác thứ 5 – Tội thủ tiêu mất tích người (Enforced disappearance of persons)

Theo các tài liệu nghiên cứu có giá trị hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu thì số nạn nhân chết trong các “trại cải tạo” là 165,000 người. Hiện nay, ngoài cộng sản ra, không ai biết nơi chôn cất các nạn nhân này. Suốt 33 năm nay, chúng không cho thân nhân cải táng để mang hài cốt về quê quán. Đây là đòn thù vô nhân đạo đối với những nạn nhân đã nằm xuống, và là hành vi độc ác (inhumane act) gây đau khổ tinh thần triền miên, suốt đời cho thân nhân các nạn nhân. Chỉ có một số rất ít, không đáng kể, thân nhân các nạn nhân đã chạy chọt, tìm được cách cải táng người thân của họ; còn tuyệt đại đa số 165,000 người tù chính trị được coi như đã bị thủ tiêu mất tích. Đây là chủ tâm trả thù dã man của cộng sản và là một Tội Ác chống Nhân Loại.
Mới đây nhất, trong cuộc họp với tổng thống George W. Bush tai Bạch Cung ngày 24-6-2008, Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng hứa sẽ tiếp tục tìm kiếm và trao cho Hoa Kỳ hài cốt những quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong cuộc chiến VN. Trong khi đó quân cộng sản giết người đang chôn giấu để thủ tiêu mất tích hài cốt của 165,000 quân, cán, chính VNCH và những người quốc gia đã bị chúng sát hại, sau ngày 30-4-1975, trong 150 “trại tù cải tạo” của chúng trên toàn cõi VN. Điều này chứng tỏ rằng lũ Việt gian cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng hận thù đối với người Việt quốc gia, ngay cả đối với những người đã nằm xuống, trong khi miệng chúng luôn luôn hô hào hoà hợp hoà giải. “Đừng nghe những gì cộng sản nói; hãy nhìn kỹ những gì chúng làm.”

Ngoài 5 tội ác chống loài người kể trên, vào năm 1980, cộng sản đã có kế hoạch đưa gia đình những người tù từ Miền Nam để cùng với những thân nhân của họ đang bị tù tại Miền Bắc đi “định cư” tại những “khu kinh tế mới” ở Miền Bắc mà thí điểm đầu tiên là khu Thanh Phong/Thanh Cầm, một khu rừng thiêng nước độc tại Miền Bắc, nơi đang có những “trại cải tạo.” Ý đồ của âm mưu thâm hiểm này là đưa đi đầy chung thân, khổ sai, biệt xứ để giết dần, giết mòn tất cả những người tù cùng với gia đình họ. Đây là một kế hoạch diệt chủng (genocide) được nghiên cứu và tính toán rất kỹ của tập đoàn Việt gian cộng sản. Nhưng trời bất dung gian, chúng không thực hiện được âm mưu diệt chủng này vì cục diện thế giới thay đổi dẫn đến sự phá sản của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, và chúng đã phải thả những nạn nhân của chúng ra để họ đi định cư tại Hoa Kỳ với tư cách là những người tỵ nạn chính trị (political refugees).

Cái nghị quyết số 49-NQTVQH ngày 20-6-1961 của tên đại Việt gian bán nước Hồ Chí Minh – cho tới ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực – là một dụng cụ đàn áp thâm hiểm nhất để chống lại nhân quyền (the most repressive tool against human rights). Suốt nửa thế kỷ vừa qua, bằng cái nghị quyết phản động này, lũ bán nước cộng sản đã và đang tiếp tục đưa hàng triệu, triệu người Việt Nam đi “học tập cải tạo” mà không qua một thủ tục pháp lý nào cả. Với 5 Tội Ác chống Nhân Loại (Crimes against Humanity) như đã trình bày trên đây, bọn Việt gian cộng sản phải bị mang ra xét xử tại Toà Án Hình Sự Quốc Tế [2] (International Criminal Court).

Số Nạn Nhân Bị Giam Cầm, Số Nạn Nhân Chết và Số “Trại Tù Cải Tạo”

Theo sự ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến “…According to the published academic studies in the United States and Europe…” thì số nạn nhân và số các “trại tù cải tạo” được ước tính như sau:

  • 1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial).
  • 165,000 nạn nhân chết tại các “trại tù cải tạo.”
  • Có ít nhất 150 “trại tù cải tạo” sau khi Sàigòn sụp đổ.

Thời Gian “Cải tao”

Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, và tính trung bình mỗi người phải trải qua 5 trại giam. “…according to the U.S. Department of State, most term ranging from three to 10 years…” Nếu lấy con số trung bình là 7 năm tù cho mỗi người thì số năm tù của một triệu nạn nhân là 7 triệu năm. Đây là một tội ác lịch sử không tiền khoáng hậu của bọn Việt gian cộng sản; vượt xa cả tội ác một ngàn năm của bọn giặc Tầu và một trăm năm bon giặc Tây cộng lại.

Món Nợ của Hoa Kỳ Đối Với Đồng Minh.

Chính phủ Hoa Kỳ công nhận những người bị giam cầm (imprisonment) này là những ngưòi tù chính trị, và đã điều đình với phỉ quyền cộng sản để cho những người này được thả ra để cùng với gia đình đi đinh cư tỵ nạn tại Mỹ ưu tiên theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) đối với những người bị giam cầm từ 3 năm trở lên. “…The U.S. government considers reeducation detainees to be political prisoners. In 1989 the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former AVN soldiers and officials held in reeducation camps and allow them to immigrate to the United States… that gives priority to those who spent at least three years in reeducation…”
Hoa Kỳ coi việc đưa những người tù chính trị này sang định cư tỵ nạn tại Mỹ là để trả một món nợ quốc gia đối với đồng minh trong thời chiến. Những người này đã bị giam cầm vì đã cộng tác mật thiết với Hoa Kỳ trong cuộc chiến. “… Resettling this group will be a step toward closing out this nation’s debt to its Indochina wartime allies. “These people have been detained because of their closed association with us during the war,” said Robert Funseth, the senior deputy assistance secretary of state for refugee affairs who spent most of this decade negotiating their resettlement…”
Phải nói môt cách chính sác rằng những người tù chính trị Việt Nam đi định cư tỵ nạn tại Mỹ theo một chương trình ra đi đặc biệt (a special program) nằm trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (Orderly Departure Program) chứ không phải theo chương trình HO (Humanitarian Operation) tưởng tượng nào cả. Cái gọi là chương trình HO chỉ là sự suy diễn từ các con số thứ tự của các danh sách những người tù chính trị đã được cộng sản trao cho Hoa Kỳ để phỏng vấn đi tỵ nạn tại Mỹ theo thứ tự: H.01, H.02…. H.10, H.11, H.12…
Cộng sản và tay sai có thể lợi dụng cái danh xưng “HO” không Chính không Thực và Lập Lờ này cho những âm mưu đen tối của chúng. Chúng có thể tuyên truyền lếu láo rằng: “Không những đảng đã tha chết cho bọn tội phạm chiến tranh này, mà còn tổ chức cả một “Chiến Dịch Nhân Đạo/HO” để cho đi định cư tại ngoại quốc. Ra đến ngoại quốc đã không biết ơn lại còn đi đấu tranh, biểu tình chống lại đảng…” Sự kiện tù chính trị là một sự kiện có tính chính trị và lịch sử; phải xử dụng Danh cho Chính. Không thể Lộng Giả Thành Chân cái nguỵ danh “HO” để xuyên tạc sự thật lịch.

Học tập cải tạo” là một nguỵ danh để che đậy 5 Tội Ác chống Loài Người (Crimes against Humanity) được dự liệu tại Điều 7 của Đạo Luật Rome (Article 7 of The Rome Statute) của bè lũ Việt gian cộng sản đối với quân, dân, cán, chính VNCH đã bị chúng giam cầm (imprisonment) một cách phi pháp sau ngày 30-4-1975. Đây cũng là một tội ác có tính lịch sử của lũ Việt gian cộng sản. Cái nguỵ danh “tù cải tạo/HO” phải được Chính Danh là: Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Tội Ác chống Loài Người của Hồ Chí Minh và bè lũ cộng sản. Cũng cần phải nói thêm rằng khi dùng cái danh từ “cải tạo” của cộng sản là mắc mưu chúng bởi vì chúng tuyên bố lếu láo rằng vì các anh có “nợ máu” với nhân dân nên các anh phải đi “cải tạo,” và khi tự gọi mình là “tù cải tạo” tức là tự nhận mình có tội. Cũng như khi tự gọi mình là một “HO”- một cái nguỵ danh đã bị lộng giả thành chân để chỉ một người “tù cải tạo” – là tự từ bỏ cái căn cước người tù chính trị của mình. Cho nên, Chính Danh là vấn đề rất quan trọng cả về chính trị và lịch sử. Dùng Nguỵ Danh để che đậy và bóp méo một sự kiện lịch sử là tội đại gian và có tội đối với lịch sử.

Đỗ Ngọc Uyển
Tháng 10 năm 2008
Sanjose, California
—————————————————-

Tài liệu tham khảo:
-http://en.wikipedia.org/wiki/Reeducation_camp
-http://www.ofc.berkeley.edu/~sdenney/Vietnam-Reeducation-Camps-1982
-http://www.victimsofcommunism.org/history_communism.php
-http://untreaty.un.org/cod/icc/STATUTE/99_corr/cstatute.htm (Rome Statute of International Criminal Court)
-http://www.optionaljournal.com/best/?id=110010372″ (The Wall Street Journal, Monday, July 23, 2007 – Best of The Web Today by James Tananto) http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=953D7103DF936A25753C1A96F948260&sec= &spon=…(The New York Times, October 15, 1989
– THE NATION; The Next Wave From Vietnam: A new Disability by Seth Mydans)
– U.S Department of State – Fact sheet – Bureau of Population, Refugee and Migration – Washington DC – January 16, 2004

——————————————–

Chú thích
[1] 11 tội ác chống nhân loại được dự liệu trong Điều 7 của Đạo Luật Rome gồm có: 1- Murder; 2- Extermination ; 3- Enslavement; 4- Deportation or forcible transfer of population; 5- Imprisonment or other severe deprivation of physical liberty in violation of fundamental rules of international law; 6- Torture; 7- Rape, sexual slavery, enforced prostitution, forced pregnancy, enforced sterilization or other form of sexual violence of comparable gravity; 8- Persecution against any identifiable group or collectivity on political, racial, national, ethnic, cultural, religious, gender as defined in paragraph 3, or other grounds that are universally recognized as impermissible under international law in connection with any crime within the jurisdiction of the court; 9- Enforced disappearance of persons; 10- The crime of apartheid; 11- Other inhumane acts of a similar character causing great suffering, or serious injury to body or to mental or physical health;

[2] Toà Án Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court) là toà án độc lập và thường trực được thành lập theo Đạo Luật Rome (The Rome Statute) để điều tra và xét xử 4 loại tội ác sau đây: 1- Crimes against humanity (Tội ác chống nhân loại); 2- The crime of genocide (Tội ác diệt chủng); 3- Crimes of war (Tội ác chiến tranh); 4- Crimes of aggression (tội ác xâm lược).

Tháng Tám 5, 2009 Posted by | Nhà tù CỘNG SẢN | | Để lại bình luận

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.